Thầy Phạm Kế Viêm - Tử Vi - VAN-HOC DALAT

Đại Thi Hào Nguyễn Du Dưới Lăng Kính Tử Vi

Thầy Phạm Kế Viêm



Dòng dõi và Gia Đình

Nguyễn Du ( 1766- 1820 ) tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên sinh buổi sáng ngày 3/1/1766 tính theo Âm Lịch là Giờ Mão ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu tại Phường Bích Câu, Thăng Long. Quê Nội ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một Gia Đình Đại Qúy Tộc nhiều Đời có người làm Quan to ( Công Hầu Khanh Tướng ) đồng thời là Danh Sĩ một Thời - dưới Triều Vua Lê Chúa Trịnh. Cha của Thi Hào là Cụ Nguyễn Nghiễm sinh tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đậu Nhị Giáp Tiến Sĩ làm quan đến chức Đại Tư Đồ ( Tể Tướng ). Mẹ là bà Trần Thị Tần ( 1740-1778 ), con gái thứ 3 của một vị quan nhỏ coi việc sổ sách Kế Toán ( Câu Kế ) dưới trướng Nguyễn Nghiễm, người Xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh ( nay thuộc Xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn ). Bà Trần thị Tần thuộc dòng dõi Trần Phi Chiêu ( 1549-1623 ), ông đậu Tiến sĩ năm Kỷ Sửu 1589 làm quan đến chức Thượng Thư bộ Hộ, kiêm Đô Ngự Sử, tước Diên Quận Công. Bà là 1 phụ nữ nết na, xinh đẹp nổi tiếng, có tài hát xướng, năng khiếu Nghệ Thuật cao, lại sinh ra ở vùng Kinh Bắc – nôi của Vùng Quê Hát Quan Họ nổi danh - điều đó đều ảnh hưởng tốt đến Hồn Thơ Nguyễn Du từ những ngày còn bé !.

Thân Thế và Sự Nghiệp của Nguyễn Nghiễm ( 1708-1776 )

Nguyễn Nghiễm sinh ngày 14 tháng 3 năm Mậu Tý ( 14/4/1708 ) tại làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngư Cư Sĩ. Quê Tổ ở làng Canh Họach, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam ( nay thuộc Hanoi ). Vào đầu Thế Kỷ 17, Tổ 6 đời của ông là Nguyễn Nhiệm ( cháu Nguyễn Thiến đời Nhà Mạc ) lánh nạn đem Gia Đình vào sinh cơ lập Nghiệp ở Tiên Điền !. Năm Giáp Thìn 1724 đời Vua Lê Dụ Tông – Chúa Trịnh Cương đỗ Thi Hương ( Tú Tài ) khi mới 16t. Năm Tân Hợi 1731 đời Lê Duy Phương – Chúa Trịnh Giang, ông đỗ Hòang Giáp ( Nhị giáp Tiến Sĩ ). Ngoài ra anh em Họ ( Nguyễn Huệ, Nguyễn Trương ) cùng đỗ Tiến Sĩ.

Tướng Võ

Lúc đầu vào Triều làm Quan giữ chức Đốc Suất quân Nhung, Hiệp đồng tán nhiệm với các Tướng Võ khác có công lao. Năm Tân Dậu 1741 nhờ phế bỏ Trịnh Giang vì chơi bời làm hỏng Chính Sự, lập Trịnh Doanh nên được thăng làm Tham Chính Sơn Nam, ít lâu sau đổi làm Tế Tửu Quốc Tử Giám. Năm Qúy Hợi 1743 ông được thăng làm Thừa Chi Viện Hàn Lâm, tước Xuân Lĩnh Bá. Ba năm sau nhờ có công lao được thăng làm Hữu Thị Lang Bộ Công, thăng lên tước Hầu và được đặc cách dự chức Bồi Tụng trong Tướng Phủ !. Năm Mậu Thìn 1748 được làm Tuyên Phủ Sứ Tán Lý Quân Vụ, quản cơ Trấn Nội, chức Tam Lĩnh, tước Lệ Quận Công vào Nghệ An dẹp lọan. Thắng Trận trở về ông được thăng làm Thị Lang Bộ Hình. Ít lâu sau, quân nổi dậy ở vùng núi Thanh Hóa lại ra, ông được sai làm Hiệp Đồng đến đánh thành lũy quân địch. Ông đánh đâu thắng đó. Quân nổi dậy bèn đi theo đường tắt đánh vào trị Sở Thanh Hóa, quân Triều Đình thua chạy ; ông lại mang quân về cứu, chiếm lại được Dinh. Đầu năm Canh Ngọ 1750, Triều Đình quy cho ông trách nhiệm để thất thủ Thanh Hóa, nên ông bị giáng làm Đại Học Sĩ Đông Các ( Hạn Kế Đô 43t+Kình Đà ). Cuối năm đó Trịnh Doanh đem quân đi dẹp quân khởi nghĩa của Thủ Lĩnh Tương ở Sơn Tây sai ông làm Tán Lý giữ trách nhiệm hộ giá. Ông cùng tham gia dẹp được quân của Tương, nên được thăng làm Thiêm Đô Ngự Sử. Đầu năm Nhâm Thân 1752, ông được lệnh ra 4 đạo Sơn Tây, Hưng Hóa đánh hòang thân Lê Duy Mật. Thắng trận trở về, ông được khôi phục lại chức cũ ( Vận Thái Tuế ). Sang năm Qúy Dậu 1753 có công trạng, ông lại được thăng làm Phó Đô Ngự Sử, đến cuối năm Trịnh Doanh giao cho ông làm Đốc Lĩnh ở Thanh Hóa để dẹp các lực lượng nổi dậy trong vùng Núi. Năm Ất Hợi 1755 ông được cử làm Hiệp Trấn Nghệ An. Năm Bính Tý 1756 ông được gọi về Triều thăng Vực Quận Công đi dẹp quân nổi dậy ở Kinh Bắc, ông thắng trận !.

Quan Văn

Trước đó giữa năm Giáp Tuất 1754, Triều Đình mở Khoa Thi Hội, Trịnh Doanh đã cử ông làm Tả Giám Thị. Cuối năm Đinh Sửu 1757, ông được thăng làm Tả Thị Lang bộ Hình. Đầu năm Tân Tỵ 1761, Triều Đình xét công lao đánh thắng quân nổi dậy, ông được thăng làm Ngự Sử, rồi Thượng Thư bộ Công vào Phủ làm Tham Tụng ( Tể Tướng ) ; từ đó thôi không giữ việc quân mà phụ trách đội Nghiêm Hữu thuộc Vệ Quan Thị Hậu. Mùa Hạ năm Giáp Thân 1764 ông được thăng hàm Thiếu Phó. Năm Đinh Hợi 1767 Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên thay, thăng ông làm Thái Tử Thái Bảo, tước Xuân Quận Công, Đại Tư Không. Cuối năm Tân Mão 1771 ở lứa tuổi 64t, ông xin về hưu ở làng Tiên Điền, được thăng Đại Tư Đồ. Nhưng tháng 3 năm sau ( 1772 ) Trịnh Sâm lại mời ông ra làm Tể Tướng , rồi Thượng Thư bộ Hộ.

Tham dự Nam Tiến

Năm Giáp Ngọ 1774, trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Đạt được biết Đàng Trong có nội biến do anh em Tây Sơn nổi dậy, bèn viết thư trình báo về Triều, thời cơ có thể đánh chiếm Thuận Hóa. Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm bèn quyết định ra quân sai Quận Việp Hòang Ngũ Phúc làm Đại Tướng và Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả Tướng cùng Bùi Thế Đạt thống lãnh 36000 quân với nhiều Tướng tài như Quận Huy Hòang Đình Bảo, Hòang đình Thể, thêm tùy tướng của Quận Việp là Nguyễn Hữu Chỉnh đi đánh Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Quân Trịnh liên tiếp thắng trận vì nhiều quan lại trong Nam bỏ thành hoặc ra hàng vì chán ghét Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy ! . Ngày Mồng 3 Tết năm Ất Mùi ( 3/2/1775 ) Quận Việp chiếm xong Phú Xuân, giao Bùi Thế Đạt ở lại trấn thủ Phú Xuân còn các tướng trong đó có Nguyễn Nghiễm theo Hòang Ngũ Phúc tiếp tục đuổi theo Chúa Nguyễn vào Qủang Nam. Chúa Nguyễn Định Vương bỏ chạy vào Gia Định. Quân Trịnh tiếp tục giao tranh với quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc và đánh bại Tây Sơn ở Cẩm Sa khiến Nguyễn Nhạc phải xin hàng !. Tuy nhiên sau trận Cẩm Sa từ tháng 7 năm 1775 quân Trịnh bị bệnh Dịch lan tràn bản thân ông và Quận Việp đều nhiễm bệnh nặng. Tiến đến đóng ở Chu Ô thuộc địa đầu của Quảng Ngãi thì dừng lại vì bệnh Dịch càng ngày càng nhiều – tình cảnh rất thê thảm ( hơn 3000 nhiễm bệnh trong đó 600 người chết ). Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Nghiễm đều trở về Bắc dưỡng bệnh !. Tháng 11 âm lịch năm Ất Mùi 1775 Nguyễn Nghiễm về Quê Nhà ở Tiên Điền trong tình trạnh gầy yếu, không lâu ông mất ngày 17 tháng 11 nhuận năm Ất Mùi ( 07/1/1776 ) khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 67t+Kình Đà+Thiên khắc Địa xung.

Tác Phẩm

Ông cùng Ngô Thì Sĩ có làm lời chú và lời bàn trong Bộ Đại Việt Sử Ký bản kí tục biên, ngòai ra, ông còn soạn các tác phẩm sau : Xuân Trung liên vịnh - Xuân Đình tạp vinh- Việt Sử bị lãm- Lạng Sơn đoàn thành đồ chí- Cổ Lễ nhạc chương thi văn tập - Khổng Tử mộng Chu Công.

Gia Đình của Nguyễn Nghiễm

Nguyễn Nghiễm có tất cả 8 người vợ trong đó có 6 bà quê ở Kinh Bắc và 21 người con, trong đó nổi danh nhất ( về Quan Chức và Văn Thi Nghiệp ) có 3 người : Con Trưởng Nguyễn Khản làm đến Tham Tụng Triều Lê - Trịnh. Đương thời 2 bố con đều làm Đại quan cùng Triều, đều được Vua Lê và Chúa Trịnh tín nhiệm trọng dụng với nhiều đặc ân !. Nguyễn Đề cùng mẹ với Nguyễn Du làm quan dưới Triều Tây Sơn giữ chức Tả đồng nghị Trung Thư sảnh, đã từng đi Sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của Vua Càn Long nhà Thanh, xướng họa thơ cùng với các Sứ Thần Triều Tiên. Đại Thi Hào Nguyễn Du là con thứ 7 của ông và bà vợ Ba ( Trần Thị Tần ) , riêng Bà Tần sinh được 4 trai 1 gái ( Nguyễn Trụ, Nguyễn Đề, Nguyễn thị Diên « vợ Vũ Trinh », Nguyễn Du, Nguyễn Ức ).

Thân Thế và Sự Nghiệp của Nguyễn Khản ( 1734-1787)

Sinh ngày mồng 3 tháng 3 năm Giáp Dần ( 16/4/1734 ) tại Tiên Điền ( Hà Tĩnh ) là con Trưởng của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm với Bà Chính Thất Đặng Thị Dương ( bà là con gái thứ 2 của Tri Phủ Đặng Sỹ Vinh, thông minh, xinh đẹp, nết na, lầu thông Kinh Sử, lấy chồng năm 16t ). Năm Qúy Dậu 1753 Nguyễn Khản đỗ đầu Bảng Thi Hương. Nhân có lệ bổ dụng các con quan nên ông nhận được chức Viên Ngoại bộ Lại, sau đó vì có tiếng học giỏi được sung chức Thị Giảng ở Phủ Chúa dạy học cho Thế Tử Trịnh Sâm. Năm Canh Thìn 1760 vào tuổi 27 ông thi đỗ Tiến Sĩ Nho Học. Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên nối ngôi, vì có công dạy Chúa lúc còn là Thế Tử nên ông được thăng chức Đại Học Sĩ kiêm Quốc Tử Giám Tế Tửu. Năm Mậu Tý 1768 ông được kiêm luôn chức Nghiêm Hữu Đội. Với cương vị đó Nguyễn Khản vừa là Quan văn kiêm cả Võ trong Phủ Chúa + hai cha con đều là Đại Quan cùng Triều nên các quan trong Triều Đình hết sức trọng vọng. Năm Mậu Tuất 1778 ( Vận Thái Tuế ) ông được gia thăng Hình Bộ Tả Thị Lang và làm Hiệp Trấn xứ Sơn Tây – Hưng Hóa kiêm chức Thống Lĩnh các Đạo quân dẹp loạn ở ngoài vùng Biên Ải. Chính sự được yên ổn đem lại bình yên cho dân bản xứ làm uy thế của ông ngày càng một lớn, nên được Trịnh Sâm giao nhiều trọng trách của Triều Đình. Ngoài quan hệ Chúa Thượng - Bề Tôi giữa Trịnh Sâm và Nguyễn Khản còn có mối quan hệ bạn bè thân thiết. Ông thường được Chúa ban ân theo Ngự giá đi săn, đi câu, tắm sông, thưởng nguyệt, ngồi cùng mâm với Vợ Chồng Chúa. Mỗi khi Chúa làm thơ đều đọc cho ông nghe để góp ý sửa chữa, nếu thấy ông chưa góp ý sửa chữa thì Chúa coi bài thơ đó chưa hòan chỉnh. Ông là bậc Thầy về thơ Quốc Âm, đã dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm – là Danh Sĩ trong nhóm Cúc Lâm Cư Sĩ ; rất tiếc ngày nay, hầu hết tác phẩm của ông đều bị thất lạc !. Trịnh Sâm rất sủng ái tuyên phi Đặng Thị Huệ - khi Huệ sinh con trai, Trịnh Sâm có ý dành ngôi Thế Tử của Trịnh Khải cho Trịnh Cán !. Được tin Nguyễn Khản âm mưu đảo chính giúp Thế Tử Trịnh Khải ( biến cố năm Canh Tý 1780 ). Việc bại lộ những người chủ mưu đều bị hành hình, riêng ông được Trịnh Sâm tha tội chết !. Năm Nhâm Dần 1782 Trịnh Sâm mất, quân lính nổi dậy rước Trịnh Khải lên Ngôi Chúa, Trịnh Khải cho gọi Nguyễn Khản về Triều phong chức Thượng Thư Bộ Lại, tước Toán Quận Công. Năm sau được phong chức Thiếu Bảo, cùng năm được thăng Nhập Thị Tham Tụng ( Tể Tướng ). Sau 2 năm Trịnh Khải lên ngôi các quân lính cậy thế có công phù lập Trịnh Sâm, nên rất kiêu hãnh kéo nhau vào Phủ Chúa đòi phong chức. Nguyễn Khản cùng dự mưu xin Chúa chém 7 tên cầm đầu nên bị Kiêu Binh đến đốt phá Dinh Thự tại Phường Bích Câu. Nguyễn Khản cùng em Nguyễn Điều trốn lên Sơn Tây gửi mật thư cho Trịnh Khải xin hội binh các Trấn để trừ họa Kiêu Binh, nhưng việc bị tiết lộ, ông cùng Nguyễn Điều xin nghỉ trở về Quê nhà. Trịnh Sâm thường viết thư thăm hỏi và ban thuốc men cùng tiền bạc lại cho phép thu Thuế 2 chiếc Tàu buôn để chi dùng. Năm Đinh Mùi 1787 quân Tây Sơn tiến ra Bắc, ông trở về Kinh Đô tập hợp Triều Thần bàn chuyện chống lại quân Tây Sơn, nhưng việc chưa thành thì ông bị cảm Bệnh và mất tại Thăng Long ( Vận Số đi vào Hạn Thái Âm 53t+Kình Đà sau Hạn Kế Đô 52t vài tháng . Thái Âm chủ về Tim Mạch ).

Thân Thế và Sự Nghiệp của Nguyễn Đề ( 1761-1805 )

Nguyễn Đề tự Tiến Phú, hiệu Tinh Kiên, biệt hiệu Văn Thôn Cư Sĩ là nhà Thơ Việt Nam ở cuối Thế Kỷ 18 - đầu Thế Kỷ 19. Sinh ngày 13 tháng 2 năm Tân Tỵ ( 1761 ) tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con thứ 6 của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần và là anh cùng Mẹ với Thi Hào Nguyễn Du - cả 2 đều hưởng dòng máu Thi Ca của Song Thân từ hồi còn nhỏ !. Nhờ cha làm Tể Tướng nên những năm tháng thiếu thời , ông sống khá yên vui cùng các anh em trong Dinh Thự bề thế ở phường Bích Câu trong Kinh Thành Thăng Long. Năm Mậu Tý 1768 mới 7 tuổi ông đã được Tập Ấm : Hoằng Tín đại Phu, Trung Thành Môn Vệ Úy, Khuê Nhạc Bá. Năm Canh Tý 1780 nhờ thông minh và chăm chỉ, ông đỗ đầu Kỳ khảo Khóa ở Quốc Tử Giám. Năm Qúy Mão 1783 ông đỗ đầu kỳ thi ở huyện Thọ Xương và huyện Đông Ngàn. Tháng 10 cùng năm ông đỗ Giải Nguyên lúc 23 tuổi khoa Thi Hương ở trường thi Phụng Thiên. Năm Bính Ngọ 1786 ông được bổ làm Thị Nội Văn Chức, giữ việc thường trực tại nhà học của con Chúa Trịnh ; rồi kiêm Phó Trí Thị Nội Tả Lại phiên ở Phủ Chúa. Sau nữa ông được thăng Xu Mật Viện sự Đức Phái Hầu. Cùng năm Tây Sơn ra Bắc, ông được giao chức Hiệp Tán Quân Cơ ở đạo quân Sơn Tây. Năm Kỷ Dậu 1789 Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, không theo kịp, ông phải lánh về Quê Mẹ ở Bắc Ninh ( Hạn La Hầu 28t+Kình Đà ). Năm Canh Tuất 1790 ông được nhà Tây Sơn mời ra giúp - từ Hàn Lâm Viện Thị Thư rồi được cử làm Phó Sứ ( do Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu ) đi Sứ đến Yên Kinh triều cống nhà Thanh. Về nước ông được thăng Đông Các Đại Học Sĩ, gia tăng Thái Sử, Thự Tả Thị Lang Nghi Thành Hầu. Năm Giáp Dần 1794 triều Cảnh Thịnh, ông được thăng Tả Phụng Nghi bộ Binh, vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp Tán Nhung Vụ cai quản tinh binh. Năm Ất Mão 1795, ông được cử sang Tàu lần 2 để chúc mừng Vua Càn Long làm Lễ nhường ngôi cho con là Gia Khánh. Tháng 2 năm sau về nước ông được phong chức Tả Đồng Nghị Trung Thư Sảnh. Năm Nhâm Tuất 1802 nhà Tây Sơn sụp đổ, Vua Gia Long lệnh cho ông theo Xe Vua ra Bắc và làm việc tại Bắc Thành dưới quyền quan Tổng Trấn. Năm Ất Sửu 1805 trong lần chịu tang người Thiếp, ông bị một Viên Tri Phủ truy bức nhân có 1 vụ việc tại làng ; rồi vì qúa uất ức, ông đã qua đời khi Vận Số đi vào Hạn Thái Âm 44t+Tam Tai +Kình Đà.

Gia Cảnh 

Ông có 2 người Vợ : Vợ chính thất họ Trịnh không có con. Vợ thứ sinh 3 con trai tên Giai, Lịch và Vĩ.

Tác Phẩm

Ông để lại 2 Tập Thơ chữ Hán : Quế Hiên Giáp Ất tập và Hoa trình tiêu khiển Tập. Có người nhận xét về Ông : Ông làm quan thời Vua Lê Chúa Trịnh ( Cha và Anh cùng là Đại Quan ) ; khi Triều Lê sụp đổ, Ông ra làm quan với Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn với lòng tự nguyện, không mặc cảm, ít vướng bận nghĩa « Trung quân », thậm chí có lúc ông còn chỉ trích những người bảo thủ, lánh Đời. Vì chuyện này ông đã phải hứng chịu không ít lời dèm pha !. Trên 300 bài thơ của ông đều là những bài thơ Vịnh Cảnh, Ngụ Hứng, Cảm Hòai, Thù Tạc… Trong số đó có gần chục Bài Thơ viết cho Em Trai là Tố Như Nguyễn Du. Tuy viết bằng chữ Hán, nhưng thơ của Ông đều có giọng bình dị, ít Triết Lý và được thể hiện bằng thứ Ngôn Ngữ tinh tế mà không cầu kỳ và kiểu cách. Nguyễn Đề là nhà Thơ có tấm lòng nhân nghĩa, vị tha, có tâm hồn sâu lắng và nhiều trăn trở. Ngòi bút của ông bình dị, nhưng có nhiều bài hay, câu hay. Đặc biệt Ông có hàng chục bài thơ viết cho Nguyễn Du với tất cả tình cảm yêu thương của một người anh dành cho một đứa em trai có Số Phận khá vất vả, long đong. Lần Nguyễn Du nuôi chí chống Tây Sơn, việc bị bại lộ bị bắt giam. Nhờ ông thân quen với tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận nên Nguyễn Du được thả. Tuy 2 anh em sống xa cách nhau và mỗi người một số phận ; song họ luôn nhớ nhau, đặc biệt là Tình Cảm của Ông đối với Nguyễn Du ( và ngược lại ) vô cùng sâu sắc. Đây chính là thứ Tình anh Em hiếm thấy trong Lịch sử Văn Học Việt Nam !.

Thân Thế và Sự Nghiệp của Đại Thi Hào Nguyễn Du


Lá số Tử Vi

MỆNH đóng Cung Dậu ( Kim ) với Thái Tuế, Thái Dương, Thiên Lương, Hóa Quyền – Thái Âm, Long Phượng hội chiếu. Tam giác ( Mệnh, Quan, Tài ) được Vòng Thái Tuế ( Danh Vọng và Quyền Thế ) . THÂNThiên Di nằm trong Tam Giác (Di,Phúc Đức, Thê ) ở Thế Tuế Phá, nhưng được Vòng Lộc Tồn ( Lộc Trời cho, dù không giầu cũng hưởng mọi sự may mắn khác, hóa giải mọi bế tắc, rủi ro và tật bệnh ). Cung Huynh Đệ nằm trong Tam Giác ( Huynh Đệ, Điền Trạch, Tật Ách ) được Vòng Tràng Sinh ( hình bóng của 2 Vòng Thái Tuế và Vòng Lộc Tồn kết hợp ). Cung Phụ Mẫu với Sát Phá Tham hội Thiếu Dương, Tứ Đức, Ân Qúy, Văn Tinh + Đào Hồng : Cha lúc nhỏ thông minh học giỏi, lớn lên tài thao lược Văn Võ song toàn ( từ Võ « Sát Phá Tham+Địa Kiếp đắc địa » ra Văn : ở ngôi Tể Tướng 15 năm ) ở vị trí nào cũng có tài ứng biến, sắp đặt gọn ghẽ mọi việc bề bộn ; được cả Vua lẫn Chúa khen là người Nhân Đức và Tài Trí. Với Văn Tinh + Đào Hồng : nổi danh về thơ phú, ca hát cả Cha lẫn Mẹ. Cung Phúc Đức với Cơ Âm Cự Đồng hội Song Lộc, Xương Khúc, Tướng Ấn, Mã Khốc Khách được Vòng Lộc Tồn : dòng Họ Nội Ngoại nhiều Đời Danh Vọng, Giàu có ( Công Hầu Khanh Tướng ) - một Thời Vang Bóng !. Cung Huynh Đệ đóng tại Thân ( Kim hợp Mệnh Thủy ) đưọc Vòng Tràng Sinh với Tử Phủ Vũ Tướng hội Hóa Khoa, Tả Hữu, Khôi Việt, Thai Toạ ( anh em xuất thân từ các Dòng Họ Đại Qúy Tộc, Công Danh «  thành đạt + nổi danh về Văn Thi Nghiệp » điển hình Anh Cả Nguyễn Khản tuổi Giáp Dần 1734 hành Thuỷ và Nguyễn Đề tuổi Tân Tỵ 1761 hành Kim đều hợp với Thủy Mệnh của Nguyễn Du – nên thời trẻ anh em có nhiều gắn bó liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng với Bộ Hung Sát Tinh : Không Kiếp, Kình Đà, Hỏa Tinh cũng gây cho Anh Chị Em nhiều sóng gió trong cuộc Đời - kể cả Đương Số !). Tuổi Ất Dậu với Can Ất đứng vào hàng đầu hàng Can với Thái Tuế tại Mệnh là người thông minh hơn người trong bất cứ Lãnh Vực nào, lúc trẻ cũng vượt trội bạn đồng trang lứa, mẫu người nhiều tham vọng, nặng lòng với Quê Hương, Đất nước, có tình nghĩa với Đồng Bào và bà con Dòng Họ. Nhật Nguyệt + Tứ Linh « Long Phượng Hổ Cái » : sống lý tưởng, có tài về Văn Chương Nghệ Thuật. Mệnh ứng với thời trẻ trước 30t ở Đại Vận ( 2-11t ) khi sinh ra Cha đang làm Tể Tướng nên sống trong giàu sang Phú Qúy, lên 3 tuổi được Tập Ấm ( Hòang Tín Đại Phu, xuất thân Thành Môn Vệ Úy, tước Thu Nhạc Bá ). Với hàm ấy Nguyễn Du đã đứng vào hàng Sĩ Tịch của Triều Đình của Triều Đình Lê - Trịnh, mặc dù chưa phải là một Vị Quan tại chức !. Tướng Mạo khôi ngô, thông minh ( Nhật Nguyệt+Tứ Linh ), lên 6t bắt đầu học chữ Hán, sách vở chỉ xem qua 1 lần là nhớ. Có lần Quận Việp Hòang Ngũ Phúc đến nhà chơi thấy Nguyễn Du có tướng mạo phi thường bèn tặng ông 1 thanh Bảo Kiếm. Dù Mệnh được Vòng Thái Tuế + THÂN cư Thiên Di được Vòng Lộc Tồn nhưng Nhật ( tượng Cha ), Nguyệt ( tượng Mẹ ) gặp Hóa Kỵ, Phục Binh, THÂN ( ứng với thời gian từ Trung Vân đến Hậu Vận ) nằm ở Vòng Tuế Phá ( gặp nhiều ngang trái, bất mãn, có tinh thần cách mạng, nhưng nhờ Lộc Tồn +Mã Khốc Khách « Nghị Lực cao » đã vượt qua nhiều Sóng Gió của Cuộc Đời ). Từ năm Ất Mùi 1775 khi đi vào Hạn La Hầu 10t+Triệt, Ông đã chịu nhiều mất mát : anh trai Nguyễn Trụ cùng Mẹ tuổi Đinh Sửu 1757 qua đời vào Hạn La Hầu 19t+Kình Đà, cũng vào cuối năm đó Cha đau bệnh mất vào Hạn Thái Bạch 67t+Kình Đà. Hai năm sau Mẹ tuổi Canh Thân 1740 mất năm Mậu Tuất 1778 vào lúc Vận Số của Ông đi vào Năm Tuổi 13t+Hạn Thái Bạch+Kình Đà ( nên nhớ Mệnh của ông ở Dậu với Mệnh của Phụ Mẫu ở Tuất : Dậu và Tuất ở Thế Nhị Phá và Thế Hỏa khắc Thế Kim + Cha Mệnh Hỏa, con Mệnh Thủy ). Mồ côi cả Cha lẫn Mẹ cuộc sống trở nên khó khăn vào Thời Điểm này nằm trong Đại Vận ( 12t-21t ) tại Cung Huynh Đệ, ông phải về sống với Anh Cả Nguyễn Khản, người Anh cùng Cha khác Mẹ hơn Ông 31t rất tài hoa, làm Quan to tại Triều được Chúa ưu đãi. Đời sống của người Anh Cả đã có ảnh hưởng nhiều đến ông trên đường Sự Nghiệp !. Năm Canh Tý 1780 Nguyễn Khản đang làm Trấn Thủ Sơn Tây bị khép vào tội mưu lọan trong Vụ án năm Canh Tý ( phò Thế Tử Trịnh Khải âm mưu phế bỏ Trịnh Cán ) bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận Công. Lúc này Nguyễn Du được người bạn thân của Anh Cả là Đoàn Nguyễn Tuấn ( là Anh Vợ sau này) đón về Sơn Nam Hạ (Nam Định) nuôi ăn học. Năm Nhâm Dần 1782 Trịnh Sâm mất, Kiêu Binh phế Trịnh Cán tôn Trịnh Khải lên ngôi Chúa. Nghĩ tình Thầy Trò, Trịnh Khải đón Nguyễn Khản về Triều với chức Thượng Thư Bộ Lại còn Nguyễn Điều làm Trấn Thủ Sơn Tây. Năm Qúy Mão 1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam đậu Tam Trường ( Tú Tài ) vào năm 18t. Cũng trong năm này Nguyễn Đề ( anh cùng Mẹ tuổi Tân Tỵ 1761 ) đỗ Giải Nguyên khoa Thi Hương ở Điện Phụng Thiên và Anh Cả Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo cuối năm thăng chức Tham Tụng ( Tể Tướng ). Sau sự kiện Kiêu Binh đốt cháy Dinh Thự của Anh Cả ở Phường Bích Câu ( Thăng Long ). Hòan cảnh khó khăn nên Anh Cả đành xin cho ông làm chức Chánh Phủ Hiệu tỉnh Thái Nguyên năm Bính Ngọ 1786 – đó là năm đầu của Đại Vận ( 22t-31t ) tại Cung Thê gặp Tuần+Triệt. Tiểu Vận năm Bính Ngọ 1786 đi vào Vận Đào Hồng Hỉ, Ông lập gia đình với bà Đoàn Thị Huệ, con gái Tiến Sĩ Đòan Nguyễn Thục đang làm Ngự Sử tại Triều, người xã An Hải, huyện Quỳnh Côi, Trấn Sơn Nam ( nay là tỉnh Thái Bình ). Năm Đinh Mùi 1787, Tây Sơn tiến quân ra Bắc, Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, Nguyễn Khản trở về Kinh Đô tập hợp Triều Thần bàn chuyện chống Tây Sơn, nhưng việc chưa thành thì ông bị bệnh mất tại Thăng Long. Nguyễn Du theo Vua không kịp, phải chạy trốn về Quê Vợ ở nhờ nhà anh vợ Đòan Nguyễn Tuấn tại Thái Bình ( Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 22t+Kình Đà +Vận Triệt ). Đại Vận ( 22t-31t ) tại Cung Thê nằm trong Tam Giác ( THÂN cư Di, Thê, Phúc ) tuy gặp Vòng Lộc Tồn, nhưng ở Thế Tuế Phá, Ông có tập hợp Hào Mục để tính chuyện Phục Quốc, nhưng chí không thành !. Mười năm lưu lạc ăn nhờ ở đậu Quê Vợ là những năm tháng cô đơn cùng cực của Ông, đói không cơm ăn, rét không có áo mặc. Ông gọi quãng Thời Gian này là Mười năm gió bụi « Thập tải Phong Trần  ». Hàng ngày Ông làm thơ than thở cho cảnh ngộ của mình, chưa làm nên danh vọng gì mà đã rơi vào cảnh cùng khổ !. Thời gian này nhà Vợ, bố vợ và anh vợ đều mất, ông đành trở về Quê Cha đất Tổ ở Tiên Điền. Trở lại Quê nhà, thấy nhà cửa tan hoang, anh em lưu lạc khắp nơi, Ông đã phải thốt lên «  Hồng Lĩnh vô Gia, Huynh Đệ tán ». Tuy vậy ở Tiên Điền vẫn còn bà con thân thuộc – nên Ông được bà con chia cho mảnh đất ở thôn Thuận Mỹ làm nhà ở. Do được sinh ra và sống trong nhung lụa của một Gia Đình Đại Qúy Tộc nên về Quê, Ông chẳng biết làm gì ngoài đống sách vở Thánh Hiền !. Đêm nằm nghe tiếng gió Bắc thổi qua liếp cửa, tiếng chuột rúc chạy trên đống sách khiến tâm trạng lại càng thêm buồn tủi. Để khuây khỏa Ông thường cùng trai làng Tiên Điền lên núi Hồng Lĩnh săn hươu nai hay xuống sông Lam bắt cá. Năm Kỷ Dậu 1789 Vua Quang Trung đại phá quân Thanh, Đòan Nguyễn Tuấn ra hợp tác với nhà Tây Sơn giữ chức Thị Lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở Quê Vợ ( Quỳnh Côi, Thái Bình ). Tháng 10 năm Tân Hợi ( 1791), Nguyễn Quýnh, người anh thứ 4 cùng cha khác mẹ của Ông do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, Dinh Cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền, Hà Tĩnh bị phá hủy !. Năm Qúy Sửu 1793 Ông về thăm Quê ở Tiên Điền, cuối năm Ông vào Kinh thăm anh ruột Nguyễn Đề đang làm Thái Sử ở Viện Cơ Mật và anh rể Đòan Nguyễn Tuấn. Mùa Đông năm Bính Thìn ( 1796 ), ở năm đầu của Đại Vận ( 32t-41t ) tại Cung Tử Tức gặp Tuần +Triệt, Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo Chúa Nguyễn Ánh, nhưng bị Quận Công Nguyễn Thận bắt giam 3 tháng ở Nghệ An, may nhờ anh ruột Nguyễn Đề quen với Thận nên được tha ( Hạn Thái Bạch 31t+Kình Đà ). Trong thời gian ở Tù, Ông có làm bài Thơ My trung mạn hứng « Cảm hứng trong Tù ».

