Văn - Đỗ Thị Hồng - VAN-HOC DALAT

Cánh Hoa Thời Loạn

Đỗ Thị Hồng


Kỷ niệm 40 năm ngày gặp lại bạn cũ

Mai là tên của một loài hoa và cũng là tên của cô bạn thân của tôi từ lúc còn thơ ấu, hai đứa chúng tôi ở cùng chung một xóm. Từ năm học đệ lục thì chúng tôi thân nhau nhiều hơn vì học cùng trường và chung một lớp. Mỗi sáng chị tôi và tôi, rời nhà khoảng 6:45 sáng. Hai chị em đi lên con dốc trước mặt nhà, xong đi bộ thêm một quãng nữa thì đến nhà của Mai, rồi ba đứa chúng tôi cùng nhau đi bộ tới trường.

Chúng tôi đổ dốc Cô Giang, sau đó đổ thêm dốc ngang nhà ga Dalat. Mỗi khi đi tới con dốc này, cứ đúng 7:15 sáng, thì tiếng còi xe lửa hụ lên. Chúng tôi định với nhau mỗi lần còi tàu hụ thì chúng tôi phải đi bộ qua 3 cột điện, nên ba đứa dùng hết sức lực của đôi “lô ca chân” vượt qua khoảng cách của 3 cột điện khi còi tàu chấm dứt. Sau đó đi ngang qua Hồ Xuân Hương, lên dốc sau cây xăng Shell, đi ngang qua đài Phát Thanh Dalat rồi đến trường. Trưa lại đi bộ về nhà và leo dốc. Trong những lúc đi bộ như thế, chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Chuyện trên trời, dưới biển, nhiều lúc hết chuyện để nói thì chúng tôi hát, cứ mỗi đứa hát một câu của bài hát và như thế chúng tôi như hình với bóng; đi học cùng trường, đi cùng đường từ lớp đệ Lục cho đến lớp 12. Học được nửa năm của lớp 12 thì Mai đi lấy chồng.

Chị tôi và tôi vẫn tiếp tục đi học sau khi Mai theo chồng về Saigon. Chồng của Mai là sinh viên sĩ quan của trường Võ Bị Dalat. Sau khi ra trường, anh vào binh chủng Biệt Động Quân. Một năm sau Mai có đứa con gái đầu lòng, mang con về Dalat thăm bố mẹ nên tôi có dịp sang thăm bạn. Rồi khoảng một năm sau, tôi nghe hung tin của bạn, trong lúc Mai mang thai đứa con thứ nhì thì tin từ chiến trường cho biết chồng của Mai đã tử thương trong trận giao tranh với CS và không tìm được xác. Cả một bầu trời sụp đổ, Mai vấn khăn tang trên đầu lúc chưa đầy 20 tuổi.

Khoảng năm 1974 thì chồng của Mai trở về từ cõi chết. Thì ra anh bị quân CS bắt làm tù binh mà không ai biết. Họ giam cầm và di chuyển anh trong rừng, đi từ chỗ này sang chỗ khác để đưa ra Bắc. Lúc gần đến Quảng Ngãi, anh biết được gần khu vực có dân cư ở, thế là anh liều mạng trốn thoát, về lại Saigon gặp lại gia đình. Vợ chồng con cái vui mừng trong sum họp. Mai như cây khô héo sống lại; còn nỗi vui mừng nào hơn, nên bàn thờ của anh được dẹp xuống. Đất nước vẫn còn chinh chiến. 1975 chiến trường trở nên khốc liệt hơn. Anh trở lại đơn vị tác chiến cùng đồng đội. Vào tháng ba năm 1975, trong một trận giao tranh ở miền Trung thì anh bị tử thương. Lại một lần nữa Mai mang khăn tang trắng cho chồng. Thật tội nghiệp, còn gì đau khổ hơn, bơ vơ với hai con nhỏ và đang cưu mang cháu thứ ba lúc chưa đầy 23 tuổi.

Sau cơn biến động ấy, mỗi người một ngả. Hai chúng tôi mất liên lạc nhau. Tôi cứ tưởng Mai lo cho con bên nhà chồng ở Saigon. Còn tôi theo gia đình chạy loạn...Nhưng quả đất thật nhỏ hẹp, chúng tôi lại tình cờ gặp lại nhau trên đất khách quê người, sau hơn 40 năm xa cách. Chúng tôi nước mắt chan hòa khi gặp nhau. Còn nỗi vui mừng nào hơn của tình bạn, của cảnh ray rứt khôn cùng khi xa nhau, nỗi vui mừng cùng sự đau khổ không kể sao cho siết.

Nhắc lại chuyện xưa Mai kể rằng: “Mai sống với mẹ chồng, cuộc đời làm dâu thực cực khổ.” Mai lấy chồng từ lúc trẻ, lại có con cái sớm nên không đi làm chỉ ở nhà nuôi con. Bà mẹ chồng góa bụa, phải nuôi con dâu, nuôi cháu, nên cuộc sống tinh thần của Mai thật khổ sở. Chồng thì đi đánh trận liên miên, không có người bên cạnh để nương tựa, an ủi.

Mai nói tiếp:

-“Trong cuộc sống vợ chồng của hai người, tính ra số ngày mà hai vợ chồng con cái sum họp với nhau 24 tiếng đồng hồ trọn vẹn thì chỉ khoảng 31 ngày.”

Trời ơi! Thương cho bạn tôi quá. Mai nói: “Lúc anh mất, anh được mai táng ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nhưng cũng không được an nghỉ. Sau năm 1975, khi CS vào Sàigòn thì họ cho phá bỏ, san bằng nghĩa trang để dùng nghĩa trang này làm công viên, nên hài cốt của anh lại phải dời đi.” Thật đau khổ. Cuộc sống thật chật vật, một bên làm vừa lòng với mẹ chồng khắc nghiệt, một bên lo cho con còn nhỏ dại không cha, một bên thương nhớ chồng nên Mai nguyện với lòng sẽ ở vậy nuôi con như thân cò lặn lội ở bờ sông.

Năm 1980 gia đình của Mai nhờ anh em lo được cho con của Mai đi vượt biên, định cư ở Mỹ và sau đó Mai được bảo lãnh qua sau để đoàn tụ cùng các con.

