Văn - Bà CBA Vi-Khuê - VAN-HOC DALAT

Văn  Bà CBA Vi - Khuê

Vi Khuê  - (bấm hình xem thêm)

Đà-Lạt Một Thiên Đàng Đánh Mất

Bà CBA Vi-Khuê

Lúc bấy giờ nơi đây là một miền đất hoang vu vô cùng bí hiểm, chưa hề biết đến dấu chân người. Núi non điệp điệp, thác lũ ào ào; gió, như hồn ma, rú lên từng hồi ghê rợn giữa muôn trùng bát ngát. Cọp ngồi chồm hổm thở phì phò dưới rặng cây, rắn lê la trườn mình trên cỏ dại, voi từng đàn nối đuôi nhau lầm lừ trong lặng im. Hoang dã bao trùm cảnh vật. Một vài bộ lạc thiểu số đã dựng chòi dưới chân núi xa xa, nhưng hình thù quái dị của thổ dân trần trụi đứng lom khom với trên vai một cái gùi, chỉ càng tăng thêm vẻ man rợ đến rợn người.

Lúc bấy giờ là vào thời khoảng 1890-1894 và nơi đây là miền rừng núi dọc dãy Trường Sơn từ phía Bắc Nam Kỳ đến phía Nam Trung Kỳ và Hạ Lào. Dãy Trường Sơn đó, quê ta, nơi đã từng ghi dấu lẫy lừng bao chiến công gian khổ, cũng là nơi lúc bấy giờ, sức quyến rũ đã thu hút lại, đã mời gọi đến một danh nhân từ phương trời xa thẳm, mà sau này mãi mãi muôn đời tên tuổi gắn liền với địa danh thơ mộng hàng đầu của Việt Nam: cao nguyên Lâm Viên. Và tên người: Alexandre Yersin.

Vâng, Alexandre Yersin chính là người đã khám phá ra, đã tạo dựng nên thành phố Đà Lạt, đệ nhất thắng cảnh của Việt Nam Cộng Hòa. Vốn gốc người Pháp, sinh trưởng tại Thụy Sỹ, Yersin tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Pháp. Danh tiếng vang lừng khi mới chưa ngoài 26 tuổi. Bởi tinh thần cầu tiến và tâm hồn ưa phiêu lưu mạo hiểm, tiếng gọi của miền thuộc địa xa xôi đưa đẩy bước chân nhân tài trẻ tuổi đến đó, để rồi không có ngày về. Bác sĩ Yersin sang Đông Dương một ngày đẹp trời năm 1889, làm việc cho hãng tàu Messageries Maritimes. Đi đây về đó theo những chuyến tàu lênh đênh ngoài biển cả, không nơi nào đã cám dỗ tầm mắt yêu thiên nhiên hùng vĩ chàng bằng rặng Trường Sơn, được nhìn thấy từ bờ biển Nha Trang cát trắng. Lập tức những cuộc hành trình thám hiểm được thực hiện không ngại ngần: đường bộ bằng hai chân từ Nha Trang vào Phan Rí, và rồi lại dong thuyền buồm từ Phan Thiết ra tới Qui Nhơn. Đi như vậy, một bóng một thuyền, một người một ngựa, giữa miền đất lạ hoang vu. Chúng ta ngày nay phải giật mình tưởng tượng đến điều kỳ thú lạ lùng đó, và, bởi lòng yêu mến ân nhân của những người mến yêu Đà Lạt, chúng ta muốn thầm hỏi rằng: Phải chăng Yersin là một thi sĩ? Thi sĩ của thiên nhiên và của hoang vu? Mà hoang vu ở đây không phải chỉ có trấn, có đèo, có đồi mùa hạ, có đồi cỏ may, có cồn hoang dã, có bến lau thưa hoang vu, ở đây còn là: rừng sâu, nước độc, thú dữ và... mọi ăn thịt người nữa kia. Cho nên trên con đường phiêu lưu mạo hiểm, nhà bác học trẻ tuổi của chúng ta đã, một lần, vào năm 1893, bị cướp chém đứt nửa ngón tay cái và đâm nhiều nhát vào ngực tại Dran; một lần khác ông suýt bị voi chà, và nhiều lần nữa ông đã đối diện với cặp mắt tóe lửa của cọp rừng già ngồi chơi trên mỏm đá. Ông như không mảy may quan tâm đến muôn vàn đe dọa thử thách, vì còn mải say sưa ghi chép tỉ mỉ địa thế các nơi đã đi qua. Từ con suối mọn đến dòng sông xa, từ nhánh cỏ gầy đến búp hoa dại không tên đều được ông nhìn ngắm kỹ. Ông hòa mình với thổ dân để tìm hiểu về phong tục và khả năng kinh tế từng miền.