Thời Kỳ tham chính

Đại Vận ( 32t-41t ) nằm trong Thế Thiếu Dương +Sát Phá Tham+Đào Hồng Hỉ + Tuần Triệt : 10 năm nhiều sóng gió, sau bế tắc, nhờ Triệt tháo gỡ, vào các năm cuối của Đại Vận, cuộc đời đã đi vào trang Sử mới. Năm Nhâm Tuất 1802 Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn ; khi ra Bắc Hà có xuống chiếu mời các Quan Chức cũ của nhà Lê phải ra yết kiến. Nguyễn Du được truyền lệnh theo xa giá ra Bắc Thành và được làm quan. Tháng 8 cùng năm được bổ làm Tri Huyện Phù Dung ( thuộc Khóai Châu, Sơn Nam ). Tháng 11 được thăng Tri Phủ Thường Tín. Mùa Đông năm Qúy Hợi 1803 để tiếp Sứ Thần nhà Thanh sang phong sắc cho Vua Gia Long, Ông được cử cùng các Tri Phủ Thượng Hồng là Lý Trần Chuyên ; Tri Phủ Thiên Trường là Ngô Nguyễn Viên ; Tri Phủ Tiên Hưng là Trần Lân ra Cửa Nam Quan nghênh tiếp Sứ Thần. Mùa Thu năm Giáp Tý 1804 lấy cớ bị bệnh ( Hạn Thái Bạch 40t+Tam Tai+Kình Đà ) Ông xin từ chức về Quê. Con đường Hoạn Lộ với nhà Nguyễn đang hanh thông, nhưng ông vẫn thấy không mặn mà với Triều Đại này !. Về Quê chưa được bao lâu thì Vua Gia Long có chỉ triệu vào Kinh Đô. Mùa Xuân năm Ất Sửu 1805, Tiểu Vận vào Quan Lộc (+Hạn Thái Dương 41t+Tướng Ấn, Song Lộc, Mã Khốc Khách ) được thăng Đông Các Đại Học Sĩ, tước Du Đức Hầu. Đây là ân sủng lớn mà Triều Đình dành riêng cho Ông ; vì Ông chỉ đỗ Tam Trường ( Tú Tài ) mà thời đó phải đỗ Hương Cống ( Cử Nhân ) thì mới được bổ làm quan. Sở dĩ Triều Đình đặc cách phong cho Ông vì thấy Ông là người có tài ; hơn nữa Ông lại xuất thân trong 1 Đại Gia Đình Khoa Bảng lỗi lạc một thời gian dài là Giường Cột của Triều Lê. Hơn nữa với mục đích trọng dụng những người như Ông có thể thu phục được nhâm tâm của Sĩ Phu Bắc Hà khi còn luyến tiếc Triều Lê!. Tuy làm quan to với nhà Nguyễn, nhưng Ông chẳng lấy thế làm vui, mà lại thêm buồn vì thời thế đã đổi thay, lại thương cho Số Phận của mình. Những đêm mưa rả rích ở Xứ Huế, một mình nhìn về Phiá Bắc Đèo Ngang, lòng càng thêm đau sót. Nhà nghèo lại đông con, phải chịu cảnh đói rách ( Thập khẩu đề cơ Hòanh Lĩnh bắc « Mười miệng đói đang kêu ở Đèo Ngang » ). Năm Đinh Mão ( 1807 ), năm đầu của Đại Vận ( 42t-51t ) tại Cung Tài Bạch tuy là Đại Vận Thái Tuế +Tứ Linh, nhưng Nhật Nguyệt gặp Hóa Kị, Phục Binh+THÂN Tuế Phá : 10 năm được vài năm đầu ưng ý, thỏa mãn với vài ước vọng thủa thiếu thời, nhưng nhìn cảnh Quan Trường còn đầy rẫy kẻ xu thời trục lợi chỉ thích vơ vét cho đầy túi tham, hơn nữa lòng còn vọng tưởng Cố Quốc một thời Danh Vọng của Đại Gia Đình. Ông càng cám cảnh cho thân phận cá chậu chim lồng của mình !. Tháng 9 năm Đinh Mão ( 1807 ) được bổ làm Giám Khảo trường Thi Hương ở Hải Dương. Xong việc Ông xin về Quê được Vua chấp thuận. Đến mùa Hạ năm Kỷ Tỵ ( 1809 ) Vua lại có chỉ bổ Ông giữ chức Cai Bạ tỉnh Qủang Bình. Trong 4 năm giữ chức Cai Bạ mọi việc trong Hạt như : lính tráng, dân sự, kiện thưa, tiền nong, lương thực và các hạng Thuế, Ông đều bàn bạc thương thuyết với các quan lưu thư ký mục để thi hành. Chính sự giản dị không cần tiếng tăm nên được Sĩ Phu và nhân dân yêu mến. Tháng 9 năm Nhâm Thân ( 1812 ) Ông xin tạm nghỉ 2 tháng về Quê xây mộ cho anh Nguyễn Đề. Tháng 2 năm Qúy Dậu ( 1813 ) có chỉ triệu về Kinh thăng hàm Cần Chánh Đại Học Sĩ ( Vận Thái Tuế ), sau đó được cử đi Sứ Trung Quốc với tư cách Tuế Cống Chánh Sứ cùng 2 Phó Sứ giúp việc là Thiêm Sự Bộ Lại Trần văn Đại và Nguyễn văn Phong. Trong dịp đi Sứ sang Tàu, có dịp trở lại Thăng Long ; bạn bè mở tiệc tiễn đưa ở Dinh Tuyên Phủ có gọi mấy chục Nữ Nhạc đến giúp vui. Trong đám Nữ Nhạc, Ông có nhận ra 1 người mà 20 năm trước, khi Ông từ Thái Bình lên thăm anh là Nguyễn Đề đã hát cho quân Tây Sơn nghe. Nhìn dung nhan tiều tụy, chạnh lòng nghĩ đến Thế Sự đổi thay, Ông buồn bã thốt lên : « Than ôi ! Sao người ấy lại đến nỗi này. Tôi bồi hồi không yên, ngẩng lên, cúi xuống ngậm ngùi cho cảnh xưa nay ». Lòng cảm thương vô hạn, Ông đã gửi vào bài thơ Long Thành cẩm giả ca. Trong thời gian đi Sứ, ngoài sứ mệnh bang giao, mỗi khi qua đền chùa, các Danh Lam Thắng Cảnh nổi tiếng của Trung Quốc, Ông thường ghé thăm và làm thơ. Ông ca ngợi Hạng Võ, Văn Thiên Trường, Tỷ Can…qua sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trầm mình, Ông làm bài thơ Phản Chiêu Hồn khuyên Khuất Nguyên đừng trở về Dương Gian xấu xa, đầy tội ác. Qua tượng vợ chồng Tần Cối, Ông chê trách Tần Cối nghe vợ giết Trung Thần làm Hán gian cho ngoại bang. Đến thăm đền thờ Tiểu Thanh ở Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, người con gái tài sắc vẹn toàn, nhưng bạc mệnh, Ông làm thơ khóc Tiểu Thanh, ngậm ngùi nghĩ đến thân phận Mình « Bất tri tam bách dư niên hậu – Thiên Hạ hà nhân khấp Tố Như  ». Tháng 4 năm Giáp Tuất ( 1814 ) trở về nước, Ông có làm tập thơ Bắc hành tạp lục. Mùa Hạ năm Ất Hợi ( 1815 ) Ông được phong chức Hữu Tam Tri bộ Lễ tước Du Đức Hầu. Năm Kỷ Mão 1819 Ông được cử làm Đề Điệu trường Thi Quảng Nam, Ông dâng biểu xin nghỉ được nhà Vua chuẩn y. Thời Điểm này là năm đầu của Đại Vận ( 52t-61t ) tại Cung Tật Ách ở Thìn ( Thổ khắc Mệnh ) có Kình Dương ( Kim ) rất độc với Can Ất ( Mộc ), lại Nhị Hợp với Mệnh ( Nhật Nguyệt gặp Hỏa Linh, Hóa Kỵ : Tinh Thần mệt mỏi luôn luôn lo lắng đến sức khỏe ). Năm Canh Thìn 1820 Vua Gia Long băng hà, Minh Mệnh lên ngôi, có lệnh sai Ông đi làm Chánh Sứ sang Tàu cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì Ông mất vì bệnh Dịch Tả ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn ( 16/9/1820 ) tại Kinh Thành Huế khi Tiểu Vận vào Tật Ách gặp Kình, Vận Số đi vào Hạn La Hầu 55t+Kình Đà, Không Kiếp. Bệnh Dịch Tả này là trận Dịch lớn xuất phát từ Xiêm La, Chân Lạp rồi lây sang nước ta, phát sinh từ các tỉnh Hà Tiên, Định Tường rồi lan ra Bắc, người chết không biết bao nhiêu mà kể, cả thành thị lẫn thôn quê đều náo loạn !. Hiện nay Nhà Thờ của Đại Thi Hào Nguyễn Du ở Tiên Điền có gắn 4 chữ ( Địa Linh Nhân Kiệt ) và Nhà Lưu Niệm trong đó có Tượng Đài của Ông được xây tại tỉnh Hà Tĩnh.

Tác Phẩm

Chữ Hán

Thanh Hiên Thi tập gồm 78 bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan Triều Nguyễn. Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài ngâm nga lặt vặt lúc làm quan ở Huế, Quảng Bình và các địa phương phía Nam Hà Tĩnh. Bắc Hành tạp lục gồm 131 bài Thơ ghi chép các sự kiện khi đi Sứ sang Tàu.

Chữ Nôm

Đoạn Trường Tân Thanh ( truyện KIỀU ) gồm 3254 câu Thơ theo thể Lục Bát viết bằng chữ Nôm có nội dung dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân ( người Tàu ) xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thúy Kiều, nhân vật chính- một cô gái có Tài Sắc nhưng Hồng nhan bạc phận. Văn Chiêu Hồn : Văn Tế 10 loại chúng sinh theo thể Thơ Song Thất Lục Bát. Thác lời Trai phường Nón : 48 câu Thơ thể Lục Bát với nội dung thay lời anh con Trai Phường Nón làm thơ tỏ tình với Cô Gái phường Vải. Độc Tiểu Thanh ký viết về nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn của Trung Quốc, 16t bị gả làm vợ lẽ của nhân vật thuộc nhà quyền qúy. Vì Vợ Cả hay ghen nên đuổi nàng ra sống một mình ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ, không bao lâu bị bệnh chết ở tuổi 18t. Trước khi chết, nàng có để lại nhiều bài Thơ và Họa, nhưng hầu hết bị người vợ cả đốt !. Bài thơ viết theo thể Thất ngôn Bát cú Đường Luật. Văn Tế sống Trường Lưu nhị Nữ : gồm 98 câu viết theo lối Văn Tế để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với 2 cô gái Phường Vải. Sáng tác của Nguyễn Du không nhiều về số lượng, nhưng có Vị Trí đặc biệt quan trọng trong Di Sản Văn Hóa Dân Tộc. Từ Kiệt Tác Truyện KIỀU đã nảy sinh biết bao những hình thức Sáng Tạo Văn Học và Văn Hóa khác nhau : thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh ; rồi vô số dạng thức của Nghệ Thuật Dân Gian : đố Kiều, giảng Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều… Đặc biệt là số lượng rất lớn những bài Bình Luận, những Công Trình Phê bình ( từ xưa đến nay ), kể cả Nghiên Cứu. Dưới mắt người ở nước ngoài : Nguyễn Du là Nhà Thơ lớn của Thế Giới lúc bấy giờ, họ coi Ông là Vị Thánh của nền Thi Ca Việt Nam. Họ qúy trọng Ông vì đã đóng góp công vào nền Thi Ca Thế giới. Ông là nhân vật kiệt xuất của thơ ca Việt Nam. Năm 1965 Ông được Hội Đồng Hòa Bình Thế Giới của UNESCO công nhận là Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới và quyết định Kỷ Niệm trọng thể nhân dịp Kỷ Niệm 200 năm, năm sinh của Ông.

Paris Mùa Xuân năm Mậu Tuất 2018 Phạm Kế Viêm

Về đầu trang


Tản Mạn Về Tử Vi Và Phong Thủy I

Thầy Phạm Kế Viêm


Bài 1 Tử Vi và Ðời Sống Thường Hằng

Tôi đến với Bộ môn Tử Vi từ thủa 16 tuổi, khi còn là học sinh Trung Học Nguyễn Trãi tại Hanoi (1952). Người giúp Tôi làm quen với Bộ môn này là một Ông Ðồ Nho thất thời, do Ông Cụ tôi nhờ đến làm Lá Số Tử Vi và giải đoán cho toàn bộ Gia Ðình. Ông ta thông thạo  cả Nho, Nôm lần chữ Quốc Ngữ, viết Lá Số bằng Quốc Ngữ, bấm lá số trên bàn tay rồi viết ra giấy trên một cuốn sách.

Mỗi lúc rảnh rỗi, sau khi học bài xong, tôi thươøng ghé mắt  nhìn, các Danh từ Tử Phủ Vũ Tướng ( viết tắt bởi Bộ 4 : Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc và Thiên Tướng), Sát Phá Tham ( viết tắt bởi Bộ 3 : Thất Sát, Phá Quân và Tham Lang), Ðào Hồng Hỉ, Không Kiếp, Kình Ðaø, Linh Hỏa, hung sát tinh đắc địa, trung tinh đắc cách được Ông nhắc tới nhiều lần sau mỗi Lá Số. Lúc đó Tôi rất phục Ông có trí nhớ phi thường lấy lá số Tử Vi không cần một Tư Liệu nào trước mặt.

Hồi đó sách viết về Tử Vi hầu như không có, hay có rất ít mà thiếu phổ biến ; sau này khi đất nước chia đôi vào Miền Nam đến năm 1956 mới có bộ sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Ðằng Thái Thứ Lang viết rất kỹ từ Ðịnh Nghiã về Tính Chất các Bộ Sao, phép Lập thành Lá số Tử Vi và phương pháp luận đóan đã làm nền tảng cho bộ sách Tử Vi Hàm Số và Tử Vi Tổng Hợp của Nguyễn Phát Lộc sau đó ( 1972). Ngoài ra, cuốn Tử Vi Áo Bí của Việt Viêm Tử chỉ là sách dạy cách lấy lá số bằng cách bấm đốt ngón tay theo lối của các Ông Ðồ Nho rất rườm rà, nếu dùng Toán Học chỉ cần một Công Thức nhỏ dùng Phép Ðối Xứng qua các Trục trên Thiên Bàn để An Sao nhanh hơn không cần phải dùng nhiều trang với hình vẽ lớn của Bàn Tay chiếm hết một trang giấy cùng những Bài Thơ dài dòng ( nhưng cũng dễ nhớ).

Dù trước đó cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Ðỗ vẫn Lưu phát hành từ lâu ( 1934) ít phổ biến rộng rãi. Bộ Tử Vi của Kiến Trúc Sư Nguyễn Mạnh Bảo nặng về từ chương dịch nguyên văn từ sách Tàu không có gì phát kiến mới, phải đợi đến lúc Cụ Thiên Lương cho ra đời cuốn Tử Vi Nghiệm Lý ( 1974) với nhiều Phát Kiến mới lạ kiểm chứng trên nhiều Lá Số của các Danh Nhân.

Thập Niên 70, phong trào Tử Vi nở rộ, nhiều thành phần tham dự có cả 1 Tuần Báo KHOA HỌC HUYỀN BÍ đăng tải nhiều phát kiến và quan niệm mới về các Bộ Sao, những Kinh Nghiệm Riêng của nhiều người trong Qúa Trình nghiên cứu Tử Vi, nổi bật nhất là những Bài của cụ Thiên Lương và những người theo học Phái Thiên Lương ( trong đó có cả những người con trai của Cụ).

Sau khi đi Tù Cộng Sản về năm 1978, Tôi có hân hạnh được Cụ Thiên Lương tiếp kiến nhiều lần, có cho xem những Bài Nghiên Cứu Kinh Nghiệm riêng về Tử Vi, sau này gửi qua Mỹ cho người con Hồng Ðức, vượt biên in lại thành cuốn Tưû Vi Toàn Thư ( 1984). Ðối với Tôi những Phát Kiến của học Phái Thiên Lương có nhiều mới lạ giúp ích rất nhiều cho những người nghiên cứu bộ môn này. Dĩ nhiên trong thời gian nói trên còn có vô số các Tác giả khác, và sau 1975 tại Hải Ngoại cũng có rất nhiều. Thậm chí có quyển còn thay đổi Vị Trí các Cung trên Thiên Bàn. Ðôi khi cách cấu tạo Nạp Âm của naêm Âm Lịch của các sách cũng khác nhau về Ngũ Hành.

Thí dụ năm Dương Lịch 1964 ( từ ngày 13-2 -1964 đến hết ngày 1-2-1965 ) được gọi theo Âm Lịch là năm Giáp Thìn, người Trung Hoa gọi là Năm Rồng Lửa vì Giáp Thìn do Can Giáp ( mộc) ghép với Chi Thìn ( thổ) nạp âm laø Phú Đăng Hỏa ( Lửa Cây đèn). Thìn tượng trưng cho con Rồng, Hỏa là lửa, màu đỏ nên gọi là Rồng Lửa hay Xích Long. Phái theo Tây Tạng lấy hành của năm sinh theo hành Can Giáp ( mộc) nên gọi là Rồng Gỗ hay Thanh Long ( vì Mộc là gỗ cây, thuộc màu Xanh). Nhưng đối với năm Canh Thìn 2000 nạp âm Bạch Lạp Kim ( Vàng chân đèn) thì người Trung Hoa và người Tây Tạng cùng gọi là Rồng Trắng ( Bạch Long) vì Can Canh và Nạp Âm đều thuộc Kim, kim loại gồm vàng, bạch kim vv… màu trắng được tượng trưng cho hành Kim ( riêng màu Vàng : Hòang Long được tượng trưng cho năm Bính Thìn có hành thổ). Những người tuổi Giáp Thìn gặp năm Nhâm Tuất ( Đại Hải Thủy= nước trong Biển lớn) đối với người Tàu thì Nhâm Tuất thuộc Thủy, Giáp Thìn thuộc Hỏa vì Thủy khắc nhập Hỏa nên rất xấu ( Tuất xung Thìn), nhưng đối với người Tây Tạng thì Nhâm thuộc Thủy sinh nhập cho Can Giáp ( mộc) lại cho là rất tốt. Mức độ tốt hay xấu còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác, tùy từng người cần phải kiểm chứng lại. Riêng Tôi theo nhiều lần kiểm chứng , cách của người Tàu đúng hơn với ví dụ trên, tuổi GiápThìn gặp năm Nhâm Tuất có khắc kị nhưng chỉ xảy ra vào giữa và cuối năm ; người Tây Tạng có phần đúng ở đầu năm. Xem giờ tốt hay xấu người Tàu nhiều khi chỉ dùng sinh khắc ở hàng Can như người Tây Tạng. Như tuổi Giáp Thìn gặp giờ Nhâm Tuất lại không xấu lắm, cách này được dùng trong thời gian ngắn như Bói Dịch, Nhâm Ðộn.

Xác Suất và Thống Kê

Khi gieo một con xúc sắc để có « mặt Lục=số 6 » xảy ra, toán học nói rằng « độ xác suất = chính xác có một phần » của Biến cố này là 1/6 có nghiã là khi ta gieo 6 lần thì có hy vọng 1 lần xảy ra, nhưng thực tế có khi ta gieo 6 lần đều có được « mặt 6 » ( nghĩa là chính xác hoàn toàn cũng như nói Tử Vi đúng100% như có nhiều người ca tụng) có khi không lần nào « mặt 6 » xảy ra hoặc xảy ra một vài lần. Phân số 1/6 chỉ là con số Lý thuyết nghĩa là nếu ta gieo hàng triệu lần rồi làm Thống Kê đếm các lần « mặt 6 » xảy ra và lập tỷ số giữa các lần xảy ra với số lần đã gieo, ta thấy phân số đó gần bằng 1/6. Nói như vậy để thấy rằng một dữ kiện muốn có độ chính xác cao thì Không Gian Mẫu phải lớn ( nghĩa là phải thực hiện nhiều lần). Nếu chỉ xem 10 lá số thấy 7 lá đúng mà cho là đúng 70% thì cũng như gieo con xúc sắc 10 lần thấy 7 lần mặt lục xảy ra( thì hơi qúa lố ).


Xem tiếp Bài Giới Thiệu về Tử Vi và Phong Thủy

Về đầu trang


Tản Mạn Về Tử Vi Và Phong Thuỷ II

Thầy Phạm Kế Viêm



Bàn về Năm Tuổi

Trong Lá Số Tử Vi, Thái Tuế là tên gọi của ngôi Sao bao giờ cũng đóng tại Cung có cùng tên với năm sinh. Như tuổi Tý thì Thái Tuế đóng tại cung Tý ; năm Dậu thì Thái Tuế đóng tại Cung Dậu … suy ra các tuổi khác còn lại trong 12 tuổi cũng vậy. Nghĩa đen của Thái Tuế : Tuế là tuổi, Thái là tối cao ở vị trí cực đại, trái với Thiếu là còn non trẻ. Sao Thái Tuế thuộc Hỏa ( lợi cho các tuổi mạng Thổ, Hỏa và Mộc, bất lợi cho các Tuổi mạng Kim, Thủy). Sao Thái Tuế đứng đầu Vòng Thái Tuế chia thành 4 Tam Hợp : ( Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ ), ( Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức), (Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn) và (Trực Phù, Thiếu Âm, Long Đức). Sách Tử Vi nào cũng Định Nghĩa : Thái Tuế hành Hỏa chủ về :

- Khinh người, lạnh lùng không thích giao thiệp, ít tình cảm. Biết xét đoán, ưa lý luận. Gặp nhiều Sao sáng sủa tốt đẹp thì nói năng đanh thép, hùng hồn. Chủ Phú Qúy và Uy Quyền.

- Gặp Xương Khúc, Khôi Việt kết thành Bộ Văn Tinh : lợi cho việc làm ăn, học hành thi cử, cầu Công Danh.

- Gặp Hung Sát Tinh (Kình Đà, Không Kiếp, Linh Hỏa, Hình Kị): chiết giảm Phúc Thọ, ngăn trở mọi công việc, gây rắc rối, tổn hại đến Công Danh, Quyền Thế, Tài Lộc. Chủ về Thị Phi, kiện cáo, tranh chấp, tù tội, bệnh tật, tai nạn, tang thương, gây ra nhiều sự chẳng lành !.Gặp Tuần, Triệt giảm nhẹ tính chất nói trên !.

Vòng Thái Tuế chỉ rõ Tư Cách Cá Nhân (chi tiết hơn - cũng phải dựa vào các Bộ Sao của 14 Chính Tinh, Trung Tinh và Hung Sát Tinh « phải biết Giờ Sinh » để hiểu rõ Bản Chất của Nhân Vật). Theo Cụ Thiên Lương khi Tiểu Vận gặp Vòng Thái Tuế ở Vị Trí Tam Hợp (Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ) luôn luôn được hưởng Bộ Tứ Linh (Long Phượng Hổ Cái) đôi khi chỉ có 3 – không gặp Hung Sát Tinh – là Bộ đưa người ta đến vinh dự hưng thịnh, may mắn bằng thế này hay Thế khác tức là làm cho người ta thỏa mãn hài lòng. Tuy nhiên Tiểu Vận của năm mà ta muốn xem trong Lá Số - luôn luôn ở Vị Trí Tuế Phá ( bất mãn, hận lòng, muốn đả phá quật ngược, không hài lòng như ý nguyện), nhưng được bù đắp bởi Mã Khốc Khách (nghị lực đưa người ta vượt qua những trở ngại khó khăn !). Như vậy khi gặp Năm Tuổi của 1 người ở Tiểu Vận nằm trong Tam Giác (Mệnh, THÂN) trường hợp có Sao Thái Tuế hiện diện (nghĩa là sinh trong các Giờ : Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất ) tốt hay xấu tùy thuộc vào Sao tốt hay xấu nhiều hay ít !.

Khi lập 1 Lá Số Tử Vi, Ta thường dựa trên các Yếu Tố : Giờ Sinh (12), Ngày ( 30 ), Tháng ( 12 ), Giới Tính (2), Tuổi (60). Ta có thể tạo thành : N = 12x30x12x2x60= 518400 Lá Số Mẫu dùng cho hàng Triệu người. Một Lá Số có thể dùng cho nhiều người sinh ra trong khỏang thời gian 2 giờ cùng ngày, tháng, năm sinh. Thí Dụ giờ Tý dùng cho nhiều người sinh ra trong khỏang thời gian ( 23g-01g ). Lá Số chỉ nêu 1 cách khái quát về Tính Tình, các Biến Cố trong Cuộc Đời; vì còn tùy thuộc vào nhiều Yếu Tố khác như Hình Tướng ( Mặt, Bàn Tay …), Cha Mẹ, Anh Em, người Phối Ngẫu, con cái và Môi Trường của người cùng mang 1 Lá Số. Nên nhớ với cùng 1 Hạt Giống tốt gieo trên thửa đất màu mỡ khác với kết qủa gieo trên đất khô cằn không phân bón !. Nhìn vào kết qủa những Người Trẻ Tị Nạn thành công trên đất Mỹ hay các Quốc Gia Tây Phương khác, ta có câu trả lời về « Ảnh Hưởng của Môi Sinh ». Trên Lá Số Tử Vi, Tiểu Vận của năm Tuổi đều nằm trên 2 Tam Giác (Tam Hợp) chứa 2 Sao Tuế Phá và Thái Tuế. Do đó những Lá Số mà Tam Giác chứa (Mệnh, THÂN) - nếu vắng Hung Sát Tinh - gặp Vòng Thái Tuế đều có Tứ Linh (Long Phưọng Hổ Cái)+ Mã Khốc Khách (Ngựa có Nhạc vàng) - nếu được thêm Vòng Lộc Tồn + Vòng Tràng Sinh và có Chính Tinh và Trung Tinh đắc cách, ít Hung Sát Tinh trong Tam Giác đó - thì dù có gặp Năm Tuổi 13, 49, 85 tính theo Âm Lịch (+ Hạn Thái Bạch cho Nam và Thái Âm cho Nữ ), Năm Tuổi 25, 61, 97 ( + Hạn Kế Đô cho Nam và Thái Dương cho Nữ ), Năm Tuổi 37, 73 ( + Hạn La Hầu cho Nam và Kế Đô cho Nữ ) thì dù có gặp rủi ro, thương tích, bệnh tật thì độ số cũng nhẹ. Nên nhớ những Tuổi Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) thì năm tuổi đều gặp thêm Hạn Tam Tai. Do đó năm tuổi với bất cứ ai cũng có tốt lẫn xấu ( nhiều hay ít ) tùy theo Tiểu Vận cùng Đại Vận có ít hay nhiều Sao tốt hay xấu !.

Tuổi tính theo Âm Lịch

Thí Dụ Anh A sinh tại VN 18giờ 30 ngày 2/2/1984 thì tính theo Âm Lịch, Anh A tuổi Giáp Tý với Nạp Âm Hải Trung Kim ( Vàng dưới đáy Biển ) do Can Giáp ( Mộc ) ghép với Chi Tý ( Thủy ) gặp các năm 1996 + k.12 ( với k = 1,2, 3…) đều là Năm Tuổi vì sinh đầu năm Giáp Tý ( 2/2/1984 đến 20/1/1985), trái lại Chị B sinh tại VN 18g30 ngày 5/1/1985 cũng là Tuổi Giáp Tý – nhưng sinh cuối năm – nên Năm Tuổi ở năm Bính Tý 1996 phải tính từ 5/1/1997 đến 4/1/1998. Nếu Lập Lá Số cả 2 đều là Giờ Dậu ( 17g-19g ) vì tại VN thời điểm đó không đổi Giờ, trái lại nếu sinh tại Pháp hay Mỹ phải tính là Giờ Thân ( 15g-17g ). Do đó năm Tuổi ở 1 năm X phải tính từ ngày sinh ở năm X đến ngày sinh của năm sau.