Ngồi ôn lại chuyện cũ, tôi miên man cùng Mai như trải qua một giấc mơ. Tôi phục Mai, đúng là cánh hoa Mai trong thời loạn. Góa phụ khi tuổi còn xuân; làm tròn bổn phận nàng dâu, thiên chức tròn bổn phận làm mẹ và vừa làm cha, để nuôi nấng, dạy dỗ 3 đứa con thơ thành nhân cho đến ngày nay. Hai đứa chúng tôi vui cười trong nước mắt vì nay Mai đã trở thành bà nội, ngoại cùng vui với con cháu...

Tôi xin mượn những câu thơ của Hồ Dzếnh:


Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ “hy sinh” có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn cực khổ
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

để tặng Mai, người bạn từ thưở ấu thơ của tôi, cũng như các góa phụ và những đứa con mất cha thời chinh chiến. Xin thắp nén nhang cầu nguyện đến các anh linh của VNCH đã hy sinh xương máu cho dân tộc

Về đầu trang


Cặp Trứng Vịt

Đỗ Thị Hồng

Tôi viết bài " Cặp trứng vịt" từ năm ngoái (2013), nhưng cứ hẹn hoài để bỏ dấu rồi gửi đến thầy Diễm đọc trước, trước khi nhờ HMS post lên mái ấm VH. Bài viết xong, cứ nằm im một chỗ, cho đến hôm nay nghe tin thầy Diễm đã ra đi. Tôi xin trích một đoạn nhỏ trong bài "Cặp trứng vịt" để tưởng nhớ đến vị thầy khả kính vả chia sẽ cùng các bạn.

Lúc còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, tôi cũng được xếp vào loại học hành siêng năng , nhưng cũng có vài trường hợp ngọai lệ tôi đã bị lãnh vài cặp trứng vịt, và những cặp trứng vịt đó đã làm cho tôi nhớ suốt đời..

Lúc còn học ở cấp trung học tôi mong sao được lên lớp đệ nhất để được học triết, xem triết nó ra như thế nào? Nghe nó cao siêu và trừu tượng quá! Sau khi đậu tú tài một xong, vào lớp đệ nhất tôi rất phấn khởi chờ đến ngày được học triết. Vị giáo sư dạy triết của tôi là thầy Nguyễn Minh Diễm. Thầy người Bắc, giáng người to cao, giọng nói thầy hơi khàn khàn, thầy hay mặc quần tây màu khói lam, áo chemise tay cụt và mặc áo len sát nách cũng màu khói lam, thầy hay hút thuốc bằng ông điếu, ông giảng dạy chúng tôi môn Tâm Lý học, Đạo Đức học và Luận lý học.

Tôi rất hồi hộp xem học triết nó như thế nào?, nao nức đợi chờ ...

"Ôi chu choa ơi" trái với điều tôi dự tưởng , nó không ướt át như môn Việt văn tôi ưa thích với Nửa chừng Xuân, Đoạn tuyệt, Hồn Bướm Mơ Tiên, Xuân Diệu, Đoạn Trường Tân Thanh hay Bích cầu kỳ ngộ. Với những câu như:


Thành Tây có cảnh Bích Câu,
Cỏ hoa góp lại một mầu xinh sao!
Đua chen Thu Cúc, Xuân Đào,
Lựu phun lửa hạ, Mai chào gió đông.
Xanh xanh dãy Liễu, ngàn Thông,
lối mục rêu phong dấu tiều.
Một vùng non nước quỳnh giao,
Phất phơ gió trúc, dặt dìu mưa hoa.

Bích Câu Kỳ Ngộ

Hay,


Gió lướt thướt uốn mình qua cỏ rối,
Cây bâng khuâng đôi lá lẫn trong cành..

Và Những câu thơ hay dễ nhớ của Thế Lữ như:


Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Thay vào đó, tôi nghe thầy Diễm giảng về Tam Đoạn luận với:


Làm người thì ai cũng phải chết
Socrate là người
Thì Socrate cũng phải chết".

Rồi Freud , Kant , nói thế này, James nói thế kia, ôi chu cha ơi phải suy luận ra nữa, coi bộ khó quá , thầy Diễm quay roneo phát bài cho chúng tôi đọc. Thầy giảng hay nhưng lúc bây giờ tôi cứ "như vịt nghe sấm" khổ quá, có lẽ không phải là môn dễ học. Một hôm thầy Diễm cho bài làm ở nhà về triết, có lẽ không hợp cho tôi lắm và hay vì quên, đến ngày nộp bài mới nhớ, thôi chết rồi,...viết văn mình con "phịa" ra được, chứ còn triết không biết làm sao mà diễn giảng đây? Nặn óc không ra, không có thì giờ để suy nghĩ, thế là tôi đành lòng phải nộp giấy trắng, và kết quả là tôi được thầy Diễm cho cặp trứng vịt về ăn.

Đau khổ quá.... và đó là một trong những cặp trứng vịt mà tôi nhớ mãi. Giờ đây rảnh rỗi hơn, tôi Google để "nghiên cứu " lại môn "triết," hiểu hơn được chút chút, thấy cũng hay hay, đọc tới đây chắc thầy Diễm sẽ phải "hãnh diện"về tôi và có thể thầy gật gù, chúm chím cừơi và cho rằng " có tiến bộ đáng khen."

Xin tưởng nhớ đến vị thầy khả kính.

Về đầu trang


Giã Từ Đà Lạt

Đỗ Thị Hồng

Tháng Ba ngày 23 1975 là một ngày bao năm tôi vẫn nhớ, vì ngày đó là ngày tôi rời Dalat, nơi tôi được sinh ra và lớn lên trong hạnh phúc và tình thương yêu của cha mẹ và anh chị em.

Mùa Xuân Năm 1975, tôi vừa chập chững làm cô giáo mới, ra trường khoảng 4 tháng trước đó nhưng vì không muốn nhận nhiệm số ở những nơi xa hơn Dalat như Bảo Lộc, Tùng Nghĩa nên tôi và một số bạn ráng chờ, rồi cũng được bổ nhiệm dạy ở trường tiểu học Sào Nam cũng không xa thành phố Dalat lắm, trường nằm giữa đường đi từ Dalat xuống Trại mát, trường được xây cất ở giữa thung lũng của Ấp Sào Nam. Từ trên đường cái muốn tới trường phải đi xuống một còn dốc dài. Cái duyên mặc dầu ngắn ngủi chỉ khoảng ba tháng làm cô giáo cũng còn trong tôi những kỷ niệm đẹp.