Vào năm 1893, bác sĩ Yersin tìm ra Cao Nguyên Lâm Viên, thuộc phía Nam dãy Trường Sơn, khi ông phóng tầm mắt nhìn ra cảnh thiên nhiên hùng vĩ ở độ cao cách mặt biển 1.500 thước. Vào năm 1897-98 tại vùng đất khí hậu hiền hòa nước non xanh ngắt này, đã dựng nên một thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh lý tưởng do đề nghị của bác sĩ Yersin lên toàn quyền Doumer. Đó là thành phố Đà Lạt, khởi thủy chỉ là một diện tích không mấy rộng mang tên một giòng suối nhỏ của bộ lạc người Lát. Bác sĩ Yersin yên nghỉ giấc ngàn thu tại Nha Trang ngày 1 tháng 3 năm 1943, trong khi thành phố thơ mộng do ông khai phá và tạo dựng không ngừng lớn lên, không ngừng phát triển, không ngừng thăng hoa... Nhưng chỉ vào năm 1923 trở đi, thời kỳ phát triển trở mình của Đà Lạt đã thực sự trở nên một thành phố mới bắt đầu. Trước tiên là sự tạo lập Hồ Lớn Đà Lạt sau này là Hồ Xuân Hương, một chiếc hồ nhân tạo rộng chừng 4.5 ha. Rồi thì sau đó các ngôi trường học lịch sử đầu tiên mang tên người khai sinh thành phố: Lycée Yersin. Rồi thì những trục lộ giao thông, những nhà máy điện, nhà máy nước, hàng trăm biệt thự kiến trúc Tây Phương. Nhà thờ lớn Đà Lạt, các ngôi chùa Linh Sơn, Linh Phong, khu chợ Ấp Ánh Sáng. Giai đoạn phát triển về mọi phương diện là vào năm 1944. Nhưng mãi đến sau hiệp định Genève (20/7/54). Với sự ra đi vĩnh viễn của người Pháp khỏi Đông Dương, Đà Lạt mới thực sự chuyển mình để trở nên một thành phố Việt Nam của người Việt Nam.

Trong bao nhiêu năm dài, Đà Lạt đã là một nơi mời gọi, quyến rũ, thu hút người khắp nơi trong nước, cũng như du khách ngoại quốc đến thăm viếng Việt Nam. Trong tâm tưởng mọi người, Đà Lạt là thành phố của thơ của mộng, thành phố của sự Thoải Mái và Nghỉ Ngơi, một trung tâm du lịch và văn hóa. Cho đến tháng 4/75, thời kỳ biến cố lịch sử trọng đại gây nên vật đổi sao dời, những ai đã từng sinh sống lâu năm tại miền đất an bình này mà nay đã ra đi hay còn ở lại, hẳn không bao giờ quên được những tên phố, tên đường, tên trường, tên chợ, tên hồ, tên cầu, tên khách sạn, như một lần ghé lại đã đi qua còn khắc sâu muôn vàn kỷ niệm. Kỷ niệm về kỷ niệm. Kỷ niệm về một thiên đàng - nếu có thể lộng ngôn như vậy - trong cái nghĩa thực tế rằng nơi đây đã từng đem lại cho người dân một đời sống đầy đủ tiện nghi vật chất và bình an tâm hồn, dẫu rằng về phương diện kinh tế, thành phố văn hóa và du lịch này không ở tầm quan trọng đáng kể.