Sau đây là liệt kê 60 Lứa Tuổi từ Tý đến Hợi sinh trong Thế Kỷ 20 và 21 :

1)Tuổi Tý:

a) Giáp Tý: sinh từ 5/2/1924 đến 24/1/1925, sinh từ 2/2/1984 đến 20/1/1985

b)Bính Tý: sinh từ 24/1/1936 đến 10/2/1937, sinh từ 19/2/1996 đến 6/2/1997

c)Mậu Tý: sinh từ 10/2/1948 đến 28/1/1949, sinh từ 7/2/2008 đến 25/1/2009

d)Canh Tý: sinh từ 28/1/1960 đến 14/2/1961, sinh từ 25/1/2020 đến 11/2/2021

e)Nhâm Tý: sinh từ 15/2/1972 đến 2/2/1973, sinh từ 11/2/2032 đến 30/1/2033

2)Tuổi Sửu

a)Ất Sửu: sinh từ 25/1/1925 đến 12/2/1926, sinh từ 21/1/1985 đến 8/2/1986

b)Đinh Sửu: sinh từ 11/2/1937 đến 30/1/1938, sinh từ 7/2/1997đến 27/1/1998

c)Kỷ Sửu: sinh từ 29/1/1949 đến 16/2/1950, sinh từ 26/1/2009 đến 13/2/2010

d)Tân Sửu: sinh từ 15/2/1961 đến 4/2/1962, sinh từ 12/2/2021 đến 31/1/2023

e)Qúy Sửu: sinh từ 3/2/1973 đến 22/1/1974, sinh từ 31/1/2033 đến 18/2/2034

3)Tuổi Dần

a)Giáp Dần: sinh từ 23/1/1974 đến 10/2/1975, sinh từ 19/2/2034 đến7/2/2035

b)Bính Dần: sinh từ 13/2/1926 đến 1/2/1927, sinh từ 9/2/1986 đến 28/1/1987

c)Mậu Dần: sinh từ 31/1/1938 đến 18/2/1939, sinh từ 28/1/1998 đến 15/2/1999

d)Canh Dần: sinh từ 17/2/1950 đến 5/2/1951, sinh từ 14/2/2010 đến 2/2/2011

e)Nhâm Dần: sinh từ 5/2/1962 đến 24/1/1963, sinh từ 1/2/2022 đến 21/1/2023

4)Tuổi Mão

a)Ất Mão: sinh từ 11/2/1975 đến 30/1/1976, sinh từ 8/2/2035 đến 27/1/2036

b)Đinh Mão: sinh từ 2/2/1927 đến 23/1/1928, sinh từ 29/1/1987 đến 16/2/1988

c)Kỷ Mão: sinh từ 19/2/1939 đến 7/2/1940, sinh từ 16/2/1999 đến 4/2/2000

d)Tân Mão: sinh từ 6/2/1951 đến 26/1/1952, sinh từ 3/2/2011 đến 22/1/2012

e)Qúy Mão: sinh từ 25/1/1963 đến 12/2/1964, sinh từ 22/1/2023 đến 9/2/2024

5)Tuổi Thìn

a)Giáp Thìn: sinh từ 13/2/1964 đến 1/2/1965, sinh từ 10/2/2024 đến 28/1/2025

b)Bính Thìn: sinh từ 31/1/1976 đến 17/2/1977, sinh từ 28/1/2036 đến 14/2/2037

c)Mậu Thìn: sinh từ 23/1/1928 đến 9/2/1929, sinh từ 17/2/1988 đến 5/2/1989

d)Canh Thìn: sinh từ 8/2/1940 đến 26/1/1941, sinh từ 5/25/2000 đến 23/1/2001

e)Nhâm Thìn: sinh từ 27/1/1952 đến 13/2/1953, sinh từ 23/1/2012 đến 9/2/2013

6)Tuổi Tỵ

a)Ất Tỵ: sinh từ 2/2/1965 đến 20/1/1966, sinh từ 29/1/2025 đến 16/2/2026

b)Đinh Tỵ: sinh từ 18/2/1977 đến 6/2/1978, sinh từ 15/2/2037 đến 3/2/2038

c)Kỷ Tỵ: sinh từ 10/2/1929 đến 29/1/1930, sinh từ 6/2/1989 đến 26/1/1990

d)Tân Tỵ: sinh từ 27/1/1941 đến 14/2/1942, sinh từ 24/1/2001 đến 11/2/2002

e)Qúy Tỵ: sinh từ 14/2/1953 đến 2/2/1954, sinh từ 10/2/2013 đến 30/1/2014

7)Tuổi Ngọ

a)Giáp Ngọ: sinh từ 3/2/1954 đến 23/1/1955, sinh từ 31/1/2014 đến 18/2/2015

b)Bính Ngọ: sinh từ 21/2/1966 đến 8/2/1967, sinh từ 17/2/2026 đến 5/2/2027

c)Mậu Ngọ: sinh từ 7/2/1978 đến 27/1/1979, sinh từ 4/2/2038 đến 23/1/2039

d)Canh Ngọ: sinh từ 30/1/1930 đến 16/2/1931, sinh từ 27/1/1990 đến 14/2/1991

e)Nhâm Ngọ: sinh từ 15/2/1942 đến 4/2/1943, sinh từ 12/2/2002 đến31/1/2003

8)Tuổi Mùi

a)Ất Mùi: sinh từ 24/1/1955 đến 11/2/1956, sinh từ 19/2/2015 đến 7/2/2016

b)Đinh Mùi: sinh từ 9/2/1967 đến 28/1/1968, sinh từ 6/2/2027 đến 25/1/2028

c)Kỷ Mùi: sinh từ 28/1/1979 đến 15/2/1980, sinh từ 24/1/2039 đến 11/2/2040

d)Tân Mùi: sinh từ 17/2/1931 đến 5/2/1932, sinh từ 15/2/1991 đến 3/2/1992

e)Qúy Mùi: sinh từ 5/2/1943 đến 24/1/1944, sinh từ 1/2/2003 đến21/1/2004

9)Tuổi Thân

a)Giáp Thân: sinh từ 25/1/1944 đến 12/2/1945, sinh từ 22/1/2004 đến 8/2/2005

b)Bính Thân: sinh từ 12/2/1956 đến 30/1/1957, sinh từ 8/2/2016 đến 27/1/2017

c)Mậu Thân: sinh từ 29/1/1968 đến 15/2/1969, sinh từ 26/1/2028 đến 12/2/2029

d)Canh Thân: sinh từ 16/2/1980 đến 4/2/1981, sinh từ 12/2/2040 đến 31/1/2041

e)Nhâm Thân: sinh từ 6/2/1932 đến 25/1/1933, sinh từ 4/2/1992 đến 22/1/1993

10)Tuổi Dậu

a)Ất Dậu: sinh từ 13/2/1945 đến 1/2/1946, sinh từ 9/2/2005 đến 28/1/2006

b)Đinh Dậu: sinh từ 31/1/1957 đến 17/2/1958, sinh từ 28/1/2017 đến 15/2/2018

c)Kỷ Dậu: sinh từ 16/2/1969 đến 5/2/1970, sinh từ 13/2/2029 đến 2/2/2030

d)Tân Dậu: sinh từ 5/2/1981 đến 24/1/1982, sinh từ 1/2/2041 đến 21/1/2042

e)Qúy Dậu: sinh từ 26/1/1933 đến 13/2/1934, sinh từ 23/1/1993 đến 9/2/1994

11)Tuổi Tuất

a)Giáp Tuất: sinh từ 14/2/1934 đến 3/2/1935, sinh từ 10/2/1994 đến 30/1/1995

b)Bính Tuất: sinh từ 2/2/1946 đến 21/1/1947, sinh từ 29/1/2006 đến 17/2/2007

c)Mậu Tuất: sinh từ 18/2/1958 đến 7/2/1959, sinh từ 16/2/2018 đến 4/2/2019

d)Canh Tuất: sinh từ 6/2/1970 đến 26/1/1971, sinh từ 3/2/2030 đến 22/1/2031

e)Nhâm Tuất: sinh từ 25/1/1982 đến 12/2/1983, sinh từ 22/1/2042 đến 9/2/2043

12)Tuổi Hợi

a)Ất Hợi:sinh từ 4/2/1935 đến 23/1/1936, sinh từ 31/1/1995 đến 18/2/1996

b)Đinh Hợi:sinh từ 22/1/1947 đến 9/2/1948, sinh từ 18/2/2007 đến 6/2/2008

c)Kỷ Hợi:sinh từ 8/2/1959 đến 27/1/1960, sinh từ 5/2/2019 đến 24/1/2020

d)Tân Hợi:sinh từ 27/1/1971 đến 14/2/1972, sinh từ 23/1/2031 đến 11/2/2032

e)Qúy Hợi:sinh từ 13/2/1983 đến 1/2/1984, sinh từ 10/2/2043 đến 29/1/2044

Một Thí Dụ :

Xem Năm Tuổi của 1 số người ở năm Đinh Dậu 2017 ( tính từ Tết Đinh Dậu 21017 nhằm ngày Thứ Bảy 28/1/2017 đến Giao Thừa nhằm ngày Thứ Năm 15/2/2018 ) đó là Năm Tuổi của 5 Lứa Tuổi Dậu : Ất Dậu, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Tân Dậu và Qúy Dậu. Vì cùng Chi Dậu nên - một cách Tổng Quát - muốn xem trong 5 Tuổi Dậu gặp năm Đinh Dậu 2017 tốt, xấu ra sao ?.

Với Tuổi Đinh Dậu (sinh từ 31/1/1957 đến 17/2/1958 Nam : Hạn Kế Đô 61t, Nữ 61t : Hạn Thái Dương tốt về Công Danh nhưng dễ có Vấn đề về Tim Mạch, Mắt và Khí Huyết ) gặp Năm Đinh Dậu cùng tên gọi của cả 3 Yếu Tố Can, Chi và Nạp Âm, nếu gặp Vận Hạn trong Lá Số Tử Vi tốt thì rất tốt ( Nữ tốt hơn Nam ) – mà xấu ( gặp nhiều Hung sát Tinh trong Tam Giác chứa Mệnh, THÂN thì đáng ngại, nhất là mùa Hè !).

Với Tuổi Ất Dậu (sinh từ 13/2/1945 đến 1/2/1946 Nam gặp Hạn La Hầu 73t, Nữ Kế Đô 73t ) : Can Ất ( Mộc ) sinh nhập Can Đinh ( Hỏa ) và Nạp Âm ( Thủy ) khắc nhập Hỏa của Nạp Âm Năm Hạn. Cả 2 đều là Năm cần nhiều thận trọng ở Mùa Xuân và Mùa Thu, nhất là Tiểu Vận vào Tam Giác chứa ( Mệnh, THÂN ) với nhiều Hung Sát tinh – Nam lưu ý thêm về Phong Thủy !.

Với Tuổi Kỷ Dậu (sinh từ 16/2/1969 đến 5/2/1970 Nam : Hạn Thái Bạch 49t + Kình Đà, Nữ Hạn Thái Âm tốt về Công Danh nhưng dễ có Vấn Đề về Tim Mạch, Mắt và Khí Huyết ) : Can Kỷ và Nạp Âm cùng hành Thổ sinh xuất Can Đinh và Nạp Âm của năm Hạn cùng hành Hỏa ( Nữ tốt hơn Nam – Nam cần thận trọng ở Mùa Hè nếu Tiểu Vận chứa nhiều Hung Sát Tinh trong Tam Giác chứa ( Mệnh, THÂN ).

Với Tuổi Tân Dậu (sinh từ 5/2/1981 đến 24/1/1982 Nam : Hạn La Hầu 37t, Nữ : Hạn Kế Đô 37t ) : Can Tân ( Kim ) khắc xuất Đinh ( Hỏa ) và Nạp Âm ( Mộc ) sinh nhập Nạp Âm Hỏa của năm Hạn. Cả 2 đều là Năm cần thận trọng ở Mùa Thu, nếu Tiểu Vận chứa nhiều Hung Sát Tinh trong Tam Giác chứa ( Mệnh, THÂN )- riêng Nam cần lưu ý thêm về Phong Thủy.

Với Tuổi Qúy Dậu (Lứa Tuổi 25t sinh từ 23/1/1993 đến 9/2/1994 : Nam gặp Hạn Kế Đô + Kình Đà, Nữ gặp Hạn Thái Dương + Kình Đà - Lứa Tuổi 85t sinh từ 26/1/1933 đến 13/2/1934 : Nam gặp Hạn Thái Bạch + Kình Đà, Nữ gặp Hạn Thái Dương + Kình Đà ) với Can Qúy ( Thủy ) khắc xuất Can Đinh ( Hỏa ) và Nạp Âm ( Kim ) khắc xuất Nạp Âm Hỏa của Năm Hạn. Nam bất lợi Nữ, nhất là Nam 85t (tuổi đã cao - kể cả Phong Thủy). Với Thí Dụ trên và Bảng ghi ngày tháng năm sinh của 60 Lứa Tuổi, Độc Giả có thể tự tìm Năm Tuổi.

Theo Kinh Nghiệm của Cổ Nhân và người viết làm Thống Kê trên nhiều Lá Số thì Năm Tuổi của 1 người ( thí dụ Anh sinh 16/7/1957 thì năm nay Đinh Dậu 2017 từ 16/7/2017 anh A mới bước vào Năm Tuổi 61t âm lịch + Hạn Kế Đô + Kình Đà cho đến 15/7/2018, như vậy Hạn Kế Đô gần như ở nửa 2 năm – năm sau thường gặp Hạn Thiên Không Đào Hồng – mà người xưa thường cho bất lợi cho Tuổi Già !). Người Đời thường sợ Năm Tuổi cũng không phải là không có lý ( có người tốt có ngưòi xấu tùy theo Cá Nhân ). Như câu nói « Phúc bất trùng lai, Họa vô đơn chí » cũng cho ta thấy Cuộc Đời may ít rủi nhiều !. Nhìn vào bia mộ ở Nghĩa Trang phần lớn ( xác suất trên 60°/° ) người nằm xuống đều rơi vào Năm Tuổi hay những Năm Xung Tháng Hạn (+La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch và Tam Tai ), nếu kỹ hơn xem trong Lá Số ( với Giờ Sinh ) ta sẽ thấy bầy Hung Sát Tinh nằm trong Vận Hạn những năm đó ( Tiểu Vận và Đại Vận).

Mở các Trang Lịch Sử gần đây cho ta thấy, những Nhân Vật chết vào Năm Tuổi :

Vua Lê Lợi, người đánh đuổi Quân Minh sau 10 năm gian khổ, sinh ngày mồng 6, tháng 8 năm Ất Sửu ( 10/9/1385 ) tại Lam Sơn, Thanh Hóa chết ngày 22 tháng 8 nhuận năm Qúy Sửu ( 9/1433) khi Vận Số đi vào Năm Tuổi 49t+Thái Bạch+Tam Tai.

Vua Đồng Khánh (Nguyễn Phúc Ưng Xi) tuổi Giáp Tý 1864 chết năm Mậu Tý (21/1/1889) khi đi vào Năm Tuổi 25t + Hạn Kế Đô.

Vua Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch) tuổi Tân Mùi (3/8/1871 ) mất năm Qúy Mùi 1943 : Năm Tuổi 73t+ Hạn La Hầu.

Vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) sinh giờ Dần ngày 23 tháng 9 năm Qúy Sửu 1913 chết năm Đinh Sửu 1997 khi đi vào Hạn Năm Tuổi 85t+Hạn Thái Bạch + Kình Đà.

Đức Giáo Hòang Jean Paul II tuổi Canh Thân (18/5/1920) mất năm Ất Dậu ( 2/4/2005) : Năm Tuổi 85t+Hạn Thái Bạch+Kình Đà ( trường hợp Hạn Thiên Không theo lối cổ - năm tuổi là năm Giáp Thân 2004 có nhiều Sao giải - nếu sinh đầu năm - nhưng tính theo ngày tháng sinh vẫn là năm Tuổi !).

Tổng Thống Mỹ thứ 26 Theodore Roosevelt nhiệm kỳ ( 1901-1909) đoạt Giải Nobel Hòa Bình năm 1906 tuổi Mậu Ngọ ( 27/10/1858) mất năm Mậu Ngọ ( 6/1/1919) : Năm Tuổi 61t+Hạn Kế Đô+Kình Đà.

Cụ Phạm Thận Duật Hộ Bộ Thượng Thư dưới Triều Tự Đức là Sư Bảo của 3 Vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc sinh năm Ất Dậu 1825 bị Pháp bắt khi đi phò Vua Hàm Nghi dấy Nghĩa Cần Vương, bị bệnh chết trên Tàu đi đầy năm Ất Dậu 1885 khi đi vào Năm Tuổi 61t+ Hạn Kế Đô.

Thống Tướng Lê văn Tỵ VNCH tuổi Giáp Thìn ( 15/5/1904 ) chết năm Giáp Thìn ( 20/10/1964 ) khi đi vào Hạn Năm Tuổi 61t+ Kế Đô.

Luật Sư Vương văn Bắc cựu Ngoại Trưởng VNCH tuổi Đinh Mão 1927 mất năm Tân Mão 2011 : Năm Tuổi 85 + Hạn Thái Bạch + Kình Đà.

Tướng Nguyễn Khoa Nam tuổi Đinh Mão 1927 tuẫn tiết năm Ất Mão 1975 khi đi vào Năm Tuổi 49t+Hạn Thái Bạch+Kình Đà.

Gs kiêm Kịch Tác Gia Vũ Khắc Khoan tuổi Đinh Tỵ ( 27/2/1917 ) mất năm Kỷ Tỵ ( 12/9/1989) khi đi vào Năm Tuổi 73t + Hạn La Hầu + Kình Đà.

Thi Bá Vũ Hòang Chương tuổi Bính Thìn 1916 mất năm Bính Thìn 1976 : Năm Tuổi 61t+ Hạn Kế Đô+Tam Tai+Kình Đà.

Thi Sĩ Nguyễn Bính tuổi Mậu Ngọ 1918 mất năm Bính Ngọ 1966 : Năm Tuổi 49t+Hạn Thái Bạch+Kình Đà.

Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong tuổi Mậu Ngọ 1918 mất năm Nhâm Ngọ 1942 : Năm Tuổi 25t+ Hạn Kế Đô + Kình Đà.

Tổng Thống Phi Luật Tân Ferdinand Marcos tuổi Đinh Tỵ ( 11/9/1917 ) đắc cử năm Ất Tỵ 1965 bị lật đổ năm Bính Dần 1986 « Hạn Kế Đô 70 t », mất tại Hawai trong lúc bị đi đầy ở Năm Tuổi 73t +Hạn La Hầu +Kình Đà năm Kỷ Tỵ ( 28/9/1989 ).

Chủ Tịch Đảng Cộng Sản Roumanie Nicolae Ceausescu tuổi Đinh Tỵ ( 26/1/1918) bị xử bắn cùng vợ trong Cuộc Nổi dậy của Dân Chúng năm Kỷ Tỵ ( 25/12/1989 ) : Năm Tuổi 73+Hạn La Hầu +Kình Đà.

Đại Văn Hào Pháp Voltaire tuổi Giáp Tuất ( 21/9/1694 ) mất năm Mậu Tuất ( 30/5/1778 ) : Năm Tuổi 85t+Hạn Thái Bạch.

Đại Văn Hào Nga Dostoyevsky tuổi Tân Tỵ ( 11/11/1821) mất năm Tân Tỵ ( 9/2/1881) : Năm Tuổi 61t+ Hạn Kế Đô.

Khoa Học Gia Pháp Jean Perrin đoạt Giải Nobel Vật Lý năm 1926 tuổi Canh Ngọ (30/9/1870) mất vào năm Nhâm Ngọ ( 17/4/1942) : Năm Tuổi 73t+Hạn La Hầu.

Khoa Học Gia Pháp gốc Bỉ Yves Chauvin đoạt Giải Nobel Hóa Học năm 2005 tuổi Canh Ngọ ( 10/10/1930 ) mất năm Giáp Ngọ ( 28/1/2015 ) : Năm Tuổi 85t+Hạn Thái Bạch.

Khoa Học Gia Mỹ George Emil Palade đoạt Giải Nobel Y Học năm 1974 tuổi Nhâm Tý (19/11/1912) mất năm Mậu Tý (7/10/2008 ) : Năm Tuổi 97+Hạn Kế Đô+Kình Đà.

Khoa Học Gia Mỹ John Howard Northrop đoạt Giải Nobel Hóa Học năm 1946 tuổi Tân Mão (5/7/1891) mất năm Đinh Mão (27/5/1987) : Năm Tuổi 97t+Hạn Kế Đô.

Khoa Học Gia Mỹ Willard Frank Libby đọat Giải Nobel Hóa Học năm 1960 tuổi Mậu Thân (17/12/1908) mất năm Canh Thân (8/9/1980) : Năm Tuổi 73t+Hạn La Hầu+Kình Đà.

Khoa Học Gia Mỹ Norman Foster Ramsey đoạt Giải Nobel Vật Lý năm 1989 tuổi Ất Mão ( 27/8/1915) mất năm Tân Mão (4/11/2011) : Năm Tuổi 97+Hạn Kế Đô.

Khoa Học Gia Na Uy Lars Onsager đoạt Giải Nobel Hóa Học năm 1968 tuổi Qúy Mão ( 27/11/1897) mất năm Bính Thìn (5/10/1976) : Năm Tuổi 73+Hạn La Hầu.

Khoa Học Gia Na Uy Odd Hassel đoạt Giải Nobel Hóa Học năm 1969 tuổi Đinh Dậu « 17/5/1897 » mất năm Tân Dậu « 11/5/1981 » : Năm Tuổi 85+Hạn Thái Bạch+Kình Đà.

Khoa Học Gia Anh gốc Ai Cập Dorothy Crowfoot Hodgkin đoạt Giải Nobel Hóa Học năm 1964 tuổi Canh Tuất (12/5/1910) mất vào năm Giáp Tuất (25/7/1994) :Năm Tuổi 85t+Hạn Thái Bạch.

Nữ Tài Tử Marilyn Monroe tuổi Bính Dần (14/6/1926) tự vẫn (nghi án bị giết) năm Nhâm Dần (5/8/1962) : Năm Tuổi 37t+ Hạn Kế Đô + Kình Đà.

Công Nương Anh Diana Spencer tuổi Tân Sửu (1/7/1961) chết vì tai nạn ôtô tại Paris ở năm Đinh Sửu (31/8/1997) : Năm Tuổi 37t+Hạn Kế Đô.

Đó là vài Hình ảnh (các Nhân Vật tên tuổi) tượng trưng trong hàng ngàn trường hợp chết vì Năm Tuổi khi Thống Kê ; vì khuôn khổ bài viết không thể liệt kê hơn được !.

Dự báo Năm Xung Tháng Hạn trong Tử Vi cũng như Dự Báo Thời Tiết. Gặp Năm Xung Tháng Hạn, nhất là Câu Nói của Cổ Nhân : Nam La Hầu, Nữ Kế Đô - nếu ta chuẩn bị dự phòng về sức khỏe, giảm thiểu Di Chuyển, tránh tranh cãi đưa đến Kiện Tụng, lưu ý giấy tờ Hợp Pháp như Cổ Nhân thường khuyên thì dù rủi ro có sảy ra thì độ xấu cũng nhẹ.
Paris Mùa Xuân năm Đinh Dậu 2017

Về đầu trang


Vương Triều NGUYỄN dưới Lăng Kính Tử Vi

Thầy Phạm Kế Viêm



I ) Dòng dõi

Nguyễn Phúc Ánh sau khi dẹp Nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, xưng Đế Hiệu Gia Long năm Nhâm Tuất ( 1/6/1802) là Vua đầu tiên của Vương Triều Nguyễn ( 1802 – 1955) kéo dài 9 Đời Vua, tiếp nối Cơ Nghiệp của 13 Đời Chúa. Nguyễn Phúc Ánh là con của Nguyễn Phúc Luân – Luân là con thứ 2 của Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat đã được Di Chiếu làm Thế Tử ( vì anh cả Nguyễn Phúc Chương chết trước Cha ), nhưng bị Trương Phúc Loan ( quyền thần có 2 con trai lấy 2 con gái của Võ Vương và 1 gái làm Ái Phi của Võ Vương đẻ ra Nguyễn Phúc Thuần là con trai thứ 16 ) sửa Di Chiếu rồi tôn Phúc Thuần ( cháu Ngọai ) lên làm Định Vương năm Qúy Dậu 1753. Định Vương tôn Ông Ngoại Trương Phúc Loan lên làm Quốc Phó - phụ chính cho Định Vương. Năm Giáp Ngọ 1774, nhân lúc Đàng Trong rối lọan, Trịnh Sâm sai Đại Tướng Hòang Ngũ Phúc ( Quận Việp) vượt sông Gianh, Định Vương dẫn Loan đến hành Dinh Quận Việp xin hàng, dù đã hối lộ vàng bạc nhưng không được tha ( trên đường giải ra Bắc, Loan chết vì bệnh vào Mùa Đông năm Bính Thân 1776 – năm tuổi 61 +Hạn Kế Đô+Kình Đà ). Năm Ất Mùi ( 3/2/1775 ) Kinh Thành Phú Xuân thất thủ Chúa Định ( Hạn Thái Bạch 22t +Kình Đà ) cùng cháu Họ Nguyễn Ánh « 13t : Hạn Thái Bạch  » và 1 cháu Họ Nguyễn Phúc Dương 15t ( Hạn Kế Đô+Kình Đà - Dương là con của Nguyễn Phúc Hiệu, con thứ 9 của Võ Vương được lập làm Thế Tử nhưng chết trước Cha – Dương được Định Vương lập làm Đông Cung ) chạy vào Nam. Cuối năm Đinh Dậu 1777, Nhà Tây Sơn bắt được Định Vương và Cháu Dương ( lúc đó Dương được tôn làm Tân Chính Vương và Định Vương làm Thái Thựơng Vương ) riêng Cháu Nguyễn Ánh được Giám Mục Bá Đa Lộc cứu thóat !.

Định Vương tuổi Giáp Tuất ( 31/12 1754 ) bị Tây Sơn bắt giết năm Đinh Dậu 1777 khi Vận Số đi vào Hạn Tam Tai +Kình Đà. Tân Chính Vương tuổi Canh Thìn 1760 bị Tây Sơn bắt ở Vĩnh Long cũng bị giết cùng Định Vương năm Đinh Dậu 1777 ( Hạn Kình Đà ).

Định Vương Nguyễn Phúc Thuần là Chúa đời thứ 9- vị Chúa cuối cùng của Thời Chúa Nguyễn kể từ Chúa Tiên Nguyễn Hòang khi xin Vua Lê Chúa Trịnh vào Nam năm Canh Tý 1600.