Vào dịp Tết năm đó, tôi được “Chú Sĩ” lì xì. Thực ra chú đã lên chức vị thầy rồi, chú tu ở chùa Linh Sơn, vì cùng học chung lớp với cô em, nên chúng tôi quen gọi là chú. Tết năm đó tụi tôi đòi chú lì xì bằng cách xem chỉ tay, đến lượt tôi, chú nói: -

“À, bàn tay này có số đi xa, cuộc đời sẽ thay đỗi nhiều lắm, lắm...” Tôi nghĩ chắc mình sẽ xa nhà vì đi dạy học xa và thay đổi thì chắc rủng rỉnh có tí tiền còm làm cô giáo. Tưởng như cuộc sống sẽ bình lặng như thành phố tôi đang ở, nhưng sau Tết tất cả đều thay đổi, những cơn biến động dồn dập xảy ra như tin Ban Mê Thuột đã đi tản làm cho tôi cũng như bao nhiều người chung quanh hoang mang lo sợ.

Một hôm khi đi dạy về, tôi thấy hàng xóm lao xao, người chạy ngược chạy xuôi để tìm đường di tản. Mở radio nghe thì nghe ông thị trưởng tuyên bố Dalat di tản, nhìn quanh đầu đầu cũng thấy người ta hốt hoảng mang theo đồ đạc để rời Dalat đi về Saigon, Phan Rang hay Nha Trang, gia đình tôi không đi đâu hết nhưng khi nhìn thấy hàng xóm bỏ đi gần hết tôi cũng thấy sốt ruột, lúc bấy giờ mẹ tôi, hai bà chị và anh lớn đang ở Saigon, người em trai đang bị thương nằm ở bệnh viện Cộng Hòa ở Saigon, còn lại Ba tôi, tôi và bốn người em nữa đang ở Dalat. Thằng em trai đang học lớp 12, vì lo sợ cho nó nên có người hàng xóm về Phan Rang và có con là bạn học với em trai tôi, nên họ cho nó đi cùng. Nhà chỉ còn lại ba tôi và mấy chị em gái. Thằng em trai đi rồi tôi cũng bớt lo lắng, nhưng gia đình bỗng nhiên phân chia, ly tán. Mẹ tôi ở Saigon nghe tin tức bảo Dalat chạy loạn cũng nóng ruột không biết gia đình ở Dalat như thế nào nên bảo ông anh về Dalat xem. Biết được em trai đã đi về Phan Rang ông lại phải lặn lội xuống Phan Rang đi kiếm, vậy mà may sao cũng kiếm được. Ba tôi và ông anh quyết định cho em trai và hai người em gái nhỏ đi theo anh về Saigon. Ba và hai người con gái ở lại. Ông định: nếu có chuyện gì thì ba cha con lo liệu.

Thấy hai đứa tôi xếp những bộ đồ đẹp nhất nhét vào vali, anh bảo tụi tôi:

- “Bây giờ xách vali thử xem đi được mấy bước?”

Và ảnh chỉ dẫn, dặn dò cách mưu sinh thoát hiểm trong trường hợp phải đi trong rừng, dù sao ảnh cũng đã từng đi lính Lực Lượng Đặc Biệt.

Tháng Ba.

Dalat lúc này càng hoang vắng hơn, nhất là những buổi chiều, không khí cô tịch bao trùm một sự yên lặng nhưng có cái gì bất trắc ẩn hiện trong đó. Hai chị em ra chùa Trúc Lâm cầu nguyện.

Dalat 20 tháng Ba.

Chiều tối nay có anh bạn Hướng Đạo của em gái tôi ghé ngang nhà, thấy hai chúng tôi, anh hỏi:

- “Sao còn ở đây?”

Tụi tôi nói:

- “Tụi em tử thủ Dalat mà.”

Anh nói:

- “Tử thủ cái con khỉ. Nha Địa Dư, Kho bạc tối nay người ta đã bỏ rồi đó. Nếu không đi được bằng đường hàng không, thì chuẩn bị cơm nắm muối mè, giày bata quần jeans, mang theo bột ngọt để làm thuốc cầm máu, chuẩn bị đi bộ 3 ngày thì đến Phan Rang và đi càng sớm càng tốt.”

Thật sự lúc đó tôi sợ và hoảng hốt lắm, sau khi anh ra về rồi, tụi tôi nói cho Ba nghe và nói với Ba là mình phải rời Dalat, Ba đồng ý.

Dalat 21 tháng Ba, 1975

Sáng nay Ba nói:

- “Hai đứa còn đi thôi Ba không đi đâu.”

Hai đứa tôi gắng thuyết phục nhưng ba tôi nói:

- “Ba ở đây, để nhỡ có tin tức ở trường học thì ba sẽ liên lạc với các con, khi nào bình yên thì nơi đây là căn nhà để các con trở lại, hơn nữa còn hai con chó nữa.”

Nghe cũng bùi tai nên chúng tôi đồng ý. Bây giờ nghĩ lại chắc ba tôi đã mất ngủ cả đêm cho cái quyết định đi hay ở lại đó. Năm 1945 ba mẹ tôi cũng đã rời Dalat chạy loạn về Phan Rang, ông phải lẫn trốn quân đội Nhật, hai ông bà thất lạc nhau, mẹ tôi đang mang bầu chị lớn trốn ở gầm cầu, may thay tụi Nhật cho mẹ tôi vào nhà thương sinh, sau đó bà được vị sư già ở vùng núi Cà Đú cho tạm trú, vài tháng sau đó thì ba mẹ tôi tìm gặp lại nhau.

Ngày 22 tháng Ba 1975

Em gái tôi có quen một chị bạn làm ở Air Việt Nam nên mua được hai vé máy bay ngay không phải chờ đợi hay mua vé chợ đen. Những thứ gì mang đi và những thứ gì để lại, ôi sao cái gì cũng muốn mang theo cả. Nhớ lời của ông anh dặn, tôi chỉ mang theo một ít quần áo, photo album,nhật ký và hộp giấy tờ ba má tôi cất trong góc nhà, gồm tất cả những giấy tờ quan trọng như giấy khai sinh của tất cả anh chị em, và tôi cũng mang theo những học bạ của những năm còn học ở trung học mà hiện nay tôi cũng vẫn còn giữ.