II ) 13 Đời Chúa


A) Nguồn Gốc phát sinh 2 Dòng Chúa Trịnh - Nguyễn

Nguyễn Kim là con Ông Nguyễn Hoằng Dụ, cả 2 người đều làm quan dưới Triều Lê Chiêu Tông ( 1502-1525) – là Hậu Duệ của Nguyễn Trãi * [ *Nguyễn Trãi là Công Thần Nhà Lê giúp Vua Lê Lợi đánh thắng Giặc Minh, nổi danh với Bài Hịch Bình Ngô Đại Cáo - thời Vua Lê Thái Tôn cùng Thị Lộ bảo vệ Phi Ngọc Dao sinh Hòang Tử Lê Tư Thành – Phi Nguyễn Thị Anh sinh Bang Cơ ( Lê Nhân Tông ) sợ Lê Tư Thành lên ngôi nên bày ra Vụ Án Lệ Chi đầu độc Vua Lê Thái Tông - đổ tội cho Thị Lộ giết Vua nên Trãi và Thị Lộ bị chu di Tam Tộc. Ngày 16 tháng 8 năm 1442 Nhâm Tuất 1442 cả nhà bị chém đầu( kể cả con Trưởng, nhưng dòng Thứ trốn thóat ). Bang Cơ lên ngôi Vua - 19 năm sau bị Nghi Dân con cả Lê Thái Tông giết – Nghi Dân sau 8 tháng trị vì bị 1 số quan Đại Thần giết rồi tôn Lê Tư Thành 19t lên làm Vua - tức là Vua Lê Thánh Tông, phong cho Mẹ Ngọc Dao làm Quang Thục Hòang Thái Hậu. Xét chuyện cũ để minh oan cho Trãi và Thị Lộ Vua Lê Thánh Tông truy tặng cho ô Ng Trãi chức Tán Trù Bá, cho tìm con cháu Trãi để bổ quan thì chỉ có bà Phạm thị Mận thiếp của Trãi, cho con là Phạm Anh Vũ ra trình diện được làm Tri Huyện và đổi tên là Nguyễn Long, lại cấp 100 mẫu ruộng để thờ cúng. Thời Vua Lê Hiển Tông (1740-1786) Trãi được phong Tuyên Linh Diên Khánh Đại Vương. Trong số các quan hạ sát Nghi Dân và phò tá Tư Thành có ông Nguyễn Đức Trung là cha Cô Nguyễn Thị Hằng chính thất của Tư Thành , mà cha của Trung là Nguyễn Công Duẩn con của Nguyễn Trãi « trốn thóat sau vụ Chu Di Tam Tộc»- Duẩn là Ông Tổ thứ 5 của Nguyễn Kim]. Sau khi Mạc Đăng Dung ( sinh năm Qúy Mão « 23/11/1483 » mất năm Tân Sửu « 22/8/1541 » : Hạn Thái Bạch 58t+Kình Đà) giết 2 Vua Lê Chiêu Tông và Lê Chiêu Hoàng cùng với Mẹ hai Vua là bà Hòang Thái Hậu (vợ Lê Sùng) có nhiều Đình Thần chống đối, người bị giết, người tự vẫn, riêng Nguyễn Kim đem vợ con bỏ trốn sang Lào, được Vua Lào là Xạ Đẩu cho trú ẩn ở vùng Sầm Nứa. Nguyễn Kim có 2 con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hòang « Chúa Tiên » và 1 con gái là Ngọc Bảo gả cho thuộc Tướng Trịnh Kiểm « Chúa Trịnh » khi còn lưu vong tại Lào « 1527-1542 ». Ở Sầm Nứa, Kim chiêu binh mãi mã, tụ hội Trung Thần Nghĩa Sĩ được vài ngàn người, có hơn 30 con voi và 300 ngựa. Năm Qúy Tỵ 1533 Nguyễn Kim tìm được người con Út của Vua Lê Chiêu Tông là Hòang Tử Lê Duy Ninh, sinh năm Đinh Sửu 1517 - mời sang Lào – tôn làm Vua Lê Trang Tôn để trung hưng nhà Lê. Năm Canh Tý 1540 Nguyễn Kim đem quân ra đánh Nghệ An, xong lại rút về Lào ; năm Nhâm Dần 1542 mới thật sự đánh chiếm Nghệ An, rồi Thanh Hóa. Tổng Trấn nhà Mạc ở Tây Đô là Dương Chấp Nhất ra hàng ( 1543). Kim rước Vua Lê Trang Tông ở bên Lào về, lập Cung Điện ở đồn Vạn Lại. Năm Ất Tỵ 1545 Kim đem quân ra Bắc – vùng Sơn Nam (Ninh Bình) bị Hàng Tướng Dương Chấp Nhất lập kế bỏ thuốc độc chết ( năm 79t : Hạn Kế Đô ). Binh quyền về tay con Rể là Trịnh Kiểm. Kiểm rút quân về Vạn Lại ( Nghệ An ) giữ thế thủ để dưỡng sức. Từ năm Canh Tuất 1550 đến năm Canh Ngọ 1570 Kiểm cũng 6 lần đem quân ra Bắc – lúc đó là Vua Mạc Phúc Nguyên, Vua Mạc cũng đem quân 10 lần vào Thanh Hóa – phen nào cả hai cũng thua - đều phải rút về !. Vua Lê Trang Tông mất năm Mậu Thân 1548 ( Hạn Thái Bạch 31t ), con là Duy Huyên tuổi Mậu Tý 1528 lên ngôi tức Lê Trung Tông mất năm Bính Thìn 1556 ( Hạn La Hầu 28t+Tam Tai +Kình Đà ) không có con – nên Trịnh Kiểm muốn tự lập làm Vua – sau nghe lời khuyên của Trạng Trình ( Giữ Chùa thờ Phật thì ăn oản ) cho người đi tìm dòng dõi nhà Lê, thì kiếm được Lê Duy Bang ( cháu 5 đời của Lê Trừ , anh ruột Vua Lê Lợi) ở Thanh Hóa - rước về tôn làm Vua Lê Anh Tông ( sinh năm Kỷ Mão 1532 - bị Trịnh Tùng giết năm Qúy Dậu 1573 :Hạn Kế Đô +Kình Đà ). Từ đó con Cháu họ Trịnh theo nề nếp Ông Tổ Trịnh Kiểm tôn thờ Vua Lê, nhưng nắm hết binh quyền. Trịnh Kiểm ( sinh năm Qúy Hợi 1503 chết vào năm Canh Ngọ 1570 : Hạn Thái Bạch 67t+Tam Tai), con Trưởng là Trịnh Cối lên nối nghiệp Tướng, nhưng bị Em Trai là Trịnh Tùng tranh quyền, hai anh em đánh nhau. Mạc Kính Điển ( tướng tài của Mạc Mậu Hợp ) đem hơn 10 vạn quân vào Thanh Hóa, Cối ra hàng, nhưng Tùng cầm quân chống, Điển đánh mãi – sau 10 năm không được phải rút về. Cuối năm Tân Mão 1591 Trịnh Tùng thống lĩnh hơn 5 vạn quân kéo ra Bắc. Mạc Mậu Hợp cũng điều động 10 vạn quân ngăn chặn – nhưng thua to, Tùng vào chiếm Đông Kinh (Thăng Long) nhưng sau đó lại rút về Thanh Hóa. Cuối năm Nhâm Thìn 1592 có Tướng Bùi văn Khuê của Mạc Mậu Hợp bất mãn vì có vợ xinh đẹp bị Hợp muốn cướp làm vợ, nên Khuê đem vợ con về hàng Trịnh Tùng, Tùng cả mừng dùng Khuê làm tiên phong, đem đại quân ra Bắc - lần này bắt đựơc Hợp ở Bắc Giang đem về giết tại Thanh Hóa. Trịnh Tùng bèn rước Vua Lê Thế Tông khi đó 27t ra Đông Kinh, mở Đại Triều và thăng thưởng các Tướng Sĩ. Từ đó mới thật là Nhà Lê Trung Hưng ( 1592-1789 ). Đến năm Kỷ Hợi 1599, việc nhà Mạc ( Mạc Kính Cung về giữ Cao Bằng do Vua nhà Minh ép vua Lê và Trịnh Tùng ) Trịnh Tùng bèn tự xưng là Bình An Vương cho xây Phủ Chúa bên cạnh Hồ Hòan Kiếm ; rồi đặt Lệ cấp bổng cho Vua Lê được thu thuế 1000 Xã, gọi là « Lộc Thượng Tiến » , cấp cho Vua Lê 5000 lính làm Quân Túc Vệ - còn mọi việc thu thuế, đặt quan, bắt lính, trị Dân đều thuộc về Phủ Chúa – vì thế dân chúng gọi nôm na là « Vua Lê Chúa Trịnh ». Không kể từ Trịnh Kiểm nắm binh quyền từ khi Nguyễn Kim mất năm 1545 đến năm 1599 Trịnh Tùng xưng Chúa – Nghiệp Chúa của Dòng Họ Trịnh lưu truyền từ Trịnh Tùng ( sinh năm Canh Tuất 1550 chết năm Qúy Hợi 1623 : Hạn La Hầu 73t ) đến năm Bính Ngọ 1786 Trịnh Bồng thua Cống Chỉnh- rồi biệt tích - kéo dài 187 năm. Nếu kể từ Trịnh Kiểm thì Cơ Đồ của Dòng Họ Trịnh dài 240 năm !.

B) 13 đời Chúa Nguyễn


1) Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng)

Nguyễn Hoàng sinh năm Ất Dậu (28/8/1525) mất năm Qúy Sửu (20/7/1613): Hạn Kế Đô 88t+Tam Tai. Sinh thời cai trị 2 đất Thuận - Qủang được Dân Chúng yêu mến gọi là Chúa Tiên; đến thời Gia Long được tôn Miếu Hiệu Thái Tổ. Hai con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hòang đều là Võ Tướng đã có công giúp cha trong cuộc phò Vua Lê Trang Tông tái chiếm Trung Việt, nên được Vua ban tước Quận Công. Nguyễn Hòang là Đoan Quận Công. Năm Ất Tỵ 1545 Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong Triều rơi vào bàn tay Anh Rể Trịnh Kiểm, Nguyễn Uông bị Kiểm giết, vì lo sợ bị anh Rể lúc đó đang nắm binh quyền sát hại đã cho người tìm đến Trạng Trình để xin lời khuyên ; Trạng Trình chỉ nhìn Hòn Non Bộ và phán rằng : Hòanh Sơn nhất đái, Vạn Đại dung thân. Ông hiểu ý, bèn nhờ Chị là bà Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm xin vào trấn thủ Thuận Hóa ( là khu vực từ Qủang Bình đến Huế gồm 2 Phủ, 9 Huyện, 3 Châu ). Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi – là nơi « ngọai châu » thường dùng làm nơi để lưu đầy tội nặng - vừa khỏi sợ bị tranh quyền, khỏi mang tiếng giết cả 2 em vợ, cũng là để chiều Vợ, bèn tâu Vua Anh Tông cho Hòang vào trấn thủ Thuận Hóa. Năm Mậu Ngọ 1558 Hòang ( Hạn Kế Đô 34t ) đem cả vợ con, lại có nhiều người cùng làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn tỉnh Thanh Hóa cũng đem vợ con đi theo đóng Dinh ở Ái Tử ( Quảng Trị ). Hơn 10 năm sau, vào năm Kỷ Tỵ 1569, khi Vua Lê Anh Tông còn đang trị vì, Hòang ra An Trường ( thuộc Thanh Hóa) chầu Vua và thăm Anh Rể, hết sức vui vẻ và nhũn nhặn, nên được Kiểm cho trấn thủ thêm đạo Qủang Nam ( gồm 3 Phủ, 9 Huyện ). Kiểm đặt lệ mỗi năm Hòang phải nộp Thuế 400 cân bạc và 500 tấn lụa. Năm Nhâm Thìn 1592 (vào Hạn Thái Bạch 67t+Kình Đà) hay tin Vua Lê Thế Tông ( con Vua Anh Tông bị Trịnh Tùng giết năm 1573 ) đã ra được Đông Kinh, Hòang đem quân ra Bắc, một là để chúc hạ nhà Vua cho vẹn Đạo Thần Tử, hai là giúp Cháu Trịnh Tùng dẹp lọan. Trịnh Tùng từ 20 năm nay vẫn có ý nghi ngờ Ông Cậu, không muốn cho Cậu trở về Thuận Hóa - Quảng Nam ( Lý do năm Nhâm Thân 1572 Mỹ Lương –quan nhà Lê được lệnh Tùng cho vào Quảng Trị thu thuế lại định chiếm đất bị Hòang đánh lại và giết đi ). Thành thử Hòang phải ở lại Đông Kinh luôn 8 năm !. Cuối năm Kỷ Hợi 1599 vua Thế Tông mất, Trịnh Tùng lập con trưởng Vua là Hòang Tử Duy Tân 13t lên ngôi, tức Vua Lê Kính Tông. Vì Tùng qúa kiêu hãnh nên một số quan không không phục, trong đó có Bùi Văn Khuê – tướng đã ra hàng 7 năm trước giúp Tùng ra Bắc- khởi binh chống Tùng ở Nam Định. Nguyễn Hòang, nhân cơ hội, giả xin đi dẹp lọan, để lại con thứ 5 là Hải và Cháu là Hắc làm con tin, thừa cơ kéo quân theo đường Biển về Thuận Hóa năm Canh Tý 1600 ( Hạn Thái Bạch 76+Kình Đà ). Đoan Quận Công Nguyễn Hòang được chính thức trấn thủ 2 Đạo Thuận Hóa và Qủang Nam. Tuy Ông vẫn tôn thờ Vua Lê, vẫn tử tế với Chúa Trịnh ( gả con gái Ngọc Tú cho con trưởng của Tùng là Trịnh Tráng – xét về liên hệ họ hàng thì Tú là Cô họ của Tráng ), nhưng trong bụng đã có ý muốn «  gây dựng Cơ Nghiệp muôn đời cho con cháu  », nên năm Qúy Sửu 1613 – lúc sắp mất Ông dặn con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên ( Chúa Sãi ) rằng : « Đất Thuận, Quảng này phía Bắc thì có Núi Hòanh Sơn, sông Linh Giang( sông Gianh ), phía Nam thì có 2 núi Hải Vân và Bi Vân, thật là nơi Trời để cho người Anh Hùng dụng Võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng Cơ Nghiệp đến muôn đời ». Thời điểm đó (năm Canh Tý 1600) đất nước chia làm 3: Nhà Mạc giữ Cao Bằng được gọi là Đằng Trên ; Vua Lê Chúa Trịnh có tư cách chính thống, đóng ở giữa - phần lớn nhất và trù phú nhất, dân chúng gọi là Đằng Ngoài. Còn Thuận Hóa, Qủang Nam, dân chúng gọi là Đằng Trong và gọi Nguyễn Hoàng là Chúa Tiên. - Mở rộng biên giới –Nam Tiến Năm Mậu Dần 1578 quân Chiêm Thành kéo đến đánh phá, Nguyễn Hòang phản công đánh chiếm thành An Nghiệp, Kinh Thành đồ sộ và kiên cố nhất của Chăm Pa. Năm Tân Hợi 1611 do quân Chăm Pa tiếp tục quấy phá vùng Hoa Anh, Nguyễn Hòang sai Văn Phong đi dẹp, quân Chăm Pa bị đại bại, nên Vua Ponit của Chăm Pa phải rút phía Nam Đèo Cả. Sau vùng Hòa Anh được thành lập thành tỉnh Phú Yên. Cho tới khi Chúa Tiên mất, Giang Sơn họ Nguyễn trải dài từ Đèo Ngang ( Hòanh Sơn ) qua Đèo Hải Vân tới núi Đá Bia gần Đèo Cả ( Khánh Hòa). Diện tích 2 Xứ Thuận - Quảng rộng khỏang 15000km2. Mở rộng Ngọai Thương Nắm được lòng dân để đưa Đàng Trong phát triển, Nguyễn Hòang đã cho mở rộng Ngọai Thương, hướng tầm nhìn ra Biển. Dưới Thời Nguyễn Hòang thuyền buôn các Nước đến nhiều, nhất là Nhật. Trấn Thuận - Quảng trở thành một nơi đô hội. Năm Kỷ Sửu 1589 Ông cho thành lập Phố Nhật, năm Mậu Thân 1608 thành lập Phố Khách làm cho Cảng Thị Hội An trở thành Thương Cảng Quốc Tế lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ !. Trong suốt 55 cai trị Thuận - Quảng Ông vừa là Vị Tướng mưu lược, vừa là Vị Chúa khôn ngoan lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và lo phát triển Kinh Tế, cho nên dân chúng cảm mến gọi Ông là Chúa Tiên ( khác xa với Chúa Tiên Trịnh Tùng ở Bắc ) dù đương thời Ông chỉ có chức Đoan Quận Công !. Đánh giá về Tài Trí và Đức Độ của Nguyễn Hòang, nhà Bác Học Lê Qúy Đôn đã viết : « Đoan Quận Công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đóan kẻ hung dữ. Quân Dân 2 Xứ thân yêu tin phục, cảm nhận mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán 2 giá, người không ai trộm cắp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngọai quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp ».

2) Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên)

Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ 6 của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng - sinh năm Qúy Hợi 1563 chết năm Ất Hợi 1635 khi Vận Số vào Năm Tuổi 73+Hạn La Hầu+Kình Đà. Lên ngôi năm Qúy Sửu 1613 ( Vận Thái Tuế ), trị vì 22 năm ( 1613-1635). Năm Qúy Sửu 1613 Chúa Tiên mất, Chúa Sãi ( Nguyễn Phúc Nguyên ) lên nối nghiệp Cha làm trấn thủ Thuận Hóa và Quảng Nam, lúc đầu vẫn còn tôn thờ nhà Lê, được tước phong Thái BảoThụy Quận Công – cũng như theo lệ như Chúa Tiên hàng năm vẫn đóng Thuế và các quan lại dưới quyền đều do ngoài Bắc gửi vào. Đến năm Qúy Hợi 1623, Trịnh Tùng mất ; Chúa Sãi nói với các quan : «  Ta muốn nhân dịp này ra đánh Họ Trịnh, nhưng hiềm vì công việc chưa xong, vậy thì hãy sai người ra phúng điếu, trước là cho phải nghĩa Hôn Nhân với nhau, sau là nhân thể xem tình ý ngòai Bắc ra sao !». Từ trước năm 1623 việc nộp thuế lúc có, lúc không - nại cớ mất mùa – tuy vẫn tiếp Sứ Giả của Vua Lê và Chúa Trịnh rất niềm nở. Cho đến khi Tùng mất Chúa Sãi mới bỏ lệ nộp thuế - đó là nguyên nhân gây ra Cuộc Phân Tranh Trịnh- Nguyễn kéo dài 46 năm !. Trịnh - Nguyễn phân tranh ( 1627 -1673 )
-Lần I : Cuộc chiến tại Sông Nhật Lệ ( từ tháng 3 đến tháng 4/1627 ). Trịnh Tráng đã chuẩn bị từ giữa năm Bính Dần1626 đến tháng 3/1627 đem 61000 quân ( Thủy Binh : 600 thuyền chở quân + 500 thuyền trở Lương Thực- Bộ Binh có 500 voi và ngựa) cùng Vua Lê Thần Tông xuất chinh lấy cớ Chúa Sãi ( Hạn La Hầu +Kình Đà ) không chịu nạp thuế !. Bên Chúa Sãi chỉ có độ 40000 quân ( vì dân số còn lưa thưa ) với 133 chiến thuyền và 750 con voi có cả súng Đại Bác ( do người Bồ Đào Nha Jean de la Croix lập Lò đúc súng từ năm 1614 ). Hai bên dàn trận ở 2 bờ Sông Nhật Lệ. Quân Trịnh xông sang đánh trước bị Đại Bác của quân Nguyễn làm chết một mớ, Trịnh phải lui. Rồi quân Nguyễn xông sang đánh sau, cũng bị quân Trịnh dùng Đại Bác ( mua của Bồ Đào Nha) làm chết một mớ, quân Nguyễn phải lui. Sau quân Nguyễn tung voi ra đánh nữa, quân Trịnh chết một phần – hai bên tạm nghỉ. Quần nhau 4 tháng không phân thắng bại, quân Nguyễn tung tin ở Đông Kinh có 2 em của Trịnh Tráng nổi lọan ; Tráng sinh nghi lui binh, rồi rước Vua trở về !.
-Lần II : Cuộc chiến tại Lũy Thầy năm Qúy Dậu 1633. Năm Kỷ Tỵ 1629 Trịnh Tráng nhân danh Vua Lê Thần Tông sai sứ đem sắc vào Phúc An gia phong cho Chúa Sãi tước Thái Phó Quốc Công và gọi Chúa ra Bắc để đánh giặc – nhưng thực ra là kế trá hòa : nếu Chúa Sãi ra Bắc thì tìm cớ thủ tiêu hay ít nhất cầm chân ở đất Bắc như ( Tùng đã làm với Nguyễn Hòang hồi 1593-1600 ). Theo lời khuyên của Đào DuyTừ ( sinh năm Tân Mùi 1571 chết năm Giáp Tuất1634 : Hạn La Hầu 64t+Kình Đà ) Chúa Sãi chỉ nhận sắc để Tráng đỡ nghi ngờ, nhưng thối thác không ra Bắc. Từ 1629 đến 1631 Đào Duy Từ xây xong 2 Đồn Lũy ở 2 bờ Sông Nhật Lệ gọi chung « Định Bắc Trường Thành  » dân chúng gọi là Lũy Thầy : một Lũy Trường Dực ở bờ Nam dài 10km, cao 3m ; một Lũy Đồng Hới ở bờ Bắc dài 36km, cao 6m. Năm Canh Ngọ 1630 khi Đồn Lũy Trường Dực vừa xây cất xong, Chúa Sãi theo kế của Đào Duy Từ sai Sứ sang Đông Kinh dâng Cống Phẩm cho Vua Lê Chúa Trịnh , nhưng sự thực trả lại Sắc Thư. Bản Sắc Thư được để trong Mâm Đồng 2 đáy , trên để phẩm vật, dưới để Sắc Thư. Sứ Giả được Chúa Trịnh tiếp đãi niềm nở, nhưng vội vàng bỏ trốn ra về. Chúa Trịnh sinh nghi, cho mở mâm, lôi ra thấy Sắc Vua Lê và 4 câu thơ chữ Nho - mới đầu không ai hiểu – sau có người ghép lại ý nghĩa của 4 câu thơ là : «  Dư bất thụ Sắc » nghĩa Nôm là không nhận Sắc Thư. Trịnh Tráng giận lắm , muốn cử binh đi đánh Chúa Sãi ngay, nhưng hồi đó ngoài Bắc đang có giặc giã nên lại thôi. Ngay sau khi trả Sắc, Chúa Sãi đem quân chiếm đóng Nam Ngạn Sông Gianh. Năm Tân Mùi 1631 người con trai của Chúa Sãi tên Nguyễn Phúc Anh đang trấn thủ Qủang Nam muốn cướp ngôi Cha bí mật liên lạc với Trịnh Tráng, hẹn sẽ xin Cha cho ra trấn thủ Qủang Bình, sẽ làm nội ứng - chừng nào tới cứ bắn Đại Bác làm hiệu - Anh sẽ nổi dậy. Nào ngờ một tâm phúc của Anh mật báo với Chúa Sãi biết nên cầm chân Anh ở Quảng Nam. Đương Mùa gió bắc thổi, tưởng có nội ứng Tráng liền cử Đại Binh Thủy Bộ mở Cuộc Nam Chinh hồi tháng chạp năm 1633. Đến Cửa Nhật Lệ ( chân Lũy Đồng Hới), Tráng bắn Đại Bác làm hiệu cho Anh. Đợi hơn 10 ngày chẳng thấy động tĩnh, Tráng sinh nghi, vội lui quân để nghe ngóng!. Đợi thêm 10 ngày nữa, quân lính sinh ra lười biếng ; Tướng Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật mới xuất kỳ bất ý, đổ quân đánh đuổi. Tráng thấy sự không thành nên lui binh. Thừa cơ quân Nguyễn chiếm Nam Bố Chính. Chấn Chỉnh Nội Trị, mở rộng Biên Giới Một năm sau khi lên Ngôi Chúa ( 1614 ) Chúa Sãi chủ tâm Độc Lập không phụ thuộc vào Miền Bắc, nên quyết định bỏ Đô Ty, Thừa Ty, Hiếu Ty là thiết chế quân sự của hệ thống chính quyền Nhà Lê. Các Quan hồi trước đều do Miền Bắc bổ vào, năm Canh Ngọ 1630 Chúa Sãi đuổi hết các Quan của Chúa Trịnh đã cử vào Nam về Bắc ; năm Nhâm Thân 1632 Chúa cho mở Khoa Thi để lấy người vào các Chức Vụ Tri Phủ, Huấn Đạo, Lễ Sinh. Trước đó năm Tân Mùi 1631 Chúa đã cho lập Sở đúc Súng Đại Bác, mở trường bắn, trường tập Voi, Ngựa, cứ hàng năm tập luyện để chuẩn bị chiến tranh. Năm Canh Thân 1620, Chúa gả con gái của mình là Công Chúa Ngọc Vạn cho Quốc Vương Chân Lạp Chey Chettha II. Dưới sự bảo trợ của Hòang Hậu Ngọc Vạn cư dân Thuận - Quảng được vào sinh sống làm ăn ở Khu Vực Sông Đồng Nai một ngày một đông. Năm Qúy Hợi 1623 Chúa đã thương lượng thành công với Quốc Vương Chân Lạp tiến hành lập 2 Thương Điếm là PreiNokor ( tên cũ gọi Saigon, ở vị trí Chợ Lớn ) và Kas Krobey ( vùng Bến Nghé xưa – Saigon ngày nay). Năm Tân Mùi 1631gả Công Chúa Ngọc Hoa cho Vua Chiêm Porome - nhờ đó có sự hòa hiếu giữa Chiêm-Việt. Chúa Sãi ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, dũng lược; năm 20t là Tướng Chỉ Huy 1 Đội Thủy Quân đánh thắng 5 chiếc Tàu của Ngọai Bang đến cướp phá Cửa Việt. Năm 40t được giao Trấn Thủ Quảng Nam - là vị Chúa đầu tiên mang tên Nguyễn có ghép chữ Phúc, cũng là vị Chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp Đàng Trong của Nhà Nguyễn với ý Chí Cương Quyết tạo nên Xứ Đàng Trong Độc Lập Tự Chủ. Ông đã chỉnh đốn việc cai trị, củng cố Quốc Phòng, biết dùng người tài để chăm lo việc nước nên nhân dân được An Cư Lạc Nghiệp. Theo bước Chúa Tiên xây dựng Hội An thành Thương Cảng có tầm vóc Quốc Tế ; phát triển đất nước về mọi mặt, mở mang bờ cõi xuống tận khu vực Đồng Nai Saigon thuộc Miền Đông Nam Bộ. Năm Ất Hợi ( 19/11/1635) thấy người mệt bèn triệu Thế Tử Tần và em trai Nguyễn Phúc Khê vào chầu để gởi gấm Thế Tử, Chúa ở ngôi 22 năm thọ 73t.

3) Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan)

Nguyễn Phúc Lan là con thứ hai của Chúa Sãi, vì con Trưởng Phúc Kỳ mất trước ( năm 1631) , nên Ông được được lập làm Thế Tử. Năm Ất Hợi 1635 Chúa Sãi mất, Ông lên nối ngôi ( Vận Thái Tuế ). Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan là Chúa đời thứ 3, sinh năm Tân Sửu ( 13/8/1601 ), mất năm Mậu Tý ( 19/3/1648 ) trị vì 13 năm ( 1635-1648 ), thọ 47t ( Hạn Tam Tai + Kình Đà ). Khi nghe tin Ông lên ngôi, Em Trai là Nguyễn Phúc Anh đang trấn thủ Quảng Nam bí mật xin đầu hàng Chúa Trịnh ( việc phản nghịch cũng đã xảy ra hồi Chúa Sãi – nhưng Chúa Sãi bỏ qua) – Phúc Anh cho đắp Lũy Cu Đê để cố thủ, dàn Thủy Quân ở Đà Nẵng để chống lại. Chúa Thượng cho mời Chú mình là Quận Công Nguyễn Phúc Khê vào bàn. Ông Khê cứng rắn, quyết đánh, kéo quân vào đánh bắt được Phúc Anh, lấy nghĩa « anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn  » rồi đem giết đi. Năm Bính Tý 1636 Chúa cho dời Phủ từ làng Phước Yên qua làng Kim Long ( Huế ). Cùng năm đó Chúa chấp thuận cho người Hòa Lan tự do giao thương với Xứ Đàng Trong. Người Hòa Lan mở Thương Điếm tại Hội An. Trịnh Nguyễn phân tranh Lần 3 tại 2 bờ Sông Gianh năm Qúy Mùi 1643 Tháng 2 năm 1643 Chúa Trịnh sai quân đánh Nam Bố Chính, giết Tướng Nguyễn Bùi Công Thắng, chiếm được Nam Bố Chính rồi tiến lên đóng ở Cửa Nhật Lệ ( nên nhớ, trước đó tháng 6/1640 Chúa Thượng đã chiếm được Bắc Bố Chính, nhưng sau Trịnh Tráng nói về tình nghĩa lâu đời, xin trả lại, Chúa Thượng đã thuận trả ). Tháng 4 năm 1643 Chúa Trịnh tiến đánh Lũy Trung Hòa. Hai bên đối trận, chưa thắng bại ; gặp lúc Mùa Hè Khí hậu oi bức quân Trịnh bị bệnh nhiều, nên Trịnh rút quân. Tháng 6 năm 1643 theo đề nghị của Chúa Trịnh 3 Tàu Chiến của Hòa Lan tiến vào Cửa Thuận An đánh Chúa Nguyễn. Thế Tử Tần chỉ huy hơn 50 tàu đột kích bất ngờ : 1 Tàu bị va vào đá ngầm bị chìm, 1 Tàu bị vây hãm, Thuyền Trưởng tự đốt Tàu tự vẫn cùng nhiều Thủy Thủ ; Tàu còn lại chạy thóat về Đảo Ngọc. Năm Đinh Hợi 1647 thấy tình hình Xứ Thuận - Quảng ổn định, Chúa Thượng cho mở Khoa Thi để chọn nhân tài. Trịnh Nguyễn phân tranh Lần 4 năm Mậu Tý 1648 Tháng 2 âm lịch năm Mậu Tý 1648 Trịnh Tráng sai Quận Công Lê văn Hiểu khởi binh Nam tiến ; bộ binh đóng ở Nam Bố Chính còn Thủy quân đóng ở Cửa Nhật Lệ. Quân Trịnh tiến đánh Quảng Bình, lúc đầu Quân Nguyễn thua to. Chúa Thượng cùng Thế Tử Tần đem quân cứu viện ; Thủy Quân phục sẵn ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang 100 con voi đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm, quân Bộ tiếp theo sau vào đánh phá. Quân Trịnh thua lớn, bị Thủy Quân Nguyễn chặn đánh đến tận Sông Lam mới thôi !. Tháng 3 âm lịch cùng năm quân Nguyễn định vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bố Chính, nhưng nghe tin Chúa Thượng ngã bệnh ( Hạn Tam Tai+Kình Đà ) chết trên thuyền, trên đường về Thuận Hóa, nên phải rút lui !.

4) Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần)

Chúa Hiền là con thứ 2 của Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, là Chúa đời thứ 4 – sinh năm Canh Thân ( 18/7/1620 ) mất năm Đinh Mão ( 30/4/1687 ) khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 67+Tam Tai+Kình Đà, lên ngôi năm Mậu Tý 1648 ( Vận Thái Tuế ), trị vì 40 năm ( 1648-1687). Ông là vị Chúa có tài ( khi còn là Thế Tử đã cầm quân đánh thắng quân Trịnh và Hòa Lan ), có đức độ vì trong thời gian trị vì, nhiều vùng đất được mở mang, các Kênh Lạch được khơi đào, bờ cõi vô sự, thóc lúa được mùa, nhân dân ngợi khen là thời Thái Bình. Trịnh Nguyễn phân tranh Lần thứ 5 : ở Bắc Bố Chính trong 6 năm ( 1655-1660) Tháng 5/1655 Tướng Trịnh ở Bắc Bố Chính là Phạm Tất Toàn đem quân vượt Sông Gianh để tái chiếm Nam Bố Chính. Chúa Hiền liền sai 2 Tướng tài là Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật đem quân đối chiến đuổi quân Trịnh sang tới Bắc Bố Chính. Tòan thua phải đầu hàng. Tháng 8/1655 quân Nguyễn đã chiếm 7 Huyện ở phía Nam Sông Cả. Trịnh sai quân tái chiếm – đánh nhau 5 năm trời không kết quả ; đến năm 1660 vì lủng củng nội bộ bên phe Nguyễn giữa 2 Tướng Tiến và Dật, quân Trịnh chiếm lại 7 Huyện. Trịnh Nguyễn phân tranh Lần thứ 6 : ở 2 Lũy Trấn Ninh và Đồng Hới - mùa Đông năm Tân Sửu 1661 và mùa Xuân năm Nhâm Dần 1662. Tháng 11/1661 Trịnh Tạc lại rước Vua Lê Thần Tông vượt Sông Gianh tái chiếm được Nam Bố Chính, rồi tiến đến gần Sông Nhật Lệ thì bị Tướng Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật chặn giữ , lại có đắp thêm Lũy Trấn Ninh ở bờ Nam Sông Nhật Lệ song song với Lũy Đồng Hới. Quân Nguyễn cố thủ. Đến tháng 4/1662 quân Trịnh mệt và hết lương nên lui binh; quân Nguyễn lấy lại Nam Bố Chính. Trịnh Nguyễn phân tranh Lần thứ 7 : ở trước Lũy Trấn Ninh – Mùa Thu-Đông năm Nhâm Tý 1672. Sau khi thanh tóan được Họ Mạc và tái chiếm Cao Bằng, thì Trịnh Tạc đã hoàn tòan chiếm được Bắc Việt. Tháng 7/1672 Trịnh Tạc cùng con cả là Trịnh Căn rước Vua Lê Gia Tông 11 tuổi đem Đại Binh vào Nam : tháng 10 vượt Sông Gianh tái chiếm dễ dàng Nam Bố Chính. Vì có chuẩn bị trước Chúa Hiền sai Công Tử Nguyễn Phúc Hiệp đem Thủy Lục quân lên nghênh chiến ở Lũy Thầy, Chúa Hiền theo sau trợ chiến. Hai bên đánh nhau rất hăng ở Lũy Trấn Ninh, tuy Quân Trịnh chiếm được các Lũy nhỏ như Sa Phụ và Lũy Ngang nhưng chưa đến được Lũy Đồng Hới. Thành Trấn Ninh sắp bị phá vỡ thì Tướng Nguyễn Hữu Dật đến cứu. Mùa Đông đến, mưa nhiều và rét, Trịnh Căn lại bịnh nặng; Chúa Trịnh bèn rước Vua Lê về Bắc Bố Chính để lại Tướng Lê Thời Hiến đánh Trấn Ninh- ba lần không được phải rút về Nghệ An. Hai bên ngưng chiến trong 100 năm. Mở rộng Bờ Cõi Chăm Pa ( Chiêm Thành ) Năm 1631 Chúa Sãi gả Công Chúa Ngọc Hoa cho Vua Chiêm Porome, năm 1651 Porome mất , em cùng cha khác mẹ PoNraup lên kế vị. Năm 1653 PoNraup sang quấy nhiễu ở Phú Yên, Chúa Hiền sai Hùng Lộc đem 3000 quân sang đánh – nhân lúc đêm tối phá được thành, PoNraup bỏ chạy, rồi sai con là Xác Bà Ân dâng thư xin hàng. Chúa Hiền ưng thuận lấy sông Phan Rang làm biên giới : Vùng phía Đông Sông đến địa đầu Phú Yên đặt làm 2 Phủ Thái Khang ( Ninh Hòa ) và Diên Ninh ( Khánh Hòa), phần phía Tây vẫn thuộc về Chăm Pa và bắt giữ lệ Cống !. Chân Lạp Bên cạnh Chiêm Thành , Chân Lạp lúc bấy giờ cực kỳ rối ren, chú cháu, anh em tranh quyền đọat vị, tàn sát lẫn nhau, năm 1642 vị Vua mới Nặc Ông Chân theo Đạo Hồi gây ra xung đột gữa các tầng lớp nhân dân !. Năm 1658 hai anh em Ang Sur và Ang Nan khởi binh chống Nặc Ông Chân, nhưng thất bại. Hai người này theo lời khuyên của Thái Hậu Ngọc Vạn đã cầu cứu Chúa Hiền. Chúa Hiền sai Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước ( nay thuộc vùng Bà Riạ Vũng Tàu ) phá được thành, bắt được Nặc Ông Chân bỏ vào Cũi Sắt mang về giam ở Quảng Bình. Năm 1659 Nặc Ông Chân được phóng thích – bắt phải triều cống và bênh vực người Việt sang làm ăn ở Chân Lạp ( nghĩa là không chiếm đất ). Năm 1660 Nặc Ông Chân chết Chúa Hiền phong Batom Reachea làm Vua Chân Lạp – ông này bị thích khách giết, con là Nặc Ông Đài giết được thích khách lên làm Vua, nhưng lại dựa thế Vua Xiêm để đánh chiếm lại vùng Prey Kor và Kas Krobey ( tức Chợ Lớn – Saigon), lập Đồn Lũy ở Mô Xòai chống Chúa Việt. Năm 1674 Chúa Hiền cho quân sang tái chiếm Mô Xòai và Saigon - Chợ Lớn rồi tiến lên Oudong. Nặc Ông Đài bỏ thành chạy , sau bị thủ hạ giết chết. Chúa Hiền lập em Batom Reachea lên làm Vua tên là Ang Non ( Nặc Ông Nộn). Nhưng con thứ của Batom Reachea là Ang Sur ( Nặc Ông Thu ) cũng xin cầu phong với Chúa Hiền. Chúa coi y là dòng chính – nên cho làm Vua ở Oudong và cho Nặc Ông Nộn làm vua ở Prey Nokor ( tức Chợ Lớn). Cả 2 vua của Chân Lạp đều thần phục Chúa Hiền và phải cho người Việt sang lập nghiệp !. Năm 1679 Chúa Hiền bỗng có một đồng minh bất ngờ đến giúp để «  thuộc địa hóa » miền Đông Nam Chân Lạp – đó là Dương Ngạn Địch, Tổng Binh đất Long Môn của Nhà Minh - chống Nhà Thanh, bỏ đi lưu vong tị nạn – kéo 3000 quân đi trên 50 chiếc Thuyền đến Xứ Đàng Trong xin tỵ nạn. Vì ngại đụng chạm với Nhà Thanh nên Chúa Hiền sai sứ đưa thư cho Nặc Ông Nộn ở Prey Nokor yêu cầu cấp đất đai cho bầy tôi mới. Nhóm người Minh Hưong này được đưa về Đồng Nai và Mỹ Tho lập nghiệp.

5) Chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Trăn hay Thái)

Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái là con thứ 2 của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sinh năm Kỷ Sửu ( 22/1/1650 ) mất năm Canh Ngọ ( 7/2/1691 ) : Hạn Kế Đô 43+Kình Đà. Lên ngôi năm Đinh Mão 1687 ( Vận Thái Tuế ) ở ngôi Chúa 4 năm ( 1687-1691). Tháng 7 năm 1690 Chúa cho dời Dinh về Phú Xuân lấy Núi Ngự Bình làm bình phong xây Cung Điện , thành quách rất tráng lệ. Vùng Phú Xuân rộng rãi, bề thế hơn Kim Long, Sông Hương trở nên rộng chảy qua Kinh Thành và chính nơi này trở thành Kinh Đô của Vương Triều Nguyễn sau này ( rất hợp về Phong Thủy : trước mặt Sông Hương « Minh Đường tụ Thủy », sau dựa lưng vào Núi Ngự Bình « Huyền Vũ vững chắc »). Năm Mậu Thìn 1688, Phó Tướng Long Môn là Huỳnh Tấn giết Chủ Tướng là Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho. Đồng thời 2 Vua Chân Lạp là Nặc Ông Thu ở Oudong và Nặc Ông Nộn ở Prey Nokor xung đột nhau. Nặc Ông Thu theo Vua Xiêm ; Nặc Ông Nộn cầu cứu Chúa Nguyễn. Năm Kỷ Tỵ 1689 Chúa Nghĩa cho quân vào Chân Lạp - trước hết đánh giết Huỳnh Tấn vì tội ám sát Chủ Tướng, sau là đánh Nặc Ông Thu về tội theo Xiêm. Nặc Ông Thu lại xin hàng, đưọc Chúa Nguyễn cho làm Vua trở lại và theo lệ phải triều cống ; trong khi đó, Nặc Ông Nộn thì mất chức Phó Vương, nhưng được sống tự do hòa hảo với Nặc Ông Thu. Quyền chỉ huy Long Môn ở Mỹ Tho được trao cho Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai kiêm lãnh. Như vậy trong thực tế miền Đông Chân Lạp thuộc về Chúa Nguyễn - phần còn lại Vua Chân Lạp Nặc Ông Thu vẫn còn đủ chủ quyền với tư cách là Chư Hầu của Chúa Nguyễn.

6) Chúa Minh ( Nguyễn Phúc Chu )

Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu là con trưởng của Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái sinh năm Ất Mão ( 11/6/1675 ), mất năm Ất Tỵ ( 1/6/1725 ) thọ 50t ( Hạn Tam Tai ), lên ngôi năm Tân Mùi 1691 ( lúc 17t : Vận Thái Tuế ) là Vị Chúa đời thứ 6, trị vì 34 năm ( 1691-1725). Minh Vương là vị Chúa hiền và có tài. Khi mới lên ngôi Ông quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nghe lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má lao dịch, bớt hình ngục. Ông còn cho xây dựng 1 loạt chùa chiền, miếu mạo, mở Hội lớn ở Chùa Thiên Mụ. Vì muốn Độc Lập Tự Chủ không lệ thuộc Lê Trịnh, Ông cho người sang Tàu xin Vua Thanh phong Vương, Vua Thanh có ý chịu, nhưng Quyền Thần can ngăn - lấy cớ miền Bắc còn có Vua Lê – nên việc cầu phong không có kết qủa. Năm Qúy Dậu 1693 lấy xong đất Chiêm Thành ( Vận Thái Tuế ) lập ra tỉnh Bình Thuận ngày nay. Mùa Thu 1699 tra xét bắt Đạo Thiên Chúa, buộc người Phương Tây phải về nước. Năm 1708 Mạc Cửu đem đất Hà Tiên về quy phục, Chúa phong Mạc Cửu là Tổng Binh Hà Tiên, giúp phương tiện xây thành trì và tuyển mộ binh sĩ. Về mặt Bắc tuy không đánh nhau với Trịnh, nhưng vẫn lo phòng ngự. Về mặt Nam đất đai được khai khẩn đến biên giới Chân Lạp.

7) Chúa Ninh ( Nguyễn Phúc Trú )

Chúa Ninh Nguyễn Phúc Trú ( hay Thụ ) là con Trưởng của Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu sinh năm Bính Tý ( 14/1/1697 ) lên ngôi năm 29t ( 1725 ) là vị Chúa đời thứ 7, mất năm Mậu Ngọ ( 7/6/1738 ) khi Vận Số đi vào Hạn Kế Đô 43t+Kình Đà, ở ngôi Chúa 14 năm ( 1725-1738 ). Năm Tân Hợi 1731 Vua Miên là Nặc Ông Yêm ( con Nặc Ông Nộn ) được quân Việt giúp đỡ chống với Nặc Ông Thâm ( con Nặc Ông Thu ), sau khi thắng trận ông nhường cho Chúa Nguyễn 2 tỉnh Me So ( Mỹ Tho ) và Long Hor ( Vĩnh Long ). Năm Ất Mão 1735 Mạc Cửu mất ( Hạn La Hầu +Kình Đà )con là Mạc Tứ ( mẹ Việt) được Chúa Ninh cho kế nghiệp làm Đô Đốc Hà Tiên, lại ban đặc ân sửa họ tên thành Mạc Thiên Tích, chính Tích sau này giúp các Chúa Nguyễn lấy thêm các đất của Chân Lạp.

8) Chúa Võ (Nguyễn Phúc Khóat)

Chúa Võ Nguyễn Phúc Khóat là con Trưởng của Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú sinh năm Giáp Ngọ 1714 lên ngôi năm Mậu Ngọ 1738 ( Vận Thái Tuế ), mất năm Ất Dậu 1765 khi Vận Số đi vào Hạn Kế Đô 52t+Tam Tai +Kình Đà, ở ngôi 28 năm ( 1738-1765). Chúa Võ là Ông Nội của Vua Gia Long, vị Chúa đầu tiên trong dòng Chúa xưng tước Vương, gọi là Võ Vương, được nhiều nhân tài phò tá, nổi bật nhất là Tướng Nguyễn Cư Trinh, nhờ đó mà việc Nội Trị và Ngọai giao tốt đẹp – cũng là vị Chúa hòan thành cuộc Nam Tiến !. Năm Nhâm Thân 1752 Vua Miên là Ang Snguon ( Nặc Ông Nguyên ) thường hay hà hiếp người Côn Man ( tức người Chàm bỏ Xứ Đàng Trong tị nạn ở Chân Lạp ), lại thông sứ với Chúa Trịnh ở ngoài Bắc để lập mưu đánh Võ Vương. Võ Vương nhân danh là Chúa dân Chàm sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh ; Nặc Ông Nguyên thua, chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tích xin hộ, để nộp 2 Xứ Tầm Bôn ( Long An ) và Lôi Lạp ( Gò Công ) để chuộc tội. Võ Vương nghe kế «  tằm thực : tằm ăn lá dâu » của Nguyễn Cư Trinh, nên ưng thuận. Năm Đinh Sửu 1557 vua Miên mới là Nặc Ông Nhuận dâng nộp cho Võ Vương các đất Preah, Trapeang ( nay là Trà Vinh và Bến Tre) và Bassac ( Sóc Trang ) để cầu xin ủng hộ - vừa nộp đất xong thì bị con Rể là Nặc Ninh giết để chiếm ngôi ( 1559 ). Nặc Ông Tôn con của Nhuận chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tích cầu cứu với Võ Vương. Võ Vương sai tướng sang diệt được Nhuận rồi đem Tôn về làm Vua. Để đền ơn Tôn dâng Võ Vương đất Tầm Phong Long ( nay là Châu Đốc và Sadec ) lại hiến choTích 5 Phủ - Tích dâng lại cho Võ Vương – Võ Vương sai sát nhập vào trấn Hà Tiên do Tích quản trị. Tích lại xin lập các Đạo Kiên Giang ( nay là Rạch Giá ) và Long Xuyên ( nay là Cà Mâu ), đặt quan cai trị rồi chiêu tập Dân đến ở. Thế là từ năm Kỷ Mão 1759 toàn cõi Đông Nam Thủy Chân Lạp trở thành đất của Xứ Đàng Trong.

9) Chúa Định (Nguyễn Phúc Thuần)

Vị Chúa cuối cùng của Nghiệp Chúa. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần sinh năm Giáp Tuất ( 31/12/1754 ) là con thứ 16 của Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat lên ngôi năm Ất Dậu 1765 bị Tây Sơn giết chết năm Đinh Dậu ( 18/10/1777 ) khi Vận Số đi vào Hạn Tam Tai +Kình Đà - ở ngôi 13 năm ( 1765-1777).

Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat lúc đầu lập Hòang Tử thứ 9 là Nguyễn Phúc Hiệu làm Thế Tử, nhưng Hiệu mất sớm, con trai là Nguyễn Phúc Dương còn nhỏ ; Hòang Tử Cả là Chương cũng đã mất, nên lập Hòang Tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân lên ngôi Thế Tử. Võ Vương mất, quyền thần Trương Phúc Loan cùng 1 số gian thần khác không muốn lập Phúc Luân lên ngôi do đã lớn tuổi, sợ khó điều khiển, nên đổi Di Chiếu lập Cháu Ngọai là Phúc Thuần 12t. Luân không những được lên ngôi, lại bị Loan bỏ tù ( Nguyễn Phúc Luân tuổi Qúy Sửu 1733 là cha của Vua Gia Long sau khi ra tù, chết tại Phủ Đệ năm 33t – khi Gia Long lên ngôi Ông được truy tôn Hưng Tổ Khang Hòang Đế ). Định Vương lên ngôi còn nhỏ, nên mọi quyền hành đều do Ông Ngọai Trương Phúc Loan thao túng, tự xưng là Quốc Phó. Thuế sản vật và các mỏ vàng đều rơi vào tay Loan. Lại Bộ Thượng Thư Nguyễn Cư Trinh ( Nguyễn Cư Trinh vừa là Danh Tướng và Danh Sĩ thời Võ Vương, nổi tiếng là thanh liêm, giỏi việc Chính Trị, Doanh Điền và Ngọai Giao, kiêm cả Ngự Sử sinh năm Bính Thân 1716, mất vì bệnh năm Đinh Hợi 1767 khi Vận Số đi vào Hạn Kế Đô 52t ), cột trụ của Triều Nguyễn qua đời ( 5/1767 ), họ Trương không còn ai ngăn trở ra sức lộng hành, mua quan bán tước, ăn tiền tha tội, hình phạt phiền nhiễu, thuế má nặng nề, nên dân tình đói khổ và óan hận nổi lên chống đối khắp nơi !.

Năm Tân Mão 1771 Nguyễn Nhạc cùng 2 em Lữ và Huệ bành trướng thế lực tại Ấp Tây Sơn, trong rừng đồi An Khê là nơi có khá nhiều tài nguyên về người cùng voi, ngựa, sắt, gỗ và diêm sinh, dựng chiêu bài «  diệt Trương Phúc Loan phò Chúa Nguyễn ». Năm Qúy Tỵ 1773 Nhạc lập kế tự ngồi vào cũi, cho binh lính giả làm dân quê đưa vào trong thành Quy Nhơn nạp Quan Tuần Phủ, rồi đến đêm phá cũi, mở cửa thành cho Huệ dẫn quân Tây Sơn tràn vào đánh chém, giết được quan Tuần Phủ và chiếm Quy Nhơn làm Đại Bản Doanh. Lại có 2 người khách buôn là Tập Đình và Lý Tài cũng mộ binh theo giúp. Chỉ chưa đầy 1 năm, Tây Sơn đã chiếm được Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận ở phía Nam và tiến chìếm Quảng Ngãi ở phía Bắc.

Trong thời gian đó, một Tôn Thất họ Nguyễn là Nguyễn Phúc Vân lọt ra Bắc vạch cho Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm ( Vị Chúa Trịnh thứ 9 tuổi Kỷ Mùi 1739 ở ngôi 16 năm, mất năm Nhâm Dần 1782 khi Vận Số đi vào Hạn Kế Đô43t+Kình Đà ) tình trạng suy sụp của Đàng Trong : nào Trương Phúc Loan chuyên quyền tham nhũng, mất lòng dân, nào Tây Sơn đã chiếm hết vùng Nam Bắc Quy Nhơn. Lúc đó Trịnh Sâm đã dẹp xong 2 lọan lớn ở Đàng Ngòai thấy đây là dịp tốt để thống nhất 2 miền Nam Bắc dưới quyền của họ Trịnh, nhất là Xứ Đàng Trong đã được mở rộng tới đất Hà Tiên với Đồng Bằng Sông Cửu Long đầy phong phú và màu mỡ !. Sâm bèn huy động 3 quân, dốc tòan lực mở cuộc Nam Chinh sau hơn 100 năm hưu chiến. Đại Tướng Hòang Ngũ Phúc tức Quận Việp được cử thống lĩnh 36000 quân cùng nhiều tướng tài như Quận Thạc Hòang Phùng Cơ, Quận Huy Hòang đình Bảo, tướng Hòang đình Thể, thêm 1 tùy tướng của Quận Việp là Nguyễn Hữu Chỉnh ( tức Cống Chỉnh sinh năm Tân Dậu 1741 bị tướng Tây Sơn Vũ văn Nhậm « xé sác » năm Đinh Mùi 1787 : Hạn La Hầu ) , khởi hành tháng 5 năm Giáp Ngọ 1774 tiến tới Nghệ An rồi Bắc Bố Chính. Quận Việp rải Hịch sang bờ Nam sông Gianh, nói quân Triều Đình vào Đàng Trong - chỉ với mục đích diệt trừ quyền thần chuyên chế Trương Phúc Loan và quân Tây Sơn, đem lại an cư lạc nghiệp cho tòan thể thần dân nhà Lê. Cuối tháng 10 năm Giáp Ngọ 1774 quân Trịnh vượt Sông Gianh vào Nam Bố Chính. Thế Tử Thiệp trấn thủ Nam Bố Chính rút quân về Đồng Hới ; nhiều quan lại của Nam Hà ra hàng. Định Vương vội vàng cho Thế Tử Nghiêm ra đón quân Bắc và mở tiệc khao quân « để làm kế hõan binh » đem vàng ra cho Quận Việp và các tướng Trịnh, nhưng vô hiệu !. Quận Việp tiến quân đến thành Trấn Ninh, các cai cơ mở cửa thành ra hàng ; Thế Tử Thiệp phải bỏ thành Đồng Hới ( tức Lũy Thày ) mà chạy. Quận Việp cho phá Lũy Thày. Chúa Trịnh nghe tin thắng trận, kéo Đại Quân từ Bắc xuống đóng ở Hà Trung để trợ chiến ; thời điểm đó Quận Việp đã chiếm hết Qủang Bình và tới Hồ Xá, phía Bắc Qủang Trị. Đầu tháng1/1775 Định Vương sai dẫn Phúc Loan đến hành Dinh Quận Việp để nộp xin hàng, cùng 1 tờ biểu dâng Chúa Trịnh 800 lạng vàng, biếu riêng Hòang Ngũ Phúc 200 lạng và nộp bản đồ, sổ sách để nạp trình Vua Lê. Đợi mãi không thấy Trịnh trả lời, Tướng Nguyễn là Tô Nhuận thấy quân Trịnh ít ỏi lại ăn mặc rách rưới bèn khinh thường, đem quân đánh úp tại Hồ Xá, nhưng đại bại.

Ngày 28 tháng Chạp năm Giáp Ngọ ( 3/2/1775) Quận Việp tiến quân sát thành Phú Xuân ; Định Vương sai Tống Phúc Hạp cố ngăn chặn ở Cửa Bắc để cho Chúa kịp thời giờ sửa sọan tàu bè và tiền của chạy trốn. Ngày 30/1/1775 thuyền Chúa Định cùng Cháu họ Nguyễn Ánh 13t lẩn qua Cửa Tư Dung ( Cửa Việt ), tiến ra bể chạy vào Qủang Nam. Đồng thời Cháu họ Phúc Dương rút bằng đường bộ qua Đèo Hải Vân vào Cửa Hàn với Chú. Ngày mồng 3 Tết Ất Mùi ( 3/2/1775) Quận Việp chiếm xong Phú Xuân. Lúc đó Chúa Trịnh Sâm đang đóng ở Hà Trung hay tin quân mình đã lấy được Phú Xuân, mừng lắm, sai quan đem ban cho Quận Việp 100 lạng Vàng và cho các Tướng Sĩ 5000 lạng Bạc. Chúa lại phong Quận Việp làm Đại Trấn Thủ đất Thuận Hóa để lo việc lấy đất Quảng Nam, rồi rút quân về Bắc.

Trong khi Định Vương rút tòan quân lo chống quân Trịnh ở mặt Bắc thì Tây Sơn đã dễ dàng chiếm Đạo Quảng Nam tháng 4/1775. Định Vương đang ở Bến Ván thấy Tây Sơn đánh ra, quân Trịnh ở Phú Xuân đánh vào bèn cùng Cháu Ánh đáp thuyền chạy vào Gia Định. Nguyễn Nhạc thấy Đông Cung Phúc Dương đang bơ vơ còn ở lại Câu Để thì cho quân đến dụ Đông Cung về Faifo, nói để cùng chống quân Bắc. Vừa khi ấy Quận Việp đem quân vượt Đèo Hải Vân đánh chiếm đồn Trung Sơn và Cầu Để mà Đông Cung vừa rời bỏ. Chạm chán với quân Tây Sơn ở Cẩm Sa – Tây Sơn đại bại phải lui về Quy Nhơn. Mặt khác Định Vương khi về Gia Định tập hợp quân sĩ ở Nam Hà sai Hòang Thân Nguyễn Phúc Nghĩa đem quân chiếm lại 3 Phủ Bình Thuận, Diên Khánh và Bình Khánh, rồi tiến binh ra Phú Yên. Nguyễn Nhạc lâm vào thế gọng kìm bèn trá hàng Quận Việp – xin nộp đất Quảng Ngãi, Quy Nhơn và Phú Yên và xin làm Tiền Khu đi đánh Họ Nguyễn. Quận Việp thấy binh lính ở lâu bắt đầu bị bệnh dịch, chính mình cũng thấy mệt mỏi, bèn xin Chúa Trịnh phong Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Vương. Nhạc thấy không lo về mặt Bắc nữa, bèn lập mưu đánh mặt Nam – đem con gái mình là Thọ Hương dâng cho Đông Cung Dương lúc đó 16t và khỏan đãi rất tôn kính - rồi sai người đến Phú Yên xin hàng Nguyễn Phúc Hiệp để lo khôi phục lại Phú Xuân. Hiệp tin thực vì có Đông Cung ở đó nên không phòng bị. Nhạc sai Huệ đem quân đánh bất ngờ,quân Nguyễn thua chạy - mất Phú Yên và mấy tỉnh phía Nam. Nhạc đưa tin thắng trận cho Quận Việp biết, Quận Việp bèn xin Chúa Trịnh phong Nguyễn Huệ làm Tây Sơn hiệu, Tiên Phong tướng quân. Mùa Đông năm Ất Mùi 1775 Quận Việp bị bệnh chết tại Phú Xuân, Hòang Phùng Cơ tạm thay thế, còn Quảng Nam Nguyễn Nhạc đương nhiên qủan trị với tư cách là quan nhà Lê.

Tây Sơn tiến chiếm Gia Định : Lần thứ I Mùa Xuân năm Bính Thân 1776 Nhạc sai Lữ đem quân đi đường bể vào Gia Định, chiếm được thành Sài Côn. Định Vương và Cháu Nguyễn Ánh chạy qua Biên Hòa về Miền Tây ( vùng Tây Ninh), rồi chạy xuống Hà Tiên. Lúc đó ở Đông Sơn ( vùng Gò Công ) có Đỗ Thành Nhơn khởi binh chống Tây Sơn, lấy lại được Sài Côn. Nhưng Lữ đã lấy hết thóc gạo trong các kho ở các tỉnh rồi rút về Quy Nhơn đem theo 200 Ghe lúa. Chúa Định lại được rước về Sài Côn.

Nguyễn Nhạc xưng Vương : Mùa Xuân năm Bính Thân ( 4/1776) khi Lữ chiếm được Gia Định, Nhạc thấy thế của mình đã vững tại cả 2 mặt Bắc Nam, bèn tự xưng làm Tây Sơn Vương. Song Ông vẫn khôn ngoan sai Sứ ra xin với Chúa Trịnh cho Trấn Thủ Quảng Nam. Trịnh Sâm lúc bấy giờ cũng chán việc dụng binh, bèn phong cho Nhạc làm Qủang Nam Trấn Thủ, Tuyên Úy Đại Sứ, Cung Quận Công, tức là 1 Đại Thần nhà Lê. Nhạc cho sửa lại thành Đồ Bàn của Chiêm Thành làm Kinh Đô, còn Đông Cung Dương khi ấy 17 t được đưa ra ở Chùa Thập Tháp. Mùa Thu Bính Thân 1776, Đông Cung xuống thuyền trốn vào Gia Định. Tướng Tàu Lý Tài khi đó đã bỏ Nhạc vào Gia Định, đem quân đón rước Đông Cung về Sài Côn tôn là Tân Chính Vương ( Vận Thái Tuế ) và tôn Định Vương lên làm Thái Thượng Vương để cùng lo việc khôi phục.

Tây Sơn tiến chiếm Gia Định lần thứ 2 ( bắt giết được 2 Chúa Nguyễn).

Cuối năm Bính Thân 1776, Nhạc tuy được Chúa Trịnh phong chức Quảng Nam trấn thủ, nhưng bề trong vẫn tự xưng là Tây Sơn Vương. Khi thấy con Rể Đông Cung Dương đã bỏ trốn vào Gia Định xưng làm Tân Chính Vương, tôn Chú Định Vương lên làm Thái Thượng Vương giữ đất đai phì nhiêu trong Nam và lo việc khôi phục. Nhạc bèn sai 2 em là Lữ và Huệ vào đánh chiếm Gia Định. Quân Nguyễn chia 3 cánh để ứng chiến : cánh quân Lý Tài ở Gia Định, gọi là « Quân Hòa Nghĩa  » bị thua bỏ chạy. Nguyễn Huệ tiến quân gấp xuống đánh Tân Chính Vương ở Bến Trà ( thuộc Định Tường), quân Nguyễn thua bỏ chạy về Ba Vát ( thuộc Vĩnh Long ). Huệ lại dồn hết quân xuống đánh Thái Thượng Vương ở Long Xuyên, bắt được xong rồi trở lại gấp, bắt được Tân Chính Vương ở Vĩnh long, đem giết cả hai tháng 10 năm 1777. Riêng Nguyễn Ánh chạy thóat nhờ Giám Mục Bá Đa Lộc cứu.

Bài Kỳ Sau :

II ) Vương Triều Nguyễn ( 9 đời Vua) từ Gia Long đến Bảo Đại.

Về đầu trang


Vương Triều Nguyễn - Phần II ( 13 đời Vua )

Thầy Phạm Kế Viêm



I) Vua Gia Long

Giai Đọan đời Chúa

Vua Gia Long tên thật là Nguyễn Phúc Ánh sinh năm Nhâm Ngọ ( 8/2/1762 ), vị Vua sáng lập Vương Triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Sau khi diệt nhà Tây Sơn, Ông lên ngôi Hòang Đế năm Nhâm Tuất 1802 ( Vận Thái Tuế ) ở ngôi 18 năm, mất vào cuối năm Kỷ Mão «  3/2/ 1820 » ( khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 58t+Kình Đà ). Ông là cháu Nội của Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat, con thứ 4 của Nguyễn Phúc Luân – Luân đã được di mệnh truyền ngôi – nhưng bị Trương Phúc Loan đổi Di Chiếu lập người con thứ 16 của Võ Vương là Nguyễn Phúc Thuần ( cũng là cháu Ngoại của Loan ) mới 12t lên làm Chúa tức Định Vương.

Nguyễn Ánh sinh giờ Thân ngày 15 tháng giêng năm Nhâm Ngọ : Mệnh lập tại Ngọ ( Hỏa) với Phá Quân ( Thủy hợp Mệnh )- THÂN cư Quan Lộc tại Tuất với Tham Lang + Đà La ; Tài Bạch ( Thất Sát+Triệt ). Mệnh Thân được Vòng Thái Tuế với Bộ Sát Phá Tham đắc cách hội Liêm Tướng, Khốc Hư tại Tý. Mẫu người hiếu động, nóng nảy, tàn nhẫn, ưa nịnh, tự cho mình có Sứ Mạng với Dòng Họ và đồng bào với quyết tâm, kiên nhẫn trong hành động đến cùng để đạt tới mục đích bằng mọi giá ( THÂN cư Quan + Vòng Thái Tuế ). Tuổi Nhâm Ngọ với Nạp Âm Dương Liễu Mộc ( Gỗ cây Liễu ) với Can Nhâm ( Thủy ) khắc Chi Ngọ ( Hỏa) nên thủa thiếu thời gặp nhiều nghịch cảnh và trở ngại - nhờ Nạp Âm tương hợp Ngũ Hành với Can Chi nên từ Trung Vận đến Hậu Vận cuộc đời được thênh thang rộng mở hơn Tiền Vận. Cung Phúc Đức đóng tại Thân ( Kim ) được Vòng Tràng Sinh + Tử Phủ Vũ Tướng cách ( xuất thân từ Dòng Chúa ) vì ngộ Tuần thêm Cung Tử Tức với Khôi, Tướng ngộ Triệt với Không Kiếp, Binh, Hình ( dòng Trưởng bị Triệt : Hòang Tử Cảnh tuổi Canh Tý 1780 chết vì bệnh đậu mùa năm Tân Dậu ( 20/3/1801 ) - vợ là Tống Thị có 2 Trai là Mỹ Đường và Mỹ Thùy – năm Minh Mệnh thứ 5 « 1824 » Mỹ Đường bị tố cáo thông dâm với Mẹ - nên Tống Thị bị dìm chết, anh em bị đi đầy, rồi chết - Kỳ Ngọai Hầu Cường Để là Cháu 5 đời của Hòang Tử Cảnh ). Cung Tử Tức ( dù được Vòng Lộc Tồn : tiếp nối 12 đời Vua, Vua Bảo Đại cuối cùng cũng bị ảnh hưởng của Triệt và con cháu các Đời sau cũng phân tán trôi nổi khắp nơi ). Cung Phụ Mẫu đóng tại Mùi gặp Thiên Không, Địa Kiếp, Linh Tinh ( Cha là Nguyễn Phúc Luân, Hòang Tử thứ 2 của Võ Vương đáng lẽ được nối ngôi, được Võ Vương phong Thế Tử ; nhưng bị Loan phế bỏ và tù, chết bệnh ) – cung này ứng với Đại Vận ( 12-21t ) gặp Kiếp, Lưỡng Không « 10 năm lao đao vì Binh Lửa : thất bại và lẩn trốn » nên năm Ất Mùi 1775 khi kinh thành Phú Xuân thất thủ - bị kẹp 2 đầu quân Trịnh phía Bắc, quân Tây Sơn phía Nam ( nên Ánh khi đi vào «  Hạn Thái Bạch 13t » đã cùng Định Vương «  Hạn Thái Bạch 22t +Kình Đà », Đông Cung Dương « Hạn Kế Đô 16t+Kình Đà » phải bỏ kinh thành để chạy vào Gia Định ). Vào năm Đinh Dậu 1777 « Đại Vận : Kiếp+Lưỡng Không, Tiểu Vận : Binh, Hình » quân Tây Sơn do Lữ và Huệ chỉ huy bắt được Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần « Tam Tai+Kình Đà » và Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương « Kình Đà » - cả 2 Vương cùng con cháu bị giết – riêng Nguyễn Ánh ( Tiểu Vận Thiên Không +Điền Trạch + Hạn Kế Đô 16t +Tam Tai ) lẩn trốn và được Giám Mục Bá Đa Lộc giúp cứu thóat ( Đại Vận tuy nhiều sát Tinh xen lẫn, nhưng nhờ Vòng Lộc Tồn + Cát Tinh + Phúc Đức : Tử Phủ Vũ Tướng +Vòng Tràng Sinh nên thóat hiểm nguy ).

Năm Mậu Tuất 1778 vào Hạn Thái Âm 17t, Tiểu Vận vào Phúc Đức gặp Vòng Tràng Sinh ( Sinh Mộ Vượng ), lưu Thái Tuế vào THÂN cư Quan Lộc ( Vận Thái Tuế ) , Nguyễn Ánh được các Tướng tôn làm Đại Nguyên Soái Nhiếp Quốc Chính ra sức củng cố mở mang Vùng Gia Định, tổ chức Hành Chánh với mục đích thiết lập thành căn cứ chống Tây Sơn , dưới sự Cố Vấn của Giám Mục Lộc.

*Giám Mục Bá Đa Lộc là 1 mắt xích quan trọng trong «quãng Đời long đong» của Nguyễn Ánh trước khi lên ngôi Hòang Đế : Ông sinh năm Tân Dậu 1741 tại Pháp đi tu từ nhỏ. Năm Ất Dậu 1765 thụ phong Linh mục ( Vận Thái Tuế ) ông được Hội Truyền Giáo Quốc Ngọai ở Paris cử sang truyền giáo tại Việt Nam. Lúc đầu Giáo Xứ của Ông đặt tại làng Chantaburi ( trước thuộc Cao Miên, nay thuộc Thái Lan ), vì loạn lạc nên dời về Hòn Đất, rồi Cần Cao đều thuộc Dinh Hà Tiên thời Mạc Thiên Tích. Ở Cần Cao Ông tập hợp được 500 giáo dân. Năm Mậu Tý 1768 đi vào Hạn La Hầu 28t +Tam Tai nhà thờ bị Quân Xiêm đốt phá, Ông bị bắt đeo Gông 3 tháng mới được thả !. Năm Canh Dần 1770 lại bị đánh phá, Ông và học trò Tu Viện ( Chủng Sinh ) phải xuống thuyền vượt biển sang tỉnh Pondichéry tại Ấn Độ, cũng năm đó Ông được thăng chức Giám Mục « Evêque d’Adran » làm Đại Lý Tòa Thánh cho 3 nước Cochinchine ( tức Xứ Đàng Trong ) ; Ông trở về Hà Tiên năm Giáp Ngọ 1774 – đúng lúc Chúa Định vừa mất Phú Xuân. Năm Bính Thân 1776 Ông gặp 3 Chú Cháu của Định Vương ở Hà Tiên. Cuối năm Đinh Dậu 1777 Định Vương bị bắt thì Ánh cùng vợ trốn thoát nhờ Ông cứu thóat !. Năm Canh Tý 1780 ( Tiểu Vận vào THÂN - vận Thái Tuế ) Nguyễn Ánh xưng Vương được Bá Đa Lộc với sự giúp đỡ của Manuel, người Pháp trang bị vũ khí cùng 3 tàu chiến kiểu Tây Phương. Manuel được phong chức Cai Cơ chỉ huy đội Binh Thuyền này. Năm Tân Sửu 1781 quân Nguyễn lên đến 3 vạn với 80 chiến thuyền cùng 2 Tàu chiến trang bị lính đánh thuê Bồ Đào Nha do Bá Đa Lộc chiêu dụ, tiến ra Bắc đến tận Phú Yên ; nhưng sau cũng phải rút về vì bộ binh của Tây Sơn ( do Nữ Tướng Bùi Thị Xuân chỉ huy ) qúa mạnh !.

Tháng 3 năm 1782 ( Nhâm Dần) quân Tây Sơn do chính Nhạc chỉ huy cùng Huệ đem trên 100 chiến thuyền vào Cửa Cần Giờ, tiến lên Ngã Bảy đánh quân Nguyễn và thắng lớn. Bên Nguyễn Vương, Manuel chỉ huy chiếc Tàu bọc đồng bị thủy binh Tây Sơn bao vây đốt cháy, thiêu sống Manuel. Nguyễn Vương phải bỏ Sài Côn chạy về Ba Giồng rồi ra lánh nạn ở Đảo Phú Quốc. Bá Đa Lộc phải đem Chủng Sinh cùng 2 Linh Mục chạy sang Cao Miên. Nguyễn Nhạc mất 4 tháng mới bình định xong Gia Định, để hàng tướng Đỗ Nhàn Trập ở lại giữ thành Sài Côn, còn Ông rút về Quy Nhơn. Đầu tháng 10/1782 Châu văn Tiếp, một cựu Tướng của Định Vương từ Phú Yên đi đường Biển tới Cần Giờ, hợp với quân các Đạo tái chiếm được Gia Định, rồi cho người ra đảo Phú Quốc đón Nguyễn Vương về !. Hay tin đó, Bá Đa Lộc cùng các Chủng Sinh từ Cao Miên cũng trở về ngụ tại Trà Vinh.

Năm Qúy Mão 1783 Nhạc lại sai Lữ và Huệ đem quân vào Gia Định. Nguyễn Vương bày trận Thủy Chiến, dùng Kế Hỏa Công trên Sông Saigon – cho thả các Bè Lửa trôi trên sông để đốt cháy chiến thuyền của Tây Sơn. Ai ngờ Huệ cao mưu hơn - đợi nước Thủy Triều dâng lên và Gió Đông Nam thổi hắt trở lại – thêm vào đó tên lửa của Tây Sơn bắn sang làm cháy sạch các thuyền quân Nguyễn. Ánh phải bỏ Sài Côn đem gia đình cùng cận thần chạy trốn trên 50 chiến thuyền ( Ánh đi vào Hạn Thái Bạch 22t + Kiếp Không, Linh, Hình - Tiểu Vận vào Tật Ách ). Huệ đuổi theo ra tận Phú Quốc, rồi đảo Côn Lôn. Huệ đem thuyền vây đảo Côn Lôn 3 vòng. Ánh và gia đình tướng sĩ sống cực khổ trên đảo, có khi phải nhịn đói nhiều ngày, chỉ hái rau và đào củ chuối để ăn !. Thì dịp may ( Đại Vận vào Phúc Đức +Vòng Tràng Sinh - Tiểu Vận vào Vòng Lộc Tồn ) 1 cơn Bão lớn mùa Hè nổi lên – làm đắm nhiều thuyền của Tây Sơn, Ánh được dịp xuống thuyền chạy sang Cù Lao Cổ Cốt, rồi sau đó lại trở về Phú Quốc ! ( từ 8/1783 đến 9/1784 ). Lữ và Huệ đặt Phò Mã Trương văn Đa ( con rể Nhạc) trấn thủ Gia Định rồi rút quân về.


Nguyễn Vương cầu cứu Ngọai Bang

Bị bó gối ở Phú Quốc, vì đất liền đã mất hết, 3 vạn quân lính tiêu tan, 200 chiến thuyền cháy sạch, chỉ còn lại gia đình và cái Ấn Ngọc Tỷ cùng một số ít cận thần nên muốn phục quốc Nguyễn Vương lúc đó, chỉ còn 1 cách cầu viện Ngọai Bang !.

Cầu cứu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha:

Cuối năm Qúy Mão 1783 Ánh phái 2 ông Joang ( người Pháp) và Manoe ( người Tây Ban Nha ) sang Manille, Thủ Đô Phi Luật Tân – khi đó là thuộc địa của Tây Ban Nha để cầu cứu nước này. Chẳng may dọc đường gặp binh thuyền Tây Sơn bắt giết.

Khi đi sang Pháp cầu viện, trong lúc bị kẹt ở Pondéchiry Bá Đa Lộc nhớ đến Viên Tòan Quyền Bồ Đào Nha ở Macao, mà ông có dịp liên lạc ở Cao Miên năm 1780, cũng đã ngỏ ý muốn giúp Nguyễn Ánh. Ông bèn biên thư ngày 8/5/1785 sang Macao xin nước Bồ đem tàu bè, súng đạn sang giúp Nguyễn Vương. Viên Tòan Quyền chuyển bức thư này về Lisbonne, Nữ Hòang Bồ hồi đó ưng thuận, ra lệnh cho Viên Tòan Quyền Bồ ở Goa ( Ấn Độ ) chuẩn bị đem quân giúp Nguyễn Ánh. Năm 1787 một sĩ quan Bồ đến Long Kỳ ( ngọai ô Vọng Các) thăm Ánh, mang 2 bức Thư của Nữ Hòang Bồ và của Tòan Quyền Bồ ở Goa hứa thuận giúp Nguyễn Vương với quân lính +5 chiến thuyền Bồ đã chực sẵn ở Goa. Đồng thời có gửi thư cho Vua Xiêm Rama I với nhiều phẩm vật ; nhưng Vua Xiêm không thuận ( lấy cớ Ánh đã cho người cầu cứu Pháp) nên việc cầu cứu Bồ không thành !.

Cầu cứu Xiêm La:

Nhớ lại chuyện hồi năm Tân Sửu 1781 Vua Xiêm là Trình Quốc Anh ( gốc Tàu ) sai 2 anh em Chaktri đi đánh Cao Miên. Nguyễn Vương sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Thoại ( về sau có tước Thọai Ngọc Hầu ) đem 3000 quân cứu vua Miên. Ở Vọng Các bỗng sảy ra biến loạn, Vua Xiêm bắt giam vợ con của 2 anh em Chaktri. Hai người này liền giao kết với Nguyễn Hữu Thọai, thề phải cứu nhau khi gặp họan nạn. Rồi họ kéo quân trở về, giết cả 2 phe đối nghịch. Chakri tự lập mình làm Vua, xưng là Rama ( Phật Vương ), phong cho em là Sô Si làm đệ nhị Vương. Ông sai Châu văn Tiếp sang cầu cứu Chaktri nay đã là Quốc Vương Rama I với hy vọng vào lời thề năm trước !. Lúc đó Xiêm còn đang bận rộn không thể giúp ngay Nguyễn Vương bèn nhớ đến Bá Đa Lộc hy vọng nhờ Pháp giúp. Ông bèn cho người đi tìm GM Bá Đa Lộc ở Chantaboun ( Xiêm ) về Phú Quốc để bàn việc nhờ Pháp. Trong lúc chờ tin GM Lộc vào mùa Đông năm Qúy Mão 1783 Châu văn Tiếp có mật thư gửi về cho biết cuộc thương thuyết khả quan. Vua Xiêm Rama I cho người sang Phú Quốc mời Nguyễn Vương sang Vọng Các để bàn việc. Ông bèn đi Vọng Các được Vua Xiêm tiếp đón rất nồng hậu. Mùa Xuân Giáp Thìn 1784 Vua Xiêm cho 2 Cháu là các Tướng Chiêu Tăng và Chiêu Xương đem 2 vạn quân cùng 300 chiến thuyền theo giúp Nguyễn Vương. Hải Quân Xiêm đi đường Biển từ Vọng Các xuống đánh chiếm được Rạch Giá, rồi từ từ đi theo các Sông Ngòi chằng chịt ở Miền Tây chiếm Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sadec. Trong trận Mân Thít tướng Châu văn Tiếp tử thương. Nhờ quân Xiêm từ Mùa xuân đến Mùa Đông năm Giáp Thìn 1784 Nguyễn Vương đã chiếm lại các tỉnh Miền Tây ; nhưng Quân Xiêm ỷ thế, đi đến đâu cũng quấy nhiễu, làm nhiều điều tàn ác, khiến lòng dân oán thán.

Cuối năm Giáp Thìn 1784 Nhạc sai Huệ vào Gia Định đánh Quân Xiêm. Huệ dùng kế phục binh trên bờ Sông Cửu Long, nhánh Tiền Giang ; Ông không đem quân tấn công Đại Bản Doanh của Quân Xiêm đóng tại Sadec, mà chọn 1 địa điểm ngay đầu ngọn Sông Ba Lai - một chi nhánh của Tiền Giang. Chiến thuyền của Tây Sơn núp trong 2 con rạch Rạch Gầm và Rạch Xòai Mút cách nhau chừng 6 cây số. Bộ Binh và Pháo Binh của Tây Sơn núp ở bờ Bắc sông Tiền Giang và ở trên bờ 2 Cù lao ở giữa Sông. Ngày 25/1/1785 Ông cho 1 số chiến thuyền tiến lên Sadec khiêu khích. Đại Quân Xiêm- Nguyễn đổ thuyền ra đánh ; thuyền Tây Sơn quay mũi chạy, thuyền Xiêm rượt đuổi. Đợi cho Hạm Đội của Xiêm lọt vào Ổ phục kích, Pháo Binh Tây Sơn từ bờ Sông và trên Đảo mới nổ Đại Bác, đồng thời phục thuyền Tây Sơn ào ra dùng tên lửa đốt cháy và phá tan tành 300 chiến thuyền của Quân Xiêm. Quân Xiêm - Nguyễn chết như rạ, xác trôi đầy sông ; chỉ còn khỏang 2 ngàn tên chạy thóat lên bộ, qua Cao Miên trốn về nước. Nguyễn Huệ phá tan Đại quân Xiêm, liền đem binh đuổi đánh Nguyễn Ánh. Ánh lúc bấy giờ hết cả lương thực cùng tàn quân chạy về Vùng Rạch Giá –Hà Tiên rồi ra Đảo Thổ Châu, Cổ Cốt, cuối cùng đem Gia Quyến sang tị nạn ở Ngọai Ô Vọng Các dưới sự che chở của Vua Xiêm Rama I. Lưu Vong tại Xiêm gần 2 năm rưỡi từ tháng 2/1785 đến tháng 7/1787 Nguyễn Vương lén bỏ vua Xiêm trốn về Hà Tiên để mưu phục Quốc.

Cầu cứu Pháp:

Ở Đảo Thổ Châu ngày 22 tháng 2 năm Giáp Thìn 1784 Nguyễn Vương cho người đi kiếm Bá Đa Lộc. Lấy cớ đã rời nước Pháp từ năm 1765 khi còn là Linh Mục ; nay 18 năm đã qua, biết đại thần nào trong Triều Đình mà đến gõ cửa !. Bá Đa Lộc đưa ra nhiều khó khăn, nhưng Nguyễn Vương cố thuyết phục, nên phải nhận lời với các điều kiện :

Phải có một Quyết Nghị của Hội Đồng Cố Vấn Hoàng Gia nước Cochinchine, đưa ra những điều khỏan giữa Việt và Pháp.

Phải đem theo Hoàng Tử Cảnh để làm con tin và 1 số quan văn võ tùy tùng ; cùng Quốc Ấn Ngọc Tỷ.

Phải xin được Viện Trợ 1500 quân cùng vũ khí ( đại bác, súng nhỏ và đạn dược đầy đủ ). Phải nhượng đứt cho Pháp Cù Lao trấn giữ Hải Cảng Tourane. Ngày 15 tháng 10 năm Giáp Thìn ( 25/11/1784 ) Phái Đoàn của GM Bá Đa Lộc từ Đảo Thổ Châu đem Hoàng Tử Cảnh đi Pháp cầu viện từ cuối tháng 11/1784 đến cuối tháng 6/1789. Cuộc Hải Hành kéo dài 8 tháng. Ngày 28/11/1787 GM Bá Đa Lộc cùng Hầu Tước De Montmorin, Bộ Trưởng Ngoại Giao ký 1 Bản Hiệp Ước Versailles Pháp - Việt tương trợ ( Hiệp Ước này sau 5 ngày ký, Pháp gửi « mật lệnh » cho Toàn Quyền De Conway ở Ấn Độ hoãn thi hành và không cho GM Lộc biết ) tuy Giám Mục đã được bổ chức Ủy viên của Hòang Đế Pháp ( Vua Louis XVI ) ở Xứ Đàng Trong. Ngày 8/12/1787 Hòang Tử Cảnh và GM Bá Đa Lộc được triều kiến từ giã Pháp Hòang. Ngày 27 họ đáp Tàu Dryade ở Lorient ; tháp tùng có chiếc tàu Méduse chở 1 số lính, thêm 1 chiếc Kiệu lộng lẫy của Vua Louis XVI tặng Nguyễn Vương. Hơn 6 tháng mới đến Pondichéry, lại kẹt ở đó 1 năm. Phái Đoàn về tới Gia Định mùa Hè năm Kỷ Dậu ( 24/6/1789 ) sau hơn 4 năm rưỡi !. Bao nhiêu biến cố đã sảy ra ( Nguyễn Vương đã tự lực tái chiếm tòan thể Nam Việt, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã diệt Trịnh và đại phá quân Thanh ở Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789 ). Nguyễn Vương tái chiếm Gia Định lần thứ 3 Thời gian đang tá túc tại Xiêm ( 2/1785 đến 8/1787 ) được tin Nhạc và Huệ bất hòa cuối năm Bính Ngọ 1786, rồi mùa Xuân năm Đinh Mùi 1787 Huệ đem quân vào Hòang Đế Thành ( Quy Nhơn) vây hãm - từ đó chỉ lo việc Bắc Hà không đoái hoài đến Nhạc Lữ. Mùa Hè năm 1787 được quân do thám tại Hậu Giang cho biết tình trạng trên - lại thấy Nhạc rút quân của Đô Đốc Đặng văn Chân từ Gia Định về Quy Nhơn khiến quân lực của Lữ ở Gia Định yếu kém. Nguyễn Vương thấy « thời cơ » đã đến, liền âm thầm ra lệnh cho quân sĩ và chiến thuyền chuẩn bị về nước, mà dấu không cho vua Xiêm biết !. Vào 1 đêm không trăng tháng 7 năm Đinh Mùi 1787 Vương cùng Hòang Gia và quân đội lẻn xuống thuyền ra biển, chỉ để lại 1 lá thư cảm tạ Vua Xiêm ( Năm đó Vương 26t+Hạn Thái Dương là hạn tốt về Danh Lợi - Tiểu Vận vào Vòng Lộc Tồn : nhiều may mắn và thuận lợi ! ). Vương để Mẹ và Hòang Gia tạm trú ở Đảo Phú quốc, còn mình đem quân đổ bộ lên Hà Tiên, tiến nhanh đến Long Xuyên. Lúc mới đầu, quân không nhiều vì phải để lại Long Kỳ ở Xiêm để vua quan Xiêm khỏi nghi ngờ. Đến Long Xuyên được quân tình nguyện rất đông ( quân Tàu của Thiên Địa Hội chống Thanh, lính mộ Cao Miên, quân Tây Sơn về hàng « đặc biệt có tướng Nguyễn văn Trương với 300 quân và 15 chiến thuyền » ). Quân Tây Sơn của Lữ cũng rất ít vì đã thiếu đạo quân của Đặng văn Chấn đã bị gọi về Quy Nhơn ( lúc Nhạc và Huệ bất hòa ). Cho nên Nguyễn Vương tuy chỉ có mấy nghìn quân cũng đủ sức thôn tính các Thị Trấn, từ Long Xuyên lên Sa Đéc, rồi Vĩnh Long, rồi xuôi theo Tiền Giang ra Biển, tiến vào Cửa Cần Giờ để đi ngược sông Saigon tiến vào Gia Định. Nguyễn Lữ ở Gia Định hay tin hỏang sợ ( Năm Tuổi 37+Hạn La Hầu ) để Thái Phó Phạm văn Tham ở lại giữ thành còn mình bỏ chạy lên Lạng Phụ ( Biên Hòa). Nguyễn Vương bày mưu giả làm thư của Nhạc gửi cho Lữ, bảo cho biết Tham làm phản, nên giết đi ; nhưng cố tình đưa nhầm thư cho Tham. Tham tưởng thật, vội đem quân lên Lạng Phụ gặp Lữ để phân trần, với cờ Trắng đi đầu !. Lữ thấy quân của Tham không gọi mà đến, thì lại sợ nữa ( Lữ là nhà Sư hòan tục không màng danh lợi- khi Tây Sơn khởi nghĩa chỉ chuyên lo về hậu cần ), đem quân bản bộ chạy tuốt về Quy Nhơn với Nhạc, ít năm sau mất vì bệnh ). Tham trở về Gia Định đánh phá được quân Nguyễn. Ánh thua chạy về Mỹ tho ( 4/ 1788), quân binh chỉ còn vài trăm với vài mươi chiến thuyền !. Vài tháng sau Nguyễn Vương lại chiêu mộ được vài ngàn quân Miên, thêm 1 số quân Tây Sơn về hàng ; nhất là được tướng Võ Tánh ( 1 trong Tam Hùng của Gia Định lúc bấy giờ chống Tây Sơn : Đỗ Thành Nhơn « Biên Hòa », Võ Tánh «  Gò Công », Nguyễn Hùynh Đức «  Tân An »). Võ Tánh là Tổng Nhung đạo quân Đông Sơn cũ ( Đông Sơn do tướng Đỗ Thành Nhơn cầm đầu, năm Tân Sửu 1781 Ánh thấy Nhơn lộng quyền sai ám sát Nhơn ngay bữa tiệc do mình chủ tọa, quân Đông Sơn giận bỏ đi ; các tướng tá khác chán nản trong đó có Võ Nhơn là anh ruột của Võ Tánh - Đạo Quân này sau đó chống cả Ánh lẫn Tây Sơn ! ). Tháng 5/ 1788 Nguyễn Vương sai Sứ Giả đến Gò Công chiêu dụ Võ Tánh, ông này - bỏ qua chuyện cũ - bằng lòng đem hết tòan quân sang Mỹ Tho giúp. Vương hết sức mừng rỡ phong làm Tiền Phong Dinh Chưởng Cơ, lại gả em gái là Công Chúa Ngọc Du. Nhờ đó Quân lực của Vương tăng lên tới vài vạn !.Tháng 6/1788 Đại Quân Nguyễn Vương tiến đánh Nước Xoáy ( gần Gia Định ). Tham không được viện binh ở Quy Nhơn, phải bỏ Gia Định lui xuống Cần Giờ, rồi vào sông Ba Lai, ngược Tiền Giang lên Vĩnh Long, rồi xuôi sông Hậu Giang xuống Ba Thắc. Đầu năm 1789 Tham ở Ba Thắc đem quân xuống thuyền định ra Biển trốn về Quy Nhơn, nhưng không phá được vòng vây của quân Nguyễn, lại phải lui về Ba Thắc. Chờ mãi không thấy viện binh, túng thế phải đem quân ra hàng ngày 24/2/1789 nhưng vẫn bị Ánh giết !. Tuy thành Gia Định đã bỏ ngỏ từ 6/1788, Nguyễn Vương mới vào tiếp thu thành này ngày 7/9/1789 !. Chỉ vỏn vẹn 1 năm trời, Nguyễn Vương đã tái chiếm được tòan thể đất Nam Việt của Nguyễn Lữ mà không có sự giúp đỡ của Quân Đội Ngọai Bang !.

Trở về Phú Xuân nhờ những Cơn Gió Mùa

Tái chiếm được tòan Miền Nam từ mùa Thu năm Đinh Mùi 1787 đến đầu năm Kỷ Dậu 1789 khi Phạm văn Tham ở Ba Thắc đầu hàng mới hòan tất. Trong lần đầu 4 năm ngự trị tại Gia Định ( 1778-1782 ), Nguyễn Vương khi nắm quyền mới 17 tuổi đã có tổ chức mọi công việc cai trị khẩn hoang và võ bị. Nhưng bị thua nhà Tây Sơn, lúc bỏ chạy ra đảo, lúc tá túc bên Xiêm. Lần này tái chiếm Gia Định một cách vĩnh viễn ( vì thấy Nhạc bỏ mặc Tham không cứu hơn 1 năm ; đàng ngoài giữa Nhạc và Huệ bất hòa, không đủ uy quyền sai Huệ vào Nam như lần trước, nhất là sau khi lên ngôi Quang Trung Đại Đế đại phá Quân Thanh mùa Xuân Kỷ Dậu 1789 còn mắc bình trị nơi Bắc Hà,1 phần cũng không muốn dính líu đến phần đất miền Trong của Nguyễn Nhạc ! ) Nguyễn Vương lúc này đã 27t ( Hạn Mộc Đức tốt hợp Mệnh ) bèn tổ chức miền đất phì nhiêu này thành căn cứ xuất phát để đợi dịp tái chiếm tòan thể Xứ Đàng Trong là đất cũ của Tổ Tiên.

1) Trận đầu bất lợi:

đánh Phan Rí, Phan Rang rồi rút ( 3 tháng từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1790 ) Tháng 5/1890 Nguyễn Vương sai tướng Lê văn Câu đem 5000 quân Thủy Bộ ra đánh Bình Thuận có 2 Tướng Võ Tánh và Nguyễn văn Thành làm Tiên Phong. Câu chiếm được Phan Rí, sau đó bất hòa với Tánh và Thành nên Vương phải triệu 2 người về Gia Định. Câu một mình đem quân ra chiếm đóng Phan Rang thì bị quân Tây Sơn vây đánh, phải xin cấp cứu. Thành ra giải vây, rồi 2 người rút về Phan Rí. Tháng 8/1790 nhân lúc thấy Gió Bấc ( gió Bắc ) thổi mạnh, Vương sai bỏ Phan Rí rút về Gia Định. Thấy trận đầu bất lợi, để « dưỡng uy sức nhuệ » Vương chuyên tâm lo việc khai khẩn ruộng nương miền Nam, đốc thúc việc huấn luyện binh sĩ, rèn đúc Đại Bác, đóng được 4 Chiến Thuyền kiểu Tây Phương và xây cất thành trì Saigon theo kiểu Vauban ( Vauban « 1633-1707 » nguyên là Bộ Trưởng chiến tranh của Vua Louis XVI đã chế ra kiểu Thành Trì mang tên Ông, Nguyễn Vương theo đề nghị của Olivier de Puynamel người Pháp theo Bá Đa Lộc về giúp Nguyễn Vương - giỏi về huấn luyện Bộ Binh và Pháo Binh « sáng chế Đạn Qủa Bưởi lợi hại hơn các đạn Đại Bác lúc bấy giờ - được Nguyễn Vương ban Quốc Tính : Nguyễn văn Tín »- chính Tín xây các thành Saigon và các tỉnh Miền Nam theo kiểu Vauban, sau này- khi Thống Nhất - hầu hết các thành trì ở Huế và Hanoi cũng xây theo kiểu đó !.Tín sinh năm Mậu Tý 1768 chết vì bệnh kiết lỵ năm Kỷ Mùi 1799 khi Vận số đi vào Hạn Thái Bạch 31t +Kình Đà )- với sự giúp đỡ của Nhóm Sĩ Quan Pháp do Bá Đa Lộc tự động mộ giúp, quân số của Nguyễn Vương lúc này lên đến 60.000 !.

2) Trận đốt phá Thủy Trại Tây Sơn ở Cửa Thị Nại, rồi rút lui ( tháng 4/1792 )

Sau một năm rưỡi ngưng hành quân, đến tháng 4/1792 thấy Gió Nam ( gió Nồm) thổi mạnh, Vương mới sai 2 Tướng Nguyễn văn Trương ( tướng cũ của Tây Sơn) và Nguyễn văn Thành đem Hạm Đội trong đó có cả 2 chiến thuyền kiểu Tây Phương do Dayot và Vannier chỉ huy, với nhiều Đại Bác và đạn quả Bưởi do Olivier sáng chế « giong Buồm thẳng ra » Cửa Thị Nại ( Cửa Biển thuộc vùng Quy Nhơn ) - lần này không có Bộ Binh vì Thị Nại ở qúa xa, mà các Tỉnh gần như Phan Rí, Phan Rang, Khánh Hòa đều có quân Tây Sơn chiếm giữ. Hạm Đội đến Cửa Thị Nại, nơi đây có Thủy Trại của Tây Sơn đóng để bảo vệ thành Quy Nhơn cách độ chừng mươi cây số. Thủy Trại bị Đại Bác qủa bưởi bắn phá cháy tan nát ; nhưng quân Nguyễn không dám đổ bộ. Chừng vài tháng cạn lương thực, tuy vẫn còn Gió nồm lại thêm có bão, nên quân Nguyễn thấy bất lợi, đành rút lui về Gia Định ( Năm Nhâm Tý 1792 Nguyễn Vương : Hạn Thái Bạch 31t+Kình Đà ).