Ngày 23 tháng Ba 1975

Buổi sáng, Ba tôi xách vali cho hai chị em tiễn hai đứa về Saigon. Trong đầu tôi chỉ nghĩ rằng mình đi một thời gian thôi, và hẹn sẽ gặp lại Ba sau, ba cha con chia tay nhau và có biết đâu rằng đó cũng là lần cuối.... Ra đến nhà ga Dalat, tôi không ngờ là người đông như thế, không phải người Dalat mà những người ở Bảo Lộc, Lâm Đồng đi di tản, người Dalat đã đi hết rồi. Hai đứa tôi không thể chen lấn như họ được, đứng đó chỉ nhìn những xe bus rời bến. Thấy hai chúng tôi còn lóng ngóng đứng đó, chị bạn Air Việt Nam bảo tài xế ngừng xe bus lại, ông tài xế quẳng hai cái vali của chúng tôi lên mui xe, hối hai đứa tôi ra ngồi trên đống hành lý phía sau xe, vì xe đă chật cứng người rồi. Xe rời nhà ga Dalat đi qua Hồ Xuân Hương rồi trực chỉ về Phi trường Liên Khương. Trong xe bỗng nghe tiếng khóc than của bà cụ già người miền Bắc, vừa khóc bà vừa kể lể, rằng cháu của bà còn đang ở sân ga, ai cũng động lòng thương hại. Ông tài xế nói:

-“Để tôi quành xe lại để bà ở lại kiếm cháu bà.” Nhưng bà không chịu, mới vỡ lẽ rằng cháu của bà còn đang ở sân ga với mẹ của nó, vì không lên cùng một xe được. Bà mắng mẻ cô con dâu đã không nhanh chân lên xe được cùng: “Thà chết một đống chứ không sống một mình.” Tuy nói thế, bà không chịu trở về sân ga, làm trên xe ai cũng bật cười.

Đến phi trường Liên Khương, tôi lo hành lý, nhỏ em vào ghi thủ tục, rồi chúng tôi cũng được xếp theo thứ tự lên máy bay về Saigon. Từ trên máy bay nhìn xuống thấy cảnh đẹp và hiền hòa quá, máy bay xa dần mang chúng tôi về Saigon, và đó cũng là lần cuối tôi nhìn thấy Dalat. Trứơc khi rời Dalat, hai chị em đã ra chùa Trúc Lâm như thường lệ đứng dưới pho tượng Phật Quan Âm cầu nguyện. Sau đó chúng tôi đi ra chợ Dalat, nhìn thấy rau cải hoa trái chất đầy chợ, bán với giá thật rẻ, nhưng chả có mấy người mua, nhìn thấy những bó hoa hồng nhung nằm lây lất thật tội nghiệp hai đứa tôi mua hai tá để mang về Saigon. Trên máy bay có lẽ nhìn qua kính chiếu hậu từ phòng lái thấy trong đám người chạy loạn có hai cô con gái mặt mày trông cũng sáng sủa lại ôm hai bó hoa hồng, anh chàng Pilot phụ đi xuống làm quen, bảo: -

“Chưa thấy ai chạy loạn lại mang bông hồng bao giờ!” Anh cho biết vì nhu cầu nên anh và người Pilot chính đều là lính không quân nhưng được bổ nhiệm sang Air VN để chở dân tị nạn về Saigon. Sau khi hạ cánh chúng tôi có gặp người Pilot chính và ngỏ lời cám ơn đã giúp chuyên chở những người di tản như chúng tôi. Phi trường Tân Sơn Nhất thật là xô bồ, nóng bức khác hẳn với xứ Dalat hiền hoà mát mẻ và êm ả của tôi. Gặp một số người rời Dalat trứơc, họ đến nói chuyện với người mới tới như chúng tôi để biết thêm tin tức về Dalat. Tại đây tôi có gặp lại vị thầy cũ, thầy dạy ở trường Chiến Tranh Chính Trị và Sư phạm.

Trong số người thăm hỏi tin tức đó có một anh chàng cũng đã ở Dalat thấy hai chị em đang mặc cả taxi về Phú Nhuận, anh chàng có xe hơi nên ngỏ ý cho hai chị em quá giang. Xứ lạ quê người tôi cũng sợ, còn đang chần chờ, sẵn có thầy bên cạnh nên quay sang cầu cứu:

-“Thầy, thầy thấy sao thầy?” Nghĩ lại mình vô duyên quá, đặt thầy vào vị trí khó xử, may quá hai đứa không bị người lạ bắt cóc, mà hôm sau còn được đi quá giang lên Bộ Giáo Dục để trình diện nữa. Cơn bão lốc đã cuốn hút chúng tôi đi từ ngày đó, xa rời mái ấm, xa rời Dalat thân yêu, Dalat của tuổi ấu thơ, của thời niên thiếu, biết bao kỷ niệm chồng chất. Những lúc còn bé theo cha mẹ đi lễ chùa vào những ngày 30, ngày rằm.

Làm sao tôi quên được những đêm trăng rằm thật đẹp, những vì sao trên trời chừng như sáng hơn và gần hơn. Những buổi sáng đi học trong sương mù lạnh cóng. Những buổi chiều lộng gió lên đồi sau nhà thả diều, xếp những miếng giấy nhỏ viết một vài câu ước nguyện để con diều mang lên trời. Những lần đi câu cá, đèo nhau trên chiếc xe đạp hì hục leo dốc rồi thoải mái để xe thả dốc. Những lần sau này lớn hơn một chút, anh chị em trong nhà cùng bạn bè họp nhau đàn hát và lập ban nhạc lấy tên “Sao Khuya” được ông giám đốc đài phát thanh Dalat cho hát nửa tiếng mỗi tuần một lần…

Kỷ niệm nhiều lắm, không làm sao kể hết được.

Xa Dalat đã 38 năm. Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ, những bước thăng trầm của cuộc sống vẫn không làm phai nhạt Dalat trong ký ức của tôi và làm tôi trân quí hơn những tháng ngày hoa mộng của thời thơ ấu.

Về đầu trang


Thầy Chử Bá Anh

Đỗ Thị Hồng

Tôi có duyên học ở trường Văn Học chỉ có hai năm, nhưng trong hai năm đó là hai trong những năm vui nhất trong đời học sinh của tôi, nó cho tôi đầy ắp những kỷ niệm, và những kỷ niệm này đã ăn sâu vào ký ức.