3) Trận Gió Nồm năm Tân Sửu 1793 : chiếm Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên và bao vây thành Quy Nhơn lần I

Vào cuối Xuân năm Nhâm Tý 1792 khi Nguyễn Vương nhờ Gió Nồm đem Hạm Đội Thủy binh đốt trại Thị Nại. Sau khi ổn định Bắc Hà, Vua Quang Trung quyết tâm tiêu diệt Nguyễn Ánh ( dù từ năm Mậu Thân 1788 đã biết Ánh đã chiếm được Gia Định, tuy có bất hòa với Nhạc đầu năm Đinh Mùi 1787- nhưng Bắc Hà chưa ổn định xong, nay thấy Lữ đã mất, Nhạc yếu sức cầu cứu ! ) Ông ra sức trấn an Nguyễn Nhạc và nhân dân trong vùng do Nhạc cai quản để chuẩn bị Nam tiến. Để chuẩn bị phối hợp với Quang Trung, năm Nhâm Tý 1792 Nhạc cho đóng nhiều Chiến Thuyền ở cửa Thị Nại để Nam Tiến. Nhưng lúc đó là Mùa Gió Nồm chỉ thuận cho Quân Nam tiến ra Bắc, phải đợi đến Mùa Đông, khi Gió Bấc thổi mới lợi cho quân Tây Sơn. Trong lúc chờ đợi gió Mùa, bất ngờ Nguyễn Ánh thừa dịp cùng số quân Pháp, Tây Ban Nha đánh úp Cửa Thị Nại, đốt nhiều chiến thuyền của Tây Sơn. Để báo thù trận đó, Vua Quang Trung dự định phát động Chiến Dịch rất lớn , huy động hơn 20 vạn quân Thủy Bộ chia ra 3 hướng tiến công : Nguyễn Nhạc và 1 số quân Tàu ( phản Thanh từ hồi khởi nghĩa ) dùng đường Bộ từ Phú Yên vào đánh Gia Định. Bộ binh của Quang Trung từ Phú Xuân đi qua ngả Vạn Tượng tới Nam Vang, từ đó thêm quân Chân Lạp kéo vào Gia Định, vây đánh, bao bọc đường không cho Ánh chạy sang Xiêm như các lần trước !. Thủy Binh của Quang Trung tiến vào đón lỏng tận Hà Tiên và đổ bộ lên đất liền để ngăn Ánh chạy ra Biển !. Chính các Giáo Sĩ Pháp giúp Nguyễn Ánh lúc đó rất lo lắng và dự liệu Ánh khó lòng chống đỡ Tây Sơn trong trận này. Ai ngờ vào chiều mùa Thu năm Nhâm Tý 1792 Vua Quang Trung đang làm việc bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Sau đó bệnh càng nặng và băng hà vào đêm 29 tháng 7 năm Nhâm Tý 1792 ở ngôi 4 năm thọ 40t ( khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 40+Kình Đà ). Khi sắp mất Vua Quang Trung có nói với cận thần : « Nếu ngày hôm nay ta chết thì mai Hắn ắt ra, nếu mai ta chết thì ngày sau Hắn ắt ra. Người còn sống, các ngươi hãy coi ». Lời Tiên Tri đó đã ứng nghiệm vì Vua Quang Trung Nguyễn Huệ là khắc tinh của Nguyễn Vương ( Vua Quang Trung tuổi Nhâm Thân 1752 mạng Kiếm Phong Kim, Nguyễn Vương tuổi Nhâm Ngọ 1742 mạng Dương Liễu Mộc : Kim khắc nhập Mộc - Kiếm vàng dễ chém đứt gỗ cây Liễu. Đã 4 lần vào Gia Định - lần nào Ánh cũng theo tàn quân chạy trốn- không ra Đảo thì sang Xiêm – dù có ngọai bang hỗ trợ !. Theo Tử Vi thì 2 Lá Số đều Mệnh Thân được Sát Phá Tham đắc cách +Vòng Thái Tuế -nhưng sao thủ Mệnh Thân khác nhau - sẽ so sánh Bản Chất và Cuộc Đời từ 2 Lá Số của 2 Hòang Đế cùng lời bàn của các Sử Gia ở Phần Cuối Bài ). Như đã nói ở trên trong lúc Tây Sơn chờ Gió Bấc thổi để động binh thì Vua Quang Trung mất – Nguyễn Vương « chỉ sợ » 1 đối thủ độc nhất của Tây Sơn – nay đã mất thì rất mừng. Vào đầu Mùa Hạ năm Qúy Sửu 1793 khi thấy Gió Nồm thổi mạnh – cơ hội bằng vàng đã tới ( Hạn Thái Dương+Tiểu Vận vào Vòng Lộc Tồn ) - liền đem Đại Binh ra Bắc : Bộ Binh do Tôn Thất Hội chỉ huy, tiến chiếm Bình Thuận. Đích thân Nguyễn Vương chỉ huy Thủy Binh theo gió mùa tiến nhanh hơn vào Cửa Nha Trang tiến chiếm Diên Khánh rồi Phú Yên , rồi vào Cửa Thị Nại. Nhạc sai con là Thái Tử Bảo đem binh ra giữ Cửa Thị Nại. Ánh sai Võ Tánh lẻn ra phía sau hợp cùng đạo binh Tôn Thất Hội vừa tới để đánh tập hậu. Bảo thua, rút về thành Quy Nhơn. Quân Nguyễn đuổi theo đến vây thành. Nhạc sai người ra cầu cứu Cháu là Cảnh Thịnh Quang Tỏan 11tuổi ở Phú Xuân. Thái Sư Bùi đắc Tuyên ( bác ruột của Tỏan ) sai 2 đạo quân xuống cứu : Bộ Binh do Thái Úy Phạm Công Hưng chỉ huy gồm 17000 quân và 80 voi chiến cùng Thủy Binh do tướng Đặng văn Chân chỉ huy với hơn 30 Chiến Thuyền. Ánh liệu thế không chống nổi bèn rút lui về Nam. Nhân dịp đem quân vào giúp Nguyễn Nhạc, Phạm Công Hưng vào thành Quy Nhơn chiếm giữ luôn thành trì và tịch biên Kho Tàng. Nhạc thấy vậy « tức giận đến nỗi thổ huyết chết : năm đó vào khỏang 45-46 t : Hạn La Hầu  ». Về phần Bảo con Nhạc đưọc phong làm Hiến Công cho ăn lộc 1 Huyện gọi là Tiểu Triều. Như vậy kể từ cuối năm 1793, Cảnh Thịnh làm Vua Tây Sơn một mình từ Cao Bằng đến Phú Yên ; còn Nguyễn Vương giữ phần đất từ Diên Khánh tới Hà Tiên : Đất nước chia đôi từ 1793 đến 1802.

4) Tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu vây Thành Diên Khánh


- Lần thứ I

Tháng 4/1794 ( năm Giáp Dần ) tướng tài của Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân vào đánh thành Diên Khánh rất gắt. Đông Cung Cảnh và Giám Mục Bá Đa Lộc cố giữ thành và cho người về cầu cứu Gia Định. Nguyễn Vương vội vàng đem Hạm Đội ra cứu ; cũng may gặp Gió Nồm thổi mạnh, nên rất nhanh. Diệu rút lui, Nguyễn Vương đem con về để Võ Tánh ở lại thay thế.

- Lần thứ II

Đầu Xuân năm Ất Mão 1795, Diệu lại xuôi theo Gió Bấc vào vây thành Diên Khánh. Võ Tánh cố thủ ; cuối Xuân Nguyễn Vương lại theo Gió Nồm ra cứu !. Đúng lúc Triều Đình ở Phú Xuân sảy ra vụ đình thần chém giết nhau : Phe Võ văn Dũng, Phạm Công Hưng và Nguyễn văn Huấn lựa đến đêm đem quân vây nhà Bùi Đắc Tuyên bắt bỏ ngục ; rồi Huấn ra Quy Nhơn bắt con của Tuyên là Bùi đắc Trụ ; lại nhân danh vua Cảnh Thịnh ra lệnh cho Tiết Chế Bắc Hà Nguyễn Quang Thùy ( em vua Cảnh Thịnh ) phải bắt giải Ngô văn Sở về Phú Xuân ; rồi vu cho cha con Tuyên và Sở làm phản đem gìm hết xuống sông. Diệu đang vây thành Diên Khánh bèn rút quân về. Đến làng An Cựu Diệu đóng quân phía Nam sông ; phe Dũng cũng đem quân đóng bên bờ Bắc, ỷ mệnh Vua ra cự nhau với Diệu ( mầm mống sụp đổ của Triều Đại Tây Sơn : Vua Cảnh Thịnh đi vào Năm Tuổi 13t+Hạn Thái Bạch ). Vua Cảnh Thịnh sợ hãi sai quan ra khuyên giải cả 2 bên. Diệu mới đem các tướng vào chầu, rồi cùng với bọn Dũng giải hòa !. Nguyễn Vương cũng rút quân về Gia Định. Như vậy từ cuối Xuân năm Ất Mão 1795 đến đầu Hạ năm Đinh Tỵ 1797 ( tức 2 năm ) 2 bên ngưng chiến.

5) Trận Gió Nồm năm Đinh Tỵ 1797 Nguyễn Vương đánh Phú Yên và Quy Nhơn ( lần 2)

Tới mùa Gió Nồm năm Đinh Tỵ 1797 Nguyễn Vương sai Nguyễn văn Thành và Võ Tánh ra đánh Phú Yên, nhưng không được. Đồng thời Vương và Đông Cung Cảnh đem Thủy Quân ra đánh Quy Nhơn ; thấy Tây Sơn đã phòng bị, liệu đánh không xong nên chuyển quân ra đánh chiếm Quảng Nam – tuy chiếm được, nhưng 3 tháng hết lương đành rút về Gia Định chỉ để Nguyễn văn Thành và Đặng Trần Thường giữ Diên Khánh. Năm Mậu Ngọ 1798 không động binh nhưng sai Sứ sang Tàu để chúc mừng Vua Gia Khánh mới lên ngôi năm Bính Thìn 1796 kế vị Vua Càn Long băng hà ( Vua Càn Long tuổi Tân Mão « 27/9/1711 » mất năm Kỷ Mùi « 7/2/1799 » : Hạn Kế Đô 88t+Tam Tai ) trong Giai Đọan này bên Tây Sơn Cảnh Thịnh kế vị Vua Quang Trung (đã được Càn Long phong làm An Nam Quốc Vương từ 1793). Trong Triều Tây Sơn, Nguyễn Bảo phản nghịch liên lạc với Nguyễn Ánh, Cảnh Thịnh sai tướng vào bắt Bảo đem về gìm xuống sông. Lại nghi ngờ tướng Lê Trung có dính líu, sai gọi về chém chết, con rể Trung là Lê Chất bỏ trốn sang hàng Nguyễn Ánh. Nguyễn văn Huấn cũng bị giết các tướng Tây Sơn thấy vậy nản lòng, 1 số đông bỏ về theo Nguyễn Vương.

6) Trận Gió Nồm năm Kỷ Mùi 1799 Nguyễn Vương chiếm Phú Yên, vây đánh thành Quy Nhơn ( lần 3 )và chiếm được thành này !

Tháng 4/ 1799 Gió Nồm bắt đầu thổi Nguyễn Vương xuất quân làm 2 Đạo : Bộ Binh do Nguyễn văn Thành chỉ huy tái chiếm được Phú Yên rồi tiến lên Quy Nhơn. Thủy Binh do Vương thân chinh chỉ huy, kéo vào Cửa Thị Nại rồi tháng 6/1799 đổ bộ vây Quy Nhơn. Vua Cảnh Thịnh sai 2 tướng Diệu và Dũng đem binh vào cứu nhưng bị Thành chặn lại. Tướng Tây Sơn giữ thành là Lê văn Thanh sau 4 tháng cầm cự hết lương phải mở cửa ra hàng. Nguyễn Vương đem quân vào thành đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định sai Võ Tánh và Ngô tòng Châu giữ thành. Trong thời gian đó Giám Mục Bá Đa Lộc theo tòng chinh bị bệnh kiết lỵ phải ở lại Cửa Thị Nại, rồi mất ngày 9/10/ 1799, thọ 58t : Hạn Thái Bạch. Vương đem thi hài Cha Cả về hậu táng ở làng Gò Vấp, Tỉnh Gia Định vinh tặng Tước Thái Tử Thái Phó Bi Nhu Quận Công ( Dân chúng thường gọi là Lăng Cha Cả ). 7) Hai Tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng vây thành Bình Định Tháng 2/1800 hai Đại Tướng của Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng đem Thủy Lục Quân từ Phú Xuân quyết tâm chiếm lại Bình Định ( Quy Nhơn cũ ). Võ Tánh cố thủ, sai người phi báo về Gia Định. Diệu chỉ huy Bộ Binh sai đắp lũy quanh thành và bao vây 4 mặt !. Dũng chỉ huy Thủy Binh với 2 Tàu lớn cùng hơn 100 chiến thuyền nhỏ ra đặt ngang cửa bề Thị Nại, xây đồn và đặt đại bác ở 2 bên bờ bể để phòng ngự Thủy Quân của nhà Nguyễn. Nguyễn Vương được tin cấp báo sai Nguyễn văn Thành đem bộ binh tiến quân còn mình đích thân chỉ huy Thủy Binh khởi hành ngày 6/1800 với 3 Đòan, mỗi Đòan có 1 Chiếc Tàu Chiến kiểu Tây Phương do 3 người Pháp ( Chaigneau, Vannier, De Forçan ) chỉ huy với 1200 chiến thuyền nhỏ. Thành tiến quân ra Phú Yên gần tới Bình Định thì bị Diệu chặn lại. Hạm Đội do Vương chỉ huy tiến ra Cửa Thị Nại thì bị chiến thuyền và pháo đài của Dũng bắn đại bác chặn lại. Vì hai đạo quân Thủy Bộ của Nguyễn Vương không liên lạc được với nhau nên không cứu được Võ Tánh sau 7 tháng - đến 2/1801 không về Gia Định mà kéo về đóng tại Nha Trang !.

Nguyễn Vương chiếm Cửa Thị Nại

Trong khi quân Tây Sơn vây thành Bình Định đã 14 tháng qua với quyết tâm chiếm lại vì là nơi xuất phát của Nhà Tây Sơn. Nguyễn Vương vẫn chưa có thể giải vây. Cuối tháng 2/1801 ( đầu Xuân năm Tân Dậu ) Vương sai Nguyễn Phúc Trương đem Thủy Binh lén lên bờ đánh tập hậu các Đồn Thủy Binh của Võ văn Dũng và sai Lê văn Duyệt cùng Võ di Nguy đem Thủy Quân đánh thẳng vào Cửa Thị Nại. Võ di Nguy trúng đạn chết, Lê văn Duyệt ra sức xung đột, đánh phá đốt hầu hết Tàu chiến và chiến thuyền của Tây Sơn –sau đó còn cho quân lặn nơi chiến thuyền của Tây Sơn chìm để vớt lên 500 đại bác cùng nhiều vũ khí không đếm xuể !Trong Trận này theo lời kể lại của Linh Mục Lelabousse đi theo cuộc Hành Quân : Cửa Bể Thị Nại có vị trí rất lợi hại – vì hẹp lại được phòng thủ nhiều đồn ở 2 bên bờ với nhiều Đại Bác. Quân Tây Sơn cho 3 tàu chiến lớn với nhiều Đại Bác nằm quay ngang chiếm mọi lối vào, phía trong đầy ắp chiến thuyền nhỏ.Vương không cho Chiến Thuyền lớn tiến tới mà bảo đậu ở một eo kế cận chỉ dùng 26 chiến thuyền hạng Trung và 100 chiến thuyền nhẹ. Nhờ đêm tối và nhờ Gió Nồm Vương cho chiến thuyền tiến thuyền tiến vào Hải Cảng đồng thời 1 số quân bỏ thuyền lên bờ đánh tập hậu – và Đại Bác ở 3 Tàu lớn do 3 người Pháp chỉ huy. Quân Nguyễn Vương leo lên Thuyền Tây Sơn đốt cháy- một phần do Đạn qủa Bưởi do 3 Thuyền Chiến bắn vào. Cuộc chém giết rùng rợn suốt đêm, bên Tây Sơn các chiến thuyền đều bị lửa đốt cháy gần hết !. Dũng phải bỏ Cửa Thị Nại đem quân về hợp với Diệu vây thành Bình Định. Cũng thời gian này, ngày 20/3/1801 Đông Cung Cảnh đang trấn thủ Gia Định thay Vương bị bệnh đậu Mùa chết, thọ 22t ( Hạn Thái Bạch+Kình Đà ) để lại vợ và 2 con trai. Khi sắp mất, ông mới chịu phép rửa tội vào Đạo Công Giáo – dù từ nhỏ đã theo sát GM Bá Đa Lộc và đã nhiều lần từ chối rửa tội theo Đạo ( cũng vì hành động này, theo 1 số người nhận định là nguyên nhân khi Vua Gia Long sắp mất không truyền ngôi cho Dòng Trưởng - Về Dòng Thứ : vì Hoàng Tử thứ 2 là Hy tuổi Nhâm Dần 1782 chết sớm : năm Tân Dậu 1801 « Hạn La Hầu 19t»-Hòang Tử Tuấn thứ 3 cũng chết sớm « 1785/1797 : năm Tuổi+Hạn Thái Bạch  », nên Hòang Tử Đảm thứ 4 mới được kế vị, tức là Vua Minh Mệnh ).

Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tử tiết tại thành Bình Định. Nguyễn Vương tiến chiếm Phú Xuân.

Sau 14 tháng giải vây, Nguyễn Vương vẫn chưa phá được vòng vây của Tây Sơn, Vương cho người lẻn vào thành đưa thư cho Tánh và Châu bảo 2 người bỏ thành mà trốn ra. Nhưng Tánh phúc thư nói : « Quân Binh của Tây Sơn ở cả Bình Định cùng 2 tướng giỏi, vậy xin đừng giải vây vội, hãy kíp đem quân ra đánh Phú Xuân thì hơn  ». Vương theo kế của Võ Tánh đầu tháng 5/1801 sai tướng Nguyễn văn Trương đem quân ra chiếm Quảng Ngãi và Quảng Nam để cắt đứt liên lạc giữa Vua Cảnh Thịnh và 2 Tướng Diệu, Dũng. Đồng thời để Nguyễn văn Thành ở lại để cầm chân Diệu, Dũng. Ngày 5/6/1801 Vương đem Đại Quân Thủy Bộ từ Cửa Thị Nại ra Cửa Đà Nẵng để hợp với Tướng Nguyễn văn Trương. Sáng ngày 9/6/1801 Đại Quân tiến đánh Cửa Tư Hiền. Phò Mã Tây Sơn là Nguyễn văn Trị trấn giữ ở núi Quy Sơn nên tiền quân Nguyễn đánh không được !. Vương sai 2 tướng Lê văn Duyệt và Lê văn Chất đem Thuỷ Binh đánh tập hậu. Trị bỏ đồn trốn chạy nhưng bị bắt lại. Nguyễn Vương tiến chiếm Phú Xuân ngày 15/6/1801 ( năm Đinh Dậu ) Sáng ngày 11/6/1801 Quân Nguyễn tiến vào Cửa Thuận An sau đó tiến đánh Phú Xuân do 2 lực lượng : a) Tướng Nguyễn văn Trương chỉ huy 6 chiến hạm và 36 thuyền chở Đại Bác đánh vào Cửa Tây thành Phú Xuân ; trong đó có 4 chiến hạm do Vannier, Chaignau, De Forçan và Barisy chỉ huy với nhiệm vụ trợ chiến bằng Đại Bác. Nguyễn Vương với tướng Lê văn Duyệt phụ tá, đích thân chỉ huy với 45 chiến thuyền chèo tay, 300 thuyền buồm chở Đại Bác và 15000 quân, đổ bộ đánh vào Cửa Đông. Vào 5 giờ sáng ngày 12/6/1801 chiến thuyền của Nguyễn Vương tiến tới trước Cửa Đông. Quần thảo trong 2 ngày, bị Đại Bác qủa Bưởi của Olivier ( Nguyễn văn Tín tên Việt) mạnh hơn và hiệu qủa hơn Đại Bác của Tây Sơn và bị 2 mặt giáp công. Vua Tây Sơn Cảnh Thịnh ngự giá đốc quân chống không nổi phải bỏ Phú Xuân chạy ra Bắc ( Thời điểm này Vua Cảnh Thịnh 19t đi vào Hạn La Hầu ). 8g sáng ngày 15/6/1801 ( Tân Dậu ) Nguyễn Vương vào Thành Nội sau 26 năm cách biệt kể từ ngày 3/2/1775 (Ất Mùi ) khi Phú Xuân thất thủ ( Thời điểm này Nguyễn Vương : Đại Tiểu Vận trùng phùng tại Điền Trạch +Tam Minh « Đào Hồng Hỉ  »,Vòng Lộc Tồn ; Nguyệt Vận vào Mệnh « Thái Tuế  »).

Võ Tánh và Ngô Tòng Châu tử tiết tại Bình Định

Hai ông Tánh và Châu cố thủ thành Bình Định từ 2/1800 đến tháng 7/1801 – đã 17 tháng. Lương thực đã cạn , voi chiến, ngựa chiến đều bị đem ra làm thịt nuôi quân dân trong thành vì quân Tây Sơn vây kín mà không đánh – vây chặt chẽ không để 1 chỗ hở để dân trong thành không thể ra ngòai tìm kiếm thức ăn !. Dù Nguyễn Vương đã chiếm được Phú Xuân ngày 15/6/1801 nay đến ngày 5/7/1801 – đã 20 ngày không thấy viện binh. Trong khi đó Diệu và Dũng nghe Phú Xuân thất thủ liền tấn công gấp, quyết tâm chiếm thành bằng mọi giá. Ông Châu hỏi Tánh nên chống cự Tây Sơn thế nào ? Tánh chỉ vào Lầu Bát Giác gần đấy và nói : « Kế của Tôi đó, Tôi là Chủ Tướng, nghĩa là không thể cùng sống với giặc ; còn ông là quan văn thì ông nên tìm cách tự toàn ! ». Châu cười đáp : «  Trung Nghĩa thì ai cũng như ai, Văn với Võ có khác chi nhau ! Tướng Quân có thể chết theo Nghĩa, Tôi há không thể chết vì lòng Trung hay sao ? ». Nói rồi ông Châu trở về mặc đồ Triều Phục, hướng về Bắc, lạy rồi uống thuốc độc tự tận. Được tin ấy ông Tánh buồn rầu nói : « Ông Ngô đã tranh đi trước Ta rồi ! ». Hai hôm sau vào ngày 7/7/1801 Tánh sai người đem ra cho Trần Quang Diệu một bức thư nói rằng : « Phận sự Ta làm Chủ Tướng thì đành liều chết dưới Cờ. Còn các Tướng Sĩ không có tội gì, không nên giết hại !». Ông cho chất rơm cỏ cùng thuốc súng ở dưới Lầu Bát Giác, mặc Triều Phục trèo lên Lầu, nói mấy câu vĩnh biệt với Tướng Sĩ rồi tự đốt mà chết. Diệu và Dũng tiến quân vào thành, tha hết quân dân, làm Lễ tống táng cho 2 ông Tánh và Châu rất trọng thể. ( Nhiều Sử Gia thắc mắc về Nguyễn Vương khi chiếm được Phú Xuân từ ngày 15/6/1801 trước 20 ngày Tánh và Châu tử tiết – tại sao không đem quân giải vây : nên nhớ vào năm Tân Sửu 1781 Nguyễn Vương đã sai người ám sát Đỗ Thành Nhơn vì sợ lộng quyền cướp ngôi. Võ Tánh lại là 1 trong Tam Hùng Gia Định - cựu Tướng của Nhơn – nay bỏ rơi - có thể mượn tay Tây Sơn để trừ hậu họan !).

8) Trận Trấn Ninh, cố gắng cuối cùng của Vua Cảnh Thịnh có Nữ Tướng Bùi thị Xuân giúp sức ( 2/1802 )

Mất Phú Xuân ngày 13/6/1801 Vua Tây Sơn Cảnh Thịnh chạy ra Bắc, bèn đổi Niên Hiệu là Bảo Hưng, lấy viện binh ở các Trấn, sai em là Nguyễn Quang Thùy vào giữ Nghệ An. Trong khi đó Nguyễn Vương sai tướng Nguyễn văn Trương ra trấn giữ ở Sông Linh Giang ( nghĩa là Nguyễn Vương đã chiếm lại tòan bộ Đàng Trong ). Sau 6 tháng hưu chiến, tháng 12/1801 vua Cảnh Thịnh chiêu mộ được 3 vạn quân kéo vào Nghệ An có thêm Nữ Tướng Bùi Thị Xuân đem 5000 quân đi hộ giá. Tháng 1/1802 vua Cảnh Thịnh cùng Nguyễn Quang Thùy và Bùi thị Xuân đem Đại Quân vượt sông Gianh và cho hơn 100 chiến thuyền tiến xuống Cửa Nhật Lệ ( Quảng Bình ). Nguyễn văn Trương phải lui quân về Đồng Hới. Nguyễn Vương liền thân chinh đem Đại Quân lên tiếp ứng ; sai Nguyễn văn Trương ra giữ mặt Biển, Phạm văn Nhân và Đặng Trần Thường giữ mặt bộ. Tháng 2/1802 vua Cảnh Thịnh sai Quang Thùy tiến quân xuống đánh Lũy Trấn Ninh, đánh mãi không được ; thấy thế trận ngày càng bất lợi Bùi Thị Xuân cỡi voi liều chết đánh riết vào Lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Vương đang cố thủ, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp ; Bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi. Lúc bấy giờ Nguyễn Vương cùng tướng tá đã hỏang hốt vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thóat thân. Nào ngờ vua Cảnh Thịnh thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn ra lệnh lui binh ; Bùi thị Xuân nắm áo ngự bào của vua để khuyên cố đánh. Nhưng khi nghe tin Nguyễn văn Trương phá tan Thủy Binh của Tây Sơn ở Cửa Biển Nhật Lệ cướp được hầu hết tàu thuyền và Tướng giữ Cửa Biển Nguyễn văn Kiên đã đầu hàng thì đội quân của Bà hốt hỏang bỏ vũ khí đạn dược để tháo chạy. Vua Cảnh Thịnh cùng Quang Thùy đem quân chạy về Bắc, để Nguyễn văn Thận ở lại giữ Nghệ An và Bùi thị Xuân cũng ở lại chờ chồng !. Về phần 2 Tướng Diệu và Dũng chiếm được thành Bình Định từ tháng 7/1801 khi nghe tin Phú Xuân thất thủ đã có 2 lần sai tướng đem quân về đánh Kinh Thành, nhưng lần nào cũng bị tướng Lê Văn Duyệt chặn đường ở Quảng Nam, rồi đánh thốc xuống. Mặt khác tướng Nguyễn văn Thành ở Cửa Thị Nại đánh lên , tướng Tống viết Phúc ở Phú Yên đánh ra. Ba mặt thụ địch, quân Tây Sơn phải hết sức chống đỡ. Tháng 4/1802 hai tướng Diệu Dũng nghe tin thua ở Lũy Trấn Ninh, liền bỏ thành đem binh tướng đi đường Thượng Đạo qua Lào để ra Nghệ An.

Giai Đọan lên ngôi Hoàng Đế

Ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất ( 1/6/1802) Nguyễn Vương ở Phú Xuân lập Đàn tế cáo trời đất, rồi thiết Triều để các quan lạy mừng lên ngôi Hoàng Đế và đặt Niên Hiệu là Gia Long nguyên niên ( Niên hiệu Gia Long có ngụ ý muốn thống nhất đất nước từ Gia Định đến Thăng Long : Tiểu Vận vào THÂN cư Quan Lộc và Phúc Đức gặp Vòng Tràng Sinh «  Sinh Mộ Vượng » – năm đầu 42t của Đại Vận Thái Tuế «  42t- 52t »- Đại Tiểu Vận trùng phùng).

- Vua Gia Long tiến chiếm Xứ Đàng Ngoài ( Thống Nhất đất Nước )

Hạ Tuần tháng 6/1802 vua Gia Long đem Đại Binh Thủy Bộ tiến ra Bắc. Thực ra chỉ còn là cuộc tảo thanh và truy kích vua tôi nhà Tây Sơn. Tướng Tây Sơn Nguyễn văn Thận bỏ nghệ An rút về Diễn Châu. Tháng 3/1802 hai tướng Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng giữ thành Bình Định nghe tin Vua Cảnh Thịnh và Bùi Thị Xuân thua tại Trấn ninh liền bỏ thành đem binh tướng theo đường Thượng Đạo qua Lào ra Nghệ An để hội quân với Cảnh Thịnh. Nhưng khi tới Châu Qui Hợp, xuống huyện Hương Sơn gặp Bùi Thị Xuân thì nghe tin đã mất Nghệ An. Vợ chồng Diệu lui về huyện Thanh Chương, quân sĩ bỏ trốn hết, mấy hôm sau 2 người bị bắt. Về phần Dũng chạy ra huyện Nông Cống cũng bị dân bắt được đem nộp. Đại quân của vua Gia Long qua Thanh Hóa, rồi ngày 20/7/1802 tới Thăng Long bỏ ngỏ. Vua Cảnh Thịnh và 2 em Quang Thùy, Quang Thiệu cùng vài bề tôi là vợ chồng Đô Đốc Tú, Nguyễn văn Tứ đã chạy qua sông Nhị Hà, nhưng đến Phượng Nhỡn thì bị dân bắt được. Thùy và vợ chồng Đô Đốc Tú tự vẫn. Mấy người còn lại bị đóng cũi đem về nộp cho Vua Gia Long ở Thăng Long.