Sau khi thì rớt tú tài 1 - trước đó tôi học trừơng Trí Đức - nghe Mùi em gái đang học trường Văn Học nói:

-“Trường VH có lớp đặc biệt dạy cho những người đã từng trợt vỏ chuối đó.” Nghe thế tôi muốn lên trường để tìm hiểu thêm. Tôi đón xe đò từ Cô Giang lên bến xe đò ở chợ Dalat, rồi đi bộ xuống dốc Duy Tân, ngang qua trường Việt -Anh quẹo trái đường Hoàng Diệu, đây rồi trường VH nằm trên đồi, phải leo lên những bậc tầng cấp cao mới vào sân trường. Tôi còn đang lơ ngơ nhìn, thì thầy Chử Bá Anh từ trong cửa văn phòng bước ra, ông hỏi thăm và tự giới thiệu:

-“Tôi là Chử Bá Anh, hiệu trưởng của trường Văn Học.” Tôi chào Thầy. Tôi đã nghe tên lâu, nhưng hôm đó mới hân hạnh được gặp thầy. Ông mặc bộ đồ vest màu đen, thắt cravate áo chemise màu trắng, thầy trông rất đạo mạo mà rất dễ thương. Thầy hỏi tôi cần sư giúp đỡ gì? Sau khi nghe tôi “ca bài con cá nó sống vì nước” về tình cảnh của mình, thầy giới thiệu lớp đệ Nhị học lại, sau đó thầy nói sơ qua về lớp học đặc biệt này, lần đầu tiên mở để đón nhận những học trò ở Dalat đã từng “qua cầu gió bay” như tôi, lớp học nầy tên là Nhị B2.

Ông nói thêm:

-“Vì lớp nầy đặc biệt cho những em đã từng học qua lớp đệ nhị rồi, nên thầy cô giảng dạy sẽ khác hơn lớp đệ nhị bình thường.”

Sau đó thầy giới thiệu tôi sang bác Tình làm trong văn phòng làm thủ tục hồ sơ để tôi nhập học lớp 2B2 và tôi có duyên với trường Văn Học từ ngày đó. Lớp 2B2 năm đó x

ác xuất thi đậu rất cao, tôi nghĩ khoảng hơn 90%. Thầy Chử Bá Anh là một người rất hoạt bát, tiếng nói của ông sang sảng uy nghi, đặc biệt là mỗi lần đứng trước đám đông ông ứng khẩu, chứ ông không “đọc” diễn văn, ông đứng trước micro và nói với giọng của người Bắc, giọng của ông thật hay, mạnh và lôi cuốn sự chú ý của người nghe.

Thầy Chử Bá Anh còn có biệt tài nữa là ông nhớ tên của tất cả các học sinh, tên cha mẹ và chỗ ở nữa, có lần trong rạp Hoà Bình vào buổi sáng thứ Ba của mỗi tháng, trường có cho tất cả học sinh đi xem ciné, vì trong rạp còn tối, và tôi còn đang kiếm chỗ ngồi, ông rọi đèn pin và nói to:

-“Đỗ Thị Hồng làm gì còn đứng đó mà chưa ngồi xuống”. Quê quá, tôi phải kiếm chỗ ngồi xuống cho lẹ.

Thầy Chử Bá Anh trong việc giáo dục, ông chọn những thầy, cô giáo giỏi và nổi tiếng để vào dạy cho học sinh. Mỗi năm vào kỳ thi tú tài, thầy liên lạc về Bộ Giáo Dục, mang danh sách những học sinh của Đalat thi đậu và thông báo sớm nhất thành thử học trò ở Dalat mặc dầu không phải là học sinh của trường, cũng đã hơn một lần đặt chân đến trường Văn Học.

Ông còn lo giấy tờ hoãn dịch cho các nam học sinh, để còn được đi học cho đến lúc thi tú tài. Ông cũng nâng đỡ các học sinh thiểu số vào học trường Văn Khoa và Văn Học. Thầy tổ chức những cuộc thi thể thao mời các trường khác đấu giao hữu, và thầy cũng gửi những học sinh của VH đi dự thi thể thao khắp nơi.

Mùi em gái tôi cũng là một trong những lực sĩ gà của trường VH. Mùi đi tranh giải chạy 100 thước thi với trường Couvent des Oiseaux, tôi còn nhớ tôi đi cổ võ cho gà nhà, và gà đứng cổ võ thì hồi hộp và run lẩy bẩy như “cầy sấy” mặc dầu không có thi, lúc chờ tiếng súng bắn báo hiệu, cặp chân của tôi như muốn gập xuống. Sau khi tiếng súng báo hiệu chấm dứt tôi mới hoàn hồn thì Mùi đã chạy về tới đích với giải nhất, tôi rất vui mừng và cảm thấy nhẹ nhõm như mình đã thắng vậy. Sau đó thầy Chử Bá Anh thuê huấn luyện viên tập dợt cho đoàn “lực sĩ” của VH để xuống Phan Rang thi, Mùi đoạt giải hạng ba 100 meter huy chương đồng cho toàn vùng. Chắc tại không có gà nhà đi hỗ trợ tinh thần.

Bước vào cửa văn phòng của trường VH, thầy triển lãm vô số những cái cúp, thành tích của học sinh trường VH.

Ngoài việc trí dục, đức dục thầy còn lo những vấn đề giải trí và xã hội nữa. Về giải trí như đã nêu trên mỗi tháng ông cho tất cả các học sinh của trường đi xem ciné. Sau khi xem ciné xong, thì có mục trình diễn tự do.

Tôi nhớ một lần, có cô học sinh tên Thanh học lớp Nhị A từ Saigon lên học ở Dalat. Người miền nam, lên hát bài tân cổ giao duyên “Gạo Trắng Trăng Thanh” thật hay, lúc cô xuống giọng sáu câu, cả rạp vỗ tay gần như rạp muốn nổ tung. Thời bấy giờ nếu có Karaoke chắc tôi cũng xin ghi danh đấy.

Tôi nghĩ chỉ có trường VH mới có những chương trình như thế thôi. Giờ ra chơi thầy cho học sinh nghe nhạc. Thầy cũng mời đoàn văn nghệ sinh viên Tiên Rồng từ Sàigòn lên Dalat để trình diễn cho chúng tôi xem. Ban Tiên Rồng trình diễn thật hay và đặc sắc, lo cho một đoàn văn nghệ mấy trăm người từ Sàigòn lên, thầy lo chu đáo cho họ chỗ ăn chỗ ngủ, phương tiện di chuyển, đó không phải là chuyện nhỏ.

Thầy còn tổ chức những buổi cắm trại cho chúng tôi nữa. Tôi còn nhớ buổi cắm trại đêm ở trường Văn Khoa, lúc ấy trường Văn Khoa còn đang xây dở dang.

Về mặt xã hội, mỗi lần trong nuớc có vụ tai ương như lũ lụt cáp duồn từ Campuchia, thầy hăng hái tổ chức cho chúng tôi là những học sinh đi quyên tiền để giúp đỡ người bị nạn, tôi còn nhớ thầy chở chúng tôi lên tận những khu xóm xa xôi như ấp Đa Thiện để quyên góp, rồi thầy lại đón về. Trường VH là một trong những trường quyên góp nhiều nhất và đóng góp nhiều nhất trong quỹ từ thiện ở Dalat.

Thầy Chử Bá Anh rất dễ thương nhưng cũng rất nghiêm khắc, học sinh nào phạm kỷ luật là thầy cho ăn roi mây. Giờ học mà học sinh nào đi lang thang trốn học, hay vào quán bi da, ông lái xe đi ngang, ngừng lại, “a lê hấp” thầy “hốt” lên xe chở về trường ăn roi mây và bắt về lớp học.

Anh con trai nào theo thời trang để tóc dài theo kiểu ca nhạc sĩ của ban the Beattles thì thầy gọi lên văn phòng, ông cầm cái kéo, sớn một lằn từ dưới gáy lên tận đỉnh đầu, và từ đó thì “mái tóc thôi bay”.

Thầy Chử Bá Anh và cô Vi Khuê đã chọn màu vàng cho bọn con gái chúng tôi làm đồng phục, màu vàng sang trọng, đẹp nhẹ nhàng nổi bật với chiếc quần đen, tôi cũng đã mặc áo dài vàng di diễn hành của trường VH ngày nào, vì màu áo vàng sáng ngời được mặc bởi những cô học sinh ngây thơ xinh đẹp, tôi đoán, chắc có nhiều anh chàng đã “về yêu hoa cúc” từ ngày đó.

Nhà tôi ở Cô Giang xa trường, thường đứng đón xe đò đi học, nên mỗi lần thầy đi ngang qua và cho tôi quá giang đến trường nên tôi có dịp được truyện trò với thầy nhiều.

Tôi không nhớ năm nào trong khoảng thập niên 80, tôi có dịp được nói chuyện thăm thầy cô lúc đó ông đang làm CBA News ở Washington DC. Con tạo xoay vần, người đi kẻ mất, tôi viết lên vài dòng để tưởng nhớ và cám ơn đến vị thầy khả kính, đã bỏ công lao xây dựng lên những ngôi trường nổi tiếng ở Dalat và đã đào tạo ra hàng ngàn học sinh hữu dụng. Cầu xin ơn trên cho ông được siêu thoát, và cũng cầu chúc cho cô Vi Khuê được nhiều sức khoẻ.

Thành kính,
Đỗ Hồng thay mặt cho gia đình và anh chị em.
Đỗ Viên Thông, Đỗ Mùi,Đỗ Thế Quang


Memorial weekend May 27, 2013

Về đầu trang


Thầy Giáo Đầu Tiên

Đỗ Thị Hồng


Xin kính tặng "Ông Tiêm", Ba Mẹ, tất cả các vị Thầy Cô

Tôi đang download một vài cái App cho IPad , một trong những câu hỏi hiện lên khi download.

"Người thầy giáo đầu tiên của bạn là ai?".

Câu hỏi này làm tôi khựng lại và suy nghĩ : Ai là người thầy giáo đầu tiên của mình?, uhh....

Ai là người thầy giáo đầu tiên của mình? Dĩ nhiên người thầy giáo đầu đời là cha mẹ và anh chị lớn trong nhà, nhưng lúc cắp sách đến trường ai là người đầu tiên chỉ cho mình bài học vỡ lòng? Trong đời của mình đã được dạy giỗ bởi nhiều thầy cô, nhiều thầy giáo thật đáng nhớ, moi lại ký ức , vang vang trong đầu của tôi tiếng của Ông Tiêm:

Thầy Mẫn Từ rất đường hiếu nghĩa...

Tôi sinh ra đời trong một gia đình đông anh em, bố mẹ tôi đến Dalat lập nghiệp vào khoảng năm 1939

Căn nhà của chúng tôi ở trong thung lũng giữa truờng Lycee Yersin và khu Tạo tác, lúc mới lập nghiệp ở Dalat thung lũng này là một thung lũng toàn là rừng thông, những cây thông san sát mọc bên nhau. Chúng tôi sống và lớn lên trong tình thương yêu của cha mẹ anh chị em, bên những tiếng thông reo vì vu qua những đồi thông bạt ngàn, cùng với đồi núi chập chùng chen lẫn với những cây mai tô sắc cho núi rừng Dalat. (chắc bạn khẽ than rằng "vâng, biết rồi khổ lắm , nói mãi"!!)

Trong xóm Ông Tiêm là người lớn tuổi nhất , ông giỏi về Hán nên ông mở trường dạy học cho những trẻ nhỏ trong xóm như chúng tôi. Có lẽ ông là người già nhất trong xóm, ai cũng gọi ông là ông Tiêm, học trò chúng tôi cũng gọi ông là ông Tiêm chứ không gọi là Thầy Tiêm. Tôi còn nhớ ông giáo Tiêm là một người ốm gầy guộc, dáng người khắc khổ tóc bạc, ông người Huế, hút thuốc lào , móng tay của ông để dài, chúng tôi rất nể sợ ông, vì ông có vài cái roi mây dài cuộn lại treo ngay giữa cột nhà.

Căn nhà của ông rộng lớn, căn nhà chính nhìn xuống vườn rau và con suối, ông dùng căn này để làm bàn thờ tổ , và để ở. Chúng tôi những học trò không được léng phéng đến gần căn nhà chính, nhưng có lần vì tính tò mò tôi và bà chị đã nhìn thấy căn nhà chính , khi bà Tiêm không có ở nhà và thầy giáo Tiêm đang nằm hút thuốc lào trên chiếc divan, tôi và bà chị Thắm lén đi ra phía trước nhà, chị Thắm cao hơn, nên chị kiễng chân lên nhìn vào từ cửa sổ, sau đó chị công kênh tôi lên để nhìn vào .

Bên trong căn nhà chính có vẻ oai nghiêm ,có những miếng vải hay giấy màu đỏ ghi bằng tiếng Tàu , trên bàn thờ có hình đức Phật, phía dưới có những hình ảnh đen trắng của những ông bà già, tôi đoán đó là bàn thờ tổ tiên, và hình của những ông thần mặt đỏ, đèn nến cháy mù mờ, với tuổi tôi lúc bây giờ, tôi rất sợ khi thấy những hình ảnh trong căn nhà thờ của thầy giáo Tiêm., vì sợ bắt gặp và bà chị mất thăng bằng thế là hai đứa tôi ngã nhào, và đó cũng là lần cuối tụi tôi nhìn vào căn nhà chính của ông Tiêm.