- Cuộc trả Thù của Vua Gia Long

Tháng 8/1802 vua Gia Long về kinh đô Phú Xuân, đem vua tôi Tây Sơn về làm « Lễ Hiến Phù » ở đền Thái Miếu. Quang Tỏan, Quang Thiệu và các Tướng Tây Sơn bị đưa ra pháp trường xử tử. Ông Cố Đạo Lemonnier de la Bissachère đã có mặt ở nước Nam từ năm 1789 về Pháp năm 1807 viết cuốn sách có kể lại cuộc hành hình do 1 thuộc viên Công Giáo được mục kích kể lại cho ông : « Họ đào mả Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, đem 2 bộ xương khô tới pháp trường vứt bừa bãi xuống đất, sai lính đái vào 2 đầu lâu, để Quang Toản nhìn thấy mà đau khổ. Rồi đập nát những bộ xương đó. Xong họ cho các phạm nhân 1 bữa cơm ngon, nhưng chỉ một mình Quang Tỏan ăn, còn Quang Thiệu không chịu ăn. Các đao phủ thủ căng dây 4 chân tay Quang Tỏan cho 4 con voi xé ra làm 4 ; đầu chặt sau. Trần Quang Diệu bị chém đầu. Bùi thị Xuân và con gái 13 tuổi bị voi xé. Đứa con gái bị xé trước, kêu thét mẹ cứu con… rồi đến lượt Bùi thị Xuân. Bùi thị Xuân mặt không đổi sắc, tiến đến trước mặt voi như chọc tức nó. Mấy tên lính la thét om sòm bắt Bà qùy xuống, nhưng Bà vẫn thản nhiên tiến bước. Voi lùi lại ; bọn lính phải lấy giáo thọc vào đùi voi. Bấy giờ voi mới quặp lấy bà tung lên trời. Bà chết bọn lính liền lấy dao cắt lấy tim, gan, thịt ở cánh tay để ăn sống vì muốn được can trường như bà. Trong Việt Nam Sử Lược kể : Gia Long sai quật mả Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem vất thây đi, còn sọ thì đem bỏ vào Vò giam vào ngục tối. Còn Hòang Hậu Ngọc Hân đem 2 con thơ là Quang Đức 14t và Ngọc Bảo 12t trốn xuống Quảng Nam ; sau bị bắt và bị ép uống thuốc độc tự tử, 2 con bị thắt cổ chết ( thực ra Hòang Hậu Ngọc Hân sinh năm Canh Dần « 24/4/1770 » đã mất năm Kỷ Mùi « 4/12/1799 » lúc29t có 2 con Quảng Đức chết lúc 10t và Ngọc Bảo chết lúc 12 t «18/5/1802 » trước tháng 8/1802, ngày trả thù của Gia Long. Bà Nguyễn thị Huyền, mẹ Ngọc Hân đã đem hài cốt cả 3 về Bắc chôn 3 ngôi mộ trong 1 Miếu Thờ - đến thời Thiệu Trị, do sự tố giác «  Mả Ngụy  » mới bị phá Miếu đào mả cả 3 ngôi mộ, rồi quẳng hài cốt xuống Sông Hồng ).

Trường hợp 2 Vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân

Trần Quang Diệu sinh ngày 9 tháng 9 năm Canh Thìn ( 1760 ) rất giỏi võ, là 1 trong Thất Hổ Tướng trong Triều Đại Tây Sơn - một hôm trên đường từ Hoài Ân và Kiên Mỹ để gặp Thủ Lĩnh Tây Sơn là Nguyễn Nhạc thì bị cọp dữ tấn công, chống trả 1 hồi, ông vừa bị thương vừa đuối sức, may gặp Bùi thị Xuân tình cờ qua đó, liền xông vào cứu được. Ít lâu sau nhờ Nguyễn Nhạc đứng chủ hôn 2 người thành vợ chồng – trong chiến thắng Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789 hai vợ chồng đều là 2 võ tướng trong đội Trung Quân do Vua Quang Trung chỉ huy. Nguyễn Ánh khi lên ngôi muốn chiêu hàng Diệu, nhưng Ông đáp : « Trung Thần không thờ hai Vua, nay tôi bị bắt thì chỉ có tội chết. Nếu nhà Vua mới rộng lượng tha cho, như trước đây tôi đã tha cho các tướng sĩ ở Bình Định thì tôi sẽ về ở nơi Thôn Dã cầy ruộng nộp thuế như thường dân, chứ nhận chức quan của Triều Đại mới thì không phải là Trượng Phu ». Một số Sử Gia khác viết Vua Gia Long nghĩ tình tha cho mẹ già 80t và không giết 1 cách tàn độc như hầu hết các Tướng Lãnh của Tây Sơn mà bắt uống thuốc độc. ( Thời điểm Tướng Diệu chết khi Vận Số đi vào Hạn Kế Đô 43t+Kình Đà ) Bùi Thị Xuân sinh năm Nhâm Thân 1752, là 1 trong Tây Sơn Ngũ Phụng Thư, còn được Vua Quang Trung ban hiệu Anh Hùng Cân Quấc – sinh trưởng trong 1 gia đình khá giả, sớm được học cả Văn lẫn Võ – không những chỉ có nhan sắc, khéo tay viết chữ đẹp, mà còn có tài về Kiếm thuật, bắn cung cưỡi ngựa và luyện voi – chính Bà là Nữ Tướng chỉ huy đội Tượng Binh ở Đội Trung Quân của Vua Quang Trung trong Trận Đại Phá Quân Thanh ở Mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789- được phong Nữ Đô Đốc, một thời ngang dọc cùng chồng - được Công Luận ca ngợi oai danh và tiết tháo. Lúc bại trận nhưng vẫn hiên ngang ; người ta còn truyền rằng khi nghe Bùi Thị Xuân bị bắt, Chúa Nguyễn bèn sai áp giải trước mặt, rồi hỏi với giọng đắc chí : « Ta và Nguyễn Huệ ai hơn ? » Bà trả lời : « Chúa Công ta, tay kiếm tay cờ làm nên Sự Nghiệp. Trong khi nhà ngươi đi cầu viện Ngoại Bang, hết Xiêm đến Tàu, lần nào cũng bị Chúa Công ta đánh cho không còn mảnh giáp !. Đem so với Chúa Công ta, nhà ngươi chẳng qua chỉ là ao trời, nước vũng ! ». Chúa Nguyễn gằn giọng : «  Ngươi có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh ? ». Bà đáp : « Nếu có thêm 1 Nữ Tướng như Ta thì Cửa Nhật Lệ đã không để lạnh và Nhà Ngươi cũng khó mà đặt chân đến Bắc Hà ! ». Dư luận sau cho rằng sở dĩ Nguyễn Vương rất căm thù Bà, nên dùng hình phạt dã man nhất ; nguyên nhân là Bà đã điều khiển tướng sĩ đánh vào Lũy Trấn Ninh hết sức kịch liệt đã làm cho Chúa Nguyễn và các tướng sĩ có phút thất thần tưởng chừng nguy khốn đến nơi !( Thời điểm Bà mất khi Vận Số đi vào Hạn La Hầu 51t+Tam Tai +Kình Đà ). Mọi Tướng Sĩ, quan quyền dưới Triều Tây Sơn, kể cả họ hàng thân thích – theo kiểu Chu Di Tam Tộc - đều bị Vua Gia Long tiêu diệt bằng mọi cách, hết sức tàn nhẫn và thâm độc – duy chỉ có 1 người độc nhất không bị giết chết mà còn được «  Sủng Ái  » đó là Hòang Hậu Ngọc Bình ( em của Hòang Hậu Ngọc Hân ) vợ của Vua Cảnh Thịnh. Khi quân Nguyễn vào Phú Xuân, Ngọc Bình không kịp chạy theo Cảnh Thịnh, Gia Long bắt gặp và si mê trước sắc đẹp của Bà và kiên quyết lấy bà, bỏ qua mọi lời can ngăn – sau đó phong làm Đệ Tam Cung !. Việc trả thù của Nguyễn Vương - về sau, bị Sử sách nói nhiều về Công Tội. Theo phân tích của nhiều Sử Gia, cuộc báo thù có 2 mục đích : Trả thù cho những việc Nhà Tây Sơn làm với Gia Tộc và bản thân của Nguyễn Ánh trước kia : quật lăng mộ của 8 đời Chúa Nguyễn - lấy hài cốt vất xuống sông ; giết người thân và cả nhiều đắng cay trong những tháng ngày lênh đênh trốn chạy !. Dùng cuộc trả thù để tỏ rõ uy thế, làm khiếp sợ những người chống đối ( nhắm vào Cựu Thần Nhà Lê - Trịnh , kể cả Tây Sơn ) phải quy thuận trước Vương Triều mới. Ông tuyên bố : « Trẫm vì chín Đời mà trả thù là nghĩa lớn của Kinh Xuân Thu ! ». Nhiều đánh giá về sau của Cuộc Trả Thù này – phần lớn các Sử Gia ( kể cả đang ở dưới Triều Nguyễn ! ) đều cho rằng Nguyễn Ánh thực hiện qúa tay và đôi lúc rất Tiểu Nhân ( đúng với Bản Chất của Phá Quân cư Mệnh – dù Phá Quân đắc địa ở Tý Ngọ ! ). Sau khi chiếm Thăng Long hồi tháng 7/1802, Vua Gia Long định lập Kinh Đô tại Nghệ An nhưng cận thần Nguyễn văn An can ngăn, sau đó chọn Phú Xuân làm Kinh Đô, nơi Kinh Thành cũ của Tổ Tiên từ năm 1687. Năm Ất Sửu 1805 nhà vua cho xây cất lại Hoàng Thành theo kiểu Vauban. Triều đình thời Vua Gia Long giống như thời Vua Lê Thánh Tông với lục bộ ( Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công ) kể cả xử dụng Luật Hồng Đức. Vẫn chính sách thủ cựu là duy trì nền Văn Hóa Khổng Nho của Trung Hoa, duy trì chữ Hán, giữ nguyên và gò bó chương trình thi cử vào mấy bộ Tứ Thư , Ngũ Kinh của Khổng Mạnh. Là vua 1 nước rộng lớn, mới thống nhất sau mấy trăm năm nội chiến với nhiều phe phái tranh giành xâu xé nhau xuất hiện liên tục, cộng thêm chính sách thuế khóa cao và cưỡng bức xây dựng đền đài ; sự bất bình của tầng lớp Sĩ Phu còn hoài nhớ Lê Triều và nạn đói thường xuyên diễn ra ở vài khu vực khắp nước nên Gia Long thường xuyên phải đối mặt với khoảng 73 phong trào chống đối trong suốt thời Ông trị vì – dù có lúc tỏ vẻ còn tôn trọng nhà Lê bằng cách phong quan tước cho con cháu Nhà Lê và dùng Cựu Thần của Lê Triều !. Lá Số của Vua Gia Long dưới nhãn quan Tử Vi Môn Tử Vi phát sinh từ thời Nhà Tống bên Tàu do Hy Di Trần Đòan sáng tạo ; được truyền sang Việt Nam từ thời Nhà Trần do Tiến Sĩ Hòang Bính làm quan dưới thời Tống Lý Tông lánh nạn quân Mông Cổ đem đại gia đình hơn 3000 người đến biên giới Hoa Việt được Vua Trần Thái Tông cho lập nghiệp ở Vùng Yên Bang. Để đền ơn tri ngộ, Hòang Bính dâng cô gái út Hoàng Chu Linh, nhan sắc diễm lệ, lầu thông thi thư và thuật số Tử Vi được Vua Trần thu nhận phong làm Huệ Túc Phu Nhân. Chính Phu Nhân đã phổ biến khoa này được Vua và Hòang Tộc Trần Triều đua nhau nghiên cứu và dùng như nguyên tắc để cử người giúp nước. Khi quân Nguyên sang xâm chiếm Việt Nam, chính Phu Nhân khi xem số Tử Vi các Tướng Lãnh đã khuyên Vua Trần quyết đánh. Vì dùng chữ Hán để lập Lá Số nên môn này qua các Triều Đại chỉ bí truyền cho các người biết chữ Hán nên phổ biến hạn chế. Đến Thế Kỷ thứ 19 khi chữ Quốc Ngữ được thay thế Hán Nôm nên các sách Tử Vi được phổ biến rộng rãi trong quần chúng hơn trước !. Các sách Tử Vi từ thời xưa chỉ chú trọng nhiều đến tính chất các Sao ( Chính Tinh và Hung Sát Tinh ) để xét Bản Chất và Cuộc Đời của 1 người – ít khi để ý đến Cấu Trúc của các Vòng Sao. Từ khi Học Phái Thiên Lương ra đời - đặt nặng về 3 Vòng ( Thái Tuế « Địa lợi », Lộc Tồn « Thiên Thời », Tràng Sinh «Nhân Hòa ») - nhất là Vòng Thái Tuế chỉ rõ tư cách cá nhân ( cũng phải dựa vào các Bộ của 14 Chính Tinh, Trung Tinh và Hung Sát Tinh ). Theo Cụ Thiên Lương khi Tiểu Vận gặp Vòng Thái Tuế ở vị trí Tam Hợp ( Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ ) luôn luôn được hưởng bộ Tứ Linh ( Long Phượng Hổ Cái ) đôi khi chỉ có 3 – là bộ sao đưa người ta đến vinh dự hưng vượng may mắn bằng thế này hay thế khác tức là làm cho người ta thỏa mãn hài lòng. Tuy nhiên Tiểu Vận trong Lá Số luôn luôn nằm trong Tam Giác ( Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách ) chỉ với 4 tuổi ( Thìn Tuất Sửu Mùi ), tiểu vận Thái Tuế nằm ngay Cung có Sao Tuế Phá ( bất mãn, hận lòng muốn đả phá quật ngược, không hài lòng như ý nguyện ), nhưng nếu để ý « Vấn Đề lưu Thái Tuế » thì Tiểu Vận Thái Tuế nằm trong Tam Giác ( Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ ). Hơn nữa theo kinh nghiệm cổ xưa về Hạn Cửu Diệu : Tiểu Vận Thái Tuế chính là Năm Tuổi tính theo Âm Lịch - đối với Nam Mạng ( 13 t, 49t, 85t gặp Hạn Thái Bạch ), ( 25t, 61t, 97t gặp Hạn Kế Đô ), ( 37t, 73t, 109t gặp Hạn La Hầu ) riêng 4 tuổi ( Thìn, Tuất, Sửu, Mùi ) khi vào Năm Tuổi còn gặp Hạn Tam Tai !. Với Nữ Mệnh chỉ có 2 năm tuổi 37t và 73t gặp Hạn Kế Đô. Với 3 Sao của Hạn Cửu Diệu ( La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch ) khi gặp cùng với Lá Số có nhiều Hung Sát tinh gặp trong Tiểu Vận rơi vào các Cung Quan Trọng ( Mệnh THÂN, Quan, Tài , Tật Ách ) thường dễ có vấn đề : nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào Giờ Sinh, Tháng Sinh của mỗi người. Theo kinh nghiệm của Cổ Nhân và dựa theo Thống Kê về Lá Số của Các Danh Nhân - nếu Mệnh THÂN nằm trong Tam Hợp Thái Tuế với Chính Tinh đắc cách, xa lánh Hung Sát Tinh lại trùng phùng 2 Vòng Lộc Tồn và Tràng Sinh đều là Thượng Cách ( Hán Cao Tổ Lưu Bang tuổi Giáp Ngọ ngày 13 tháng 11 giờ Ngọ :Mệnh Thân đồng cung tại Ngọ « Thái Tuế, Tử Vi »+Vòng Lộc Tồn+Vòng Tràng Sinh – Trương Lương tuổi Giáp Ngọ ngày 6 tháng 5 giờ Thìn : Mệnh Tử Phủ, Lộc Tồn, Tràng Sinh, THÂN cư Tài « Vũ Khúc, Hóa Khoa », Mệnh THÂN trùng phùng 3 Vòng Thái Tuế, Lộc Tồn và Tràng Sinh – Vua Quang Trung tuổi Nhâm Thân giờ Tuất ngày 5 tháng 5 : Mệnh THÂN đồng cung tại Thân được 2 Vòng Thái Tuế và Tràng Sinh trùng phùng ; Vòng Lộc Tồn nằm tại Tam Giác ( Điền, Ách, Bào : nằm tại Điền « lầu son, gác tía » ) - Tổng Thống Mỹ Obama tuổi Tân Sửu giờ Ngọ ngày 23 tháng 6 : Mệnh THÂN đồng cung tại Sửu +Vòng Lộc Tồn ; Vòng Tràng Sinh ở Tam Giác ( Điền, Ách, Bào). Lá Số nào Mệnh THÂN gặp được 3 Vòng ( Thái Tuế, Lộc Tồn, Tràng Sinh ) với Bộ Chính Tinh đắc cách hội Trung Tinh ( cũng đắc cách ) xa lánh Hung Sát Tinh không Qúy cũng Phú ( ngày xưa thì làm Vua, Công Hầu Khanh Tướng – ngày nay thì Tổng Thống, Chủ Tịch, ngôi vị Lãnh Đạo…).

Lá Số của Vua Gia Long

Sinh giờ Thân, ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ. Mệnh Thái Tuế+Phá Quân, THÂN cư Quan Lộc Tham Lang + Đà : Sát Phá Tham đắc cách hội Liêm Tướng. Thái Tuế tại Mệnh : ngôi vị có tính cao cả, mang một sứ mạng vì dòng tộc, nói năng đanh thép có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Phá Quân thuộc Thủy hợp Mệnh Mộc cương quyết, hiếu thắng, nóng nảy, ưa nịnh, cực đoan trong yêu ghét. THÂN cư Quan Lộc nên trong hành động kiên trì, quyết tâm đạt được mục đích bằng mọi giá ( công việc - sự nghiệp là cứu cánh ). Mệnh THÂN cùng cách Sát Phá Tham đắc cách như Vua Quang Trung nhưng khác nhau về Bản Chất và Tư Cách : Thất Sát triều đẩu hội Tử Phủ khác hẳn với Phá Quân hội Liêm Tướng trong cách hành xử. Về tài dụng binh, với Thất Sát ( bạo hổ băng hà : đánh trực diện - giải quyết chiến trường chớp nhóang ) ; Vương táng cho Trịnh Khải ( Tử Phủ hành động chính danh, quân tử và nhân hậu) kể cả đối với kẻ thù Sầm Nghi Đống - vừa an táng, còn cho lập Đền Thờ tại Đống Đa. Khi bắt Tướng của Nguyễn Ánh tha chết dù đã chiêu hàng được trọng dụng, nhưng không chịu!. Cầu hiền : 2 lần hạ cố viết thư mời La Sơn Phu Tử ra giúp nước!.Phá Quân trái lại ( thêm Liêm Tướng : tự ái, ưa nịnh, thù dai, tàn nhẫn ) trong dụng binh : luôn luôn dùng cách đánh tập hậu ; Hành động trả thù nhà Tây Sơn một cách Tiểu Nhân ( chu di tam tộc, ngựa xé voi dầy, lăng trì, đem hài cốt giam vào ngục tối ). Nghi kỵ bầy tôi dù dầy công trạng ( giết Đỗ Thành Nhơn khi làm Chúa - bỏ rơi không cho quân xuống cứu em rể là Tướng Võ Tánh ở Bình Định - bỏ rơi Công Thần Nguyễn văn Thành «  vì bài thơ của Con là Nguyễn văn Thuyên bị quyền thần ghét rồi vu cáo có ý phản nghịch – Thành uống thuộc độc tự vẫn, con bị chém » ; Đặng Trần Thường được thăng làm Binh Bộ Thượng Thư, chỉ vì làm gian sắc Phong Thần cho Hoàng Ngũ Phúc là tướng Nhà Trịnh được phong làm Phúc Thần, lại có hiềm với Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất bị vu cáo chiếm giữ đất đai nên bị bỏ ngục và bị xử tội giảo). Lá Số của Vua Gia Long được Vòng Thái Tuế ở Tam Giác ( Mệnh, THÂN cư Quan, Tài), Thái Tuế tại Mệnh ; Vòng Lộc Tồn ở Tam Giác ( Phụ, Nô, Tử ), Lộc Tồn đóng tại Cung Nô ( rất cần thiết cho 1 Lãnh Tụ muốn thành công ); Vòng Tràng Sinh ở Tam Giác ( Phúc, Di, Thê ), Tràng Sinh ( gặp nhiều may mắn trong Cuộc Sống được Qúy Nhân giúp sức ) đóng tại Cung Phúc (được hưởng Phúc từ Dòng Họ ) với Hình Tướng ( chân dung hồi lưu vong ở Xiêm năm 1783) : Tam Đình cân xứng, Ngũ Quan đẹp nhất là Mũi ( Long Tỵ : phát từ 40t, Tai ( vành quách đẹp có Thùy Châu). Đại Vận ( 2-11) và Đại Vận ( 42-51) là 2 Đại Vận Thái Tuế đẹp nhất trong cuộc đời khi Dòng Họ đang làm Chúa và khi lên Ngôi Hòang Đế. Bắt đầu vào Đại Vận ( 12-21) tại Phụ Mẫu gặp Thiên Không, Địa Kiếp, Địa Kiếp, Linh Tinh cuộc Đời nhiều Giông Bão: từ Năm Tuổi 13t +Hạn Thái Bạch- Kinh Thành Phú Xuân thất thủ, phải bỏ chạy vào Nam ; Năm 16t +Hạn Kế Đô +Tam Tai đã thoát nạn ( trong khi anh em Họ là 2 Chúa bị Tây Sơn bắt giết ). Nhờ Vòng Lộc Tồn nên dù gặp nạn cũng may mắn gặp Qúy Nhân giúp đỡ để thóat nạn ; nhất là Lộc Tồn tại Cung Nô Bộc ( nên được nhiều bộ tướng đem quân tình nguyện đến giúp sức :năm 17t đã được các tướng tôn làm Đại Nguyên Sóai ; kể cả được nhiều Tướng của Tây Sơn theo hàng ). Cung Nô Bộc đóng tại Hợi ( Thủy ) ứng với Đại Vận ( 52-61) được cả 3 yếu tố Thiên Địa Nhân cũng là Đại Vận đẹp, chỉ khi Tiểu Vận năm Kỷ Mão 1819 vào Tật Ách gặp Không Kiếp, Hình, Linh Hỏa +Hạn Thái Bạch 58t nên băng hà vào ngày 3/2/1820. Về nguyên nhân qua đời của Vua Gia Long theo Nhà Nghiên Cứu Y Dược Lê Hưng VKD ( đồng thời là Truyền Nhân của Học Phái Thiên Lương ) sau khi nghiên cứu các toa thuốc chữa bệnh cho Vua ghi trong Ngự Dược Nhật Ký của Thái Y Viện Triều Nguyễn cho biết Vua bị chứng Sơ Gan Cổ Chướng nếu biết sớm, như ngày nay, dễ dàng qua khỏi. Đó là chứng bệnh về Tiêu Hóa – theo Tử Vi - mẫu người Phá Quân dễ dàng mắc phải !. Đại Vận ( 22- 31) tại Phúc Đức khởi từ năm Qúy Mão 1783 đến hết năm Nhâm Tý 1792 tuy yếu về Thiên Thời ( Thế Hỏa của Tuổi vào Thế Thủy ) và Địa Lợi ( mạng Mộc vào Cung Kim tuy được Nhâm hóa giải ) nhưng được lợi Thế Nhân Hòa : Vòng Tràng Sinh +Tử Phủ Vũ Tướng, Khoa Quyền, Mã Khốc Khách ; tuy năm Qúy Mão 1783 tái chiếm được Gia Định nhưng lại bị Nguyễn Huệ đánh đuổi - phải chạy ra đảo Phú Quốc, Côn Lôn - dù có nhờ Quân Xiêm hỗ trợ cũng phải tị nạn tại Xiêm ( 1785-1787 ) phải đến năm Mậu Thân 1789 mới trở về tái chiếm Gia Định có sự giúp đỡ của số quân tình nguyện Pháp do GM Lộc chiêu mộ. Phải vào Đại Vận ( 32t-41t ) tại Điền Trạch được 3 yếu Tố Thiên Địa Nhân : nhờ những Cơn Gió Mùa cùng sự suy yếu của Triều Đại Tây Sơn ( rút quân Tướng từ Gia Định do bất hòa giữa Nhạc và Huệ - điểm tận cùng là sự chết bệnh của Vua Quang Trung, một đối thủ không thể đánh bại của Nguyễn Ánh ) đến năm cuối Nhâm Tuất 1802 mới lấy lại đất đai cũ của Dòng Chúa - rồi từ năm đầu của Đại Vận Thái Tuế ( 42-51) lên ngôi Hòang Đế !.

Cung Thê Thiếp:

Cung Thê Thiếp đóng tại Thìn (Thổ) nằm trong Tam Giác ( Phúc Di Thê ) được hưởng Vòng Tràng Sinh. Vũ Khúc đắc cách với Hóa Khoa hội Tử Phủ Liêm Tướng chính là hình ảnh của Thừa Thiên Cao Hòang Hậu (Tống Phúc Thị Lan ) sinh năm Tân Tỵ (19/1/1762) đoan chính xinh đẹp hiền từ khi còn nhỏ được Vua Gia Long đích thân đem lễ vật hỏi cưới năm Mậu Tuất 1778 lúc 18 tuổi, có 2 người con : Trưởng Tử Nguyễn Phúc Chiêu mất sớm, Nguyễn Phúc Cảnh tuổi Canh Tý 1780 ( mạng Thổ khắc tuổi Cha ) được phong Đông Cung Thái Tử cũng chết vì bệnh đậu mùa năm Tân Dậu 1801 khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 22t. Mẹ và Em đều bị thảm tử !. Năm Qúy Mão 1783 khi Tây Sơn chiếm lại Gia Định Vua phải lánh ra đảo Phú Quốc. Trước khi sang Xiêm, lúc giao Hoàng Tử Cảnh cho GM Lộc qua Pháp cầu viện, Vua đem 1 dật vàng bẻ làm đôi giao cho Bà 1 nửa và bảo rằng : « Con chúng ta đi rồi, ta cũng sẽ đi đây. Phi ở lại phụng thờ Quốc Mẫu, chưa biết sau này sẽ gặp nhau ở đâu và lúc nào ; Phi hãy cất làm của tin ». Hai mẩu vàng về sau cũng được ghép lại làm một khi lên ngôi Vua và làm Kỷ Vật truyền lại cho con cháu !. Khi Gia Long lấy lại Gia Định cho người đến Phú Quốc đón Bà và Quốc Mẫu về Gia Định. Từ đó mỗi khi Gia Long đi hành quân Bà thường đi theo. Khi Gia Long lên ngôi Hòang Đế năm Bính Dần 1806 Bà được lập làm Hòang Hậu. Năm Qúy Sửu 1793 khi Minh Mạng lên 3 tuổi Vua cho vào Cung Hòang Hậu làm con. Hậu yêu qúy như con ruột. Khi Hoàng Tử Cảnh chết Hậu chỉ còn Minh Mạng ở bên cạnh. Bà qua đời năm Giáp Tuất ( 22/2/1814 ) khi vận số đi vào Hạn Thái Bạch 53t +Kình Đà ; mộ phần được an táng cạnh huyệt phần của vua Gia Long trong Lăng Thiên Thọ.

Thuận Thiên Cao Hòang Hậu tên húy là Đang dòng Họ Trần, tổ phụ gốc Thanh Hóa đã theo Chúa Tiên Nguyễn Hòang vào Thuận Hóa lập nghiệp. Dòng Họ nhiều người làm quan dưới Triều Dòng Chúa. Bà sinh năm Mậu Tý « 4/1/1769 » nhập Cung năm 14t ở Gia định, là 1 Phi Tần cao nhất ( Nhị Phi ) của Vua Gia Long, mẹ đẻ của Vua Minh Mạng – cùng Thừa Thiên Cao Hòang Hậu là 2 người vợ gắn bó với Vua Gia Long thủa hàn vi. Khi Minh Mạng lên ngôi Bà được phong Nhân Tuyên Từ Khánh Hoàng Thái Hậu – Bà mất năm Bính Ngọ « 6/11/1846 » trong thời Vua Thiệu Trị khi vận số vào Hạn La Hầu 78t +Kình Đà.

Cung Thận Đức Phi Lê Ngọc Bình(em ruột Hòang Hậu Ngọc Hân vợ Vua Quang Trung ) là vợ Vua Cảnh Thịnh triều Tây Sơn sinh năm Giáp Thìn «  22/1/1785 » khi Vua Cảnh Thịnh bỏ Phú Xuân, bà bị bỏ rơi, Vua Gia Long si mê trước sắc đẹp - bỏ qua lời can ngăn của quần thần – phong Bà làm Cung Thận Đức Phi. Bà có với Vua Gia Long 2 Hòang Tử và 2 Công Chúa – Phi mất năm Canh Ngọ « 10/10/ 1810 » khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 26t. Ngòai 3 bà vợ kể trên Vua còn trăm Bà Phi khác, tòan là con của các quan tiến Cung.

Cung Tử Tức:

Vua có 15 Hòang Tử và 18 Công Chúa. Cung Tử Tức đóng tại Cung Mão ( Mộc) được 3 Yếu Tố : Thiên Thời ( Thế Hỏa đóng vào Thế Mộc), Địa Lợi ( Mệnh Mộc đóng ở Cung Mộc ), Nhân Hòa (được hưởng Vòng Lộc Tồn + Đồng Âm Cơ Cự hội Khôi, Ân, Tam Minh « Đào Hồng Hỉ » đều là Cát tinh ; nhưng cũng hiện diện Triệt và Hung Sát tinh Không Kiếp, Hình Hỏa Linh chiếu ). Thiên Khôi+Triệt : Hai Hòang Tử đầu con Thừa Thiên Cao Hòang Hậu : Phúc Nguyên mất sớm, Hòang Tử Cảnh coi như dòng Trưởng mất năm 22t ( 1801) ; Công Tử 2 Nguyễn Phúc Hy sinh năm Nhâm Dần 1782 chết năm Tân Dậu 1801 : Hạn La Hầu 19t . Công Tử 3 Phúc Tuấn mất năm 12t. Công Tử 4 Nguyễn Phúc Đảm con Thuận Thiên Cao Hòang Hậu sinh năm Tân Hợi «  25/5/1791 » chính là Vua Minh Mạng sau này ( tuổi Hợi - với Lộc Tồn ở Hợi - nằm trong Tam Hợp « Hợi Mão Mùi  » của Cung Tử Tức ). Đào+Triệt+Hung Tinh : 1 số Công Chúa chết trẻ dưới 10t. Từ Cổ xưa đến nay, bất kể Triều Đại nào từ Phong Kiến đến Độc Tài, nhân vật nào do cơ may «  nhờ Ngọai Nhân  » chiếm được Quyền Hành, cũng tự cho mình là « con trời », «  duy ngã độc tôn » là Lãnh Tụ anh minh, đỉnh cao của Thời Đại coi Triều cũ đều là Ngụy, riêng mình là Chính Danh, Chính Thống. Vua Gia Long không là ngọai lệ !.Dưới Triều Đại Gia Long bất kể từ Vua, Quan đến thường dân có dính vào Triều Đại Tây Sơn đều là Ngụy - bị giết hại một cách tàn độc. Nhưng Lịch Sử vô cùng sáng suốt – do các sự kiện thực cùng « bí mật Cung Đình », không phải ngụy tạo Lịch Sử do các Sử Gia dưới Triều Đại đó bị bắt buộc hay được hưởng ơn mưa móc !. Vua Quang Trung mới chính là Anh Hùng Dân Tộc trong Lịch Sử được hậu thế tôn vinh đến Muôn Đời !.

Kỳ Sau :
các Triều Đại kế tiếp

Về đầu trang





Powered by SmugMug Log In