Lớp học của chúng tôi ở căn nhà sau thông suốt quá căn nhà bếp, tấm bảng đen to tướng được treo ở giữa nhà, bên trên bảng đen có vài cây roi mây cuộn tròn, phía dưới bảng đen là cái divan gỗ để ông Tiêm ngồi dạy học, hay nằm hút thuốc lào, và cũng là chỗ để bà Tiêm ngồi nhai trầu , phía sau divan là những cái lò để nấu ăn, và có cái kiềng ba chân để nấu cháo heo, nhiều lúc củi không cháy khói bay mù mịt lan tỏa ra phòng h

ọc, chúng tôi được chỉ thị thay phiên nhau thổi lửa.. Học trò của ông là những đứa trẻ trong xóm như chúng tôi, nhỏ nhất là 4, 5 tuổi và lớn nhất là 9,10tuổi. Vì lứa tuổi khác nhau như thế và trình độ khác nhau nên ông chọn một vài đứa lớn trong đám học trò để làm phụ tá cho ông, những phụ tá này thường là những anh còn trai, và rất hãnh diện vì được ông Tiêm chọn , một trong những phụ tá của ông Tiêm có anh lớn nhất trong lớp ở khu Cô giang C, vì được ông Tiêm thương và chọn làm phụ tá, nên anh ta "gáy" lắm, đi vòng vòng như ông thầy giáo chính hiệu, nhìn chúng tôi lóng cóng tập đồ chữ hay lập lại những bài học thuộc lòng

Tôi là một con bé 4,5 tuổi lúc bây giờ, còn ngơ ngác và sợ sệt, nhưng vì có anh chị cùng học trong lớp với ông Tiêm nên tôi chỉ nem nép theo anh chị.

Mỗi ngày khi bắt đầu lớp học thì anh phụ tá đánh vào cái kẻng treo ở ngoài cửa lớp học, chúng tôi lục tục vào chỗ ngồi, vì ông Tiêm rất nghiêm khắc nên chúng tôi im lặng không như đàn ong vỡ tổ vào lúc giờ chơi, và không khí càng im lặng và khó thở hơn khi có mặt của Bà Tiêm ở trong phòng học ( tôi sẽ nói về Bà tiêm ở đoạn sau), khi chúng ngồi ngay ngắn vào bàn xong, anh phụ tá tay cầm cây thước dài và đọc to:

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa

Đọc xong anh đập cây thước xuống bàn thật to, thế là tất cả những cái miệng trong lớp đều lập lại.

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa

sau đó:


Sót nhà Huyên quạnh quẽ đã lâu,
Thờ cha sớm tối theo hầu
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn
Trời đang tuyết cơ hàn lạnh lẽo
Hai em thời áo kép gù bông
Chẳng thương chút phận long đong
Hoa lau nở để lạnh lùng một thân
Khi cha dạo theo chân xe đẩy
Rét căm căm nên xảy rời tay
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng cắt đứt sợi dây phụ tuỳ...
Gạt nước mắt chân qùy miệng gửi
Lạy cha xin xét lại nguồn cơn,
Con còn chịu một thân đơn
Mẹ đi lạnh lẽo cơ hàn cả ba
Cha nghe nói cũng sa giọt tủi
Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng xưa
Cho nên hiếu nghĩa mong từ
Phải theo như thế mới là đạo con...(*)

Và cứ thế, mỗi ngày chúng tôi đều lập lại bài thơ học thuộc lòng về lòng hiếu nghĩa của Thầy Mẫn Tử đối với cha và mẹ ghẻ. Với trí óc non nớt lúc bây giờ, tôi thấy sợ bà mẹ ghẻ quá, tôi không nhớ nhiều những gì tôi hoc trong lớp vỡ lòng với thầy giáo Tiêm, nhưng bài học thuộc lòng Thầy Mẩn Tử vẫn còn im đậm trong trí nhớ, bây giờ với số tuổi gần 60 những câu thơ trong lớp học vỡ lòng ngày nào vẫn còn vang vọng khi nghĩ đến người thầy giáo đầu đời của tôi, thầy giáo Tiêm Nói đến thầy giáo Tiêm và không nhắc đến bà Tiêm thì quả là một điều thiếu xót, trái ngược với ông Tiêm dáng người gầy gò,ốm yếu, tóc bạc, ông hay mặc áo dài màu đen, quần trắng, lưng hơi còng chắp tay sau lưng, đi vòng vòng nhìn chúng tôi tập viết, thì bà Tiêm là một người đàn bà to cao, bà bới tóc sau gáy, trùm đầu bởi một cái khăn nhung đen ,bà hay mặc quần satin màu đen, áo bà ba, kèm theo chiếc áo len, khuôn mặt của bà thì tôi không quên được, khuôn mặt của bà nhìn rất dữ, da của bà bị nhăn, nám và có thẹo, có lẽ bà bị phòng nước xôi hay bị cháy gì đó, những vết thẹo kéo con mắt của bà lên làm khuôn mặt của bà trong rất dữ. Mỗi khi thấy bà ở trong bếp hay ngồi trên divan nhai trầu thì một con ruồi bay cũng có thể nghe thấy, và khi bà nổi cơn tam bành ,xài xể ông giáo Tiêm đang nằm hút thuốc lào ở trong góc nhà thì chúng tôi lại càng sợ hơn, giọng Huế của bà re ré chì chiết, đang ngồi trên divan bà lấy tay gạt mạnh những đồ đạc ở trên divan như là khay trầu bình nước, ly tách, đồ đạc bay tứ tung rớt xuống bàn học chúng tôi, nhưng không ai dám hó hé điều gì, chỉ cúi mặt nhìn trang sách, sau cơn giận bà bỏ đi ra ngoài, lấy nón lá đi đánh mạt chược. Chúng tôi và chắc cả ông Tiêm đều nhẹ thở, anh phụ tá ra hiệu cho chúng tôi lau dọn bãi chiến trường... Đó là những hình ảnh tôi nhớ về bà Tiêm.

Câu hỏi nhấp nháy : Ai là người thầy giáo đầu tiên của bạn. đã mang tôi về hiện tại, trên đường đời đã có nhiều vị thầy, cô đã chỉ dậy cho tôi, những người hướng dẫn, hay những người đã gặp và tôi học được điều hay tốt, xin cám ơn, xin cám ơn, cám ơn tất cả....

Ai là người thầy giáo đầu tiên của bạn?

Vâng, tôi trịnh trọng trả lời thầy giáo đầu tiên của tôi là: "ông Tiêm".


Sunnyvale, CA June 16, 2011
(*) viết lại theo trí nhớ

Về đầu trang


Tùy Bút Mai Anh Đào

Đỗ Thị Hồng

Buổi chiều đi làm về, bước ra khỏi cửa của building, nhìn những cánh hoa nhỏ màu hồng nhạt nằm răi rác trên mặt đất như một tấm thảm màu hồng, cơn gió nhẹ thổi qua những cánh hoa lay động , như những cánh bướm nhỏ chợp chờn đuổi nhau trong gió trông thật đẹp mắt, tôi bỗng bâng khuâng nhớ về Dalat của những năm nào, cũng những cánh hoa mai anh đào sau Tết rụng nằm ngả nghiêng trên mặt đất chờ cơn gió nhẹ thôi đi.

Căn nhà của chúng tôi ỏ thung lũng gần trường Lycee Yersin, những cây mai anh đào chung quanh và trứơc nhà đã được Ba tôi trồng khi ông đến định cư ở Dalat vào khoảng thập niên 1940 . Là một người yêu hoa và thích trồng cây trái hoa quả, sau khi khai phá làm nhà, những cây mai anh đào được Ba trồng trứơc cũng như chung quanh nhà, tất cả hơn 15 cây. không kể nhừng loại cây hoa quả khác

Ba kể rằng: khu nhà chúng tôi đang ở , xưa kia là một rừng thông, có đồi dốc cách trường Grand Lycee Yersin khoảng nửa dặm, phía sau thung lũng là đồi thông dẫn xuống cầu sắt ra hồ Xuân Hương. Ba cùng những người làm việc cho trường Yersin chọn khu rừng này để làm nhà ở, trong đó có ông Tiêm, ông ta người Huế lớn tuổi nhất, dạy học trò trong ấp, ông biết coi về phong thủy, ông bảo khu đất này tốt , giống như một cái võng, hai đầu võng một đầu là trường Lycee, đầu kia của võng là khu tạo tác , ông Tiêm chọn xây nhà ở vùng giữa đáy của võng, nhà tôi cách nhà ông Tiêm ba căn về hướng khu Tạo tác,

Cây mai anh đào trứơc nhà là cây mai anh đào to nhất, cao xừng xững. Mỗi đó xuân về , những búp hoa nhỏ nhú ra từ những cành khô khẳng khiu nở rộ vào dịp Tết thật đẹp, vì là cây mai to nhất va hầu như từ trong thùng lũng , từ sân vận động của trường Yersin , khu Tạo Tác hay đồi ở Cô Giang đều thấy những cây mai anh đào đỏ hồng nở thật đẹp từ căn nhà của chúng tôi cả, trong xóm ai cũng phải trầm trồ khen ngợi. Khoảng trước Tết vài ngày, chín anh chị em chúng tôi cùng với Ba Mẹ có cuộc hội nghị "vòng" tròn quanh gốc cây hoa anh đào, ngắm nhìn và quyết định xem nhánh hoa nào sẽ là nhánh hoa đẹp nhất để chưng trong ba ngày Tết, và cũng khoảng thời gian gần Tết này, anh chị em chúng tôi ngồi quây quần quanh nồi bánh tét nấu sôi sùng sục gần gốc mai anh đào, vừa canh nồi bánh tét vừa theo nhįp đàn guitar của ông anh, chúng tôi cùng nhau hát bè, hay ngồi yên lặng với không gian yên tĩnh của núi đồi Dalat để nghe anh đàn bån nhạc classic "Romance"....

Tôi còn nhớ năm tôi học lớp 12, Ngọc tên một người bạn, anh chàng đến thăm Tết, bước xuống những bậc tăng cấp dọc theo con dốc xuống nhà với hàng hoa mai anh đào màu đỏ hồng , bên cạnh gốc mai già là khóm hoa trạng nguyên (poinsetta) đỏ rực khoe màu cùng với màu hồng nhạt của giàn hoa tường vi, hàng rào chung quanh nhà ong bướm bay lượn trên những chùm hoa ngũ sắc chen lẫn với màu vàng rực rỡ của hoa Quỳ. Ngọc nói, anh chàng có cảm tưởng như .."Lưu Nguyễn lạc vào thiên thai"... Lúc còn bé, sau ba ngày Tết , tôi cảm thấy vấn vương, tiếc nuối vì Tết qua quá mau, và khi nhìn những cánh hoa mai rơi rụng như những trận mưa hoa cuốn theo cơn gió, lòng thấy buồn buồn, không khỏi bồi hồi xao xuyến... Sau khi hoa đã rụng hết thì những trái non cũng nhú ra rồi dần đã thành những trái mai đậm màu thật đẹp. Tôi còn nhớ mấy chị em ra gốc cây mai nhặt hay hái những trái mai có màu đẹp nhất để đánh móng tay, ngắm nghía xong rồi phải đi rửa tay. Đã 34 năm rồi tôi chưa trở về Dalat, không biết cây mai già của chúng tôi sau cơn bể dâu, có còn đó trơ gian cùng tuế nguyệt, có còn cho ra những cánh hoa đẹp như xưa, hay đã mòn mỏi đợi chờ và cũng đã theo luật của tạo hoá mai một với thời gian..??!!

Vô tình tôi nghe bản nhạc nói về Dalat, tôi không biết tên tác giả tên bài hát hay tên ca sĩ, có những câu làm tôi xúc động, có thể đó cũng là tâm trạng của tôi, nếu một ngày nào đó tôi trở về lại Dalat .

Lời của bài hát:


Dalat ngày tôi về, cánh rừng hoang xõa tóc đêm trên nóc cao nhà thờ.
Ngã ba đường xưa tôi đứng,
Giờ hoa anh đào tàn phai,...
Anh bây giờ quá xa, một nửa vầng trăng khuất,
Anh bây giờ quá xa, khi ngày em trớ lại.
Tan về đầu về đầu?, Những giọt sương ngày ấy,
Tan về đâu về đâu, tà áo buổi ban đầu....

San Jose, April 13, 2004

Về đầu trang

Powered by SmugMug Log In