Chỉ cần nhắc lại những tên thôi, những tên khắc vàng trên các bảng hiệu, cũng đủ làm rộn lòng bao kẻ nhớ thương về thành phố quê hương này và cũng đủ cho chúng ta hình dung ra sinh hoạt tấp nập tươi vui đến thế của một thành phố nhỏ, trong hàng trăm thành phố của miền Nam trước ngày 30 tháng 4 đổi đời. Những ai đã đi từ Đà Lạt, hôm nay xin hãy làm du khách trở về thăm viếng thành phố xưa! Trước tiên, tôi xin giới thiệu các khách sạn lịch sử: Đà Lạt Palace trông ra Hồ Xuân Hương, Mimosa đường Phan Đình Phùng, Thủy Tiên số 7 Duy Tân, Duy Tân 83 Duy Tân, Mộng Đẹp khu chợ Mới, Sans souci đường Nguyễn Trường Tộ, Cảm Đô đường Phan Đình Phùng. Và các khách sạn bình dân: Phú Hòa, Vinh Quang, Hòa Bình, Nam Việt, Tinh Tâm, Cao Nguyên, Thanh Ngọc, Thanh Tung, Lữ Quán Sài Gòn, Văn Huê và Lâm Sơn...

Sau các khách sạn, hẳn quý vị cần biết đến các nhà hàng, các tiệm ăn. Thưa đây là các nhà hàng sang trọng nhất: Dalat Palace, Chic Shangai, Mê Kông, Nam Sơn và Thiên Nga, Mỹ Quang, Như Ý, Kim Linh. Bình dân hơn trên những con đường khác. Nhà hàng lịch sự, đặc biệt về món ăn Pháp là Dalat Palace, L'eau vive, đặc biệt về các món ăn Việt, xin mời quý vị đến quán năm Vinh Hòa, số 7 đường Cường Để, có thịt bò 7 món. Nhà hàng bình dân, đặc biệt về các món ăn Việt Hoa là Đông Hải ở khu Hòa Bình với các món bánh bao rất được ưa thích. Tiệm ăn đặc biệt về món Bắc, có Mỹ Hương và Bắc Hương khu Hòa Bình; về các món Huế là các tiệm ở đường Hàm Nghi và Thành Thái. Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa, đáng kể là quán Thanh Phương ở đường Võ Tánh, giá cả rất thích hợp với các thực khách không nặng túi tiền. Ngoài các hàng cơm sang trọng hay bình dân, chúng ta còn vô số món ăn “dân tộc” rất được tán thưởng. Xin được nhắc lại một lần các tiệm bán các món đặc biệt và hấp dẫn ấy, và mong rằng quý vị, các bạn - nhất là các cô hay ươn mình không thích xơi cơm đừng quá... nhớ nhung! Tiệm phở Bằng, đường Hàm Nghi, Tùng, Đắc Tín khu Hòa Bình, Ngọc Lan bến xe Đà Lạt Saigon. Như Ý đường Nhà Chung; Bắc Huỳnh và Phi Thuyền trước ga Đà Lạt, hủ tiếu Nam Vang, đường Minh Mạng. Mì vịt Thạnh Ký đường Phan Đình Phùng, mì quảng: quán cạnh rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, các quán tầng dưới Chợ Mới; và một quán nằm khuất trong hẻm đường Hoàng Diệu, trước trường Văn Học. Bún riêu, bún ốc ở tiệm Thành Công, đường Nhà Chung. Bún bò giò heo: Các tiệm ăn Huế hầu hết đều có món này, nhưng khi nói đến bún bò, người ta thường nghĩ đến quán cây số 4, góc đường Hai Bà Trưng và La Sơn Phu Tử. Món Nai đồng quê - tên gọi thanh nhã là món của thịt cầy - được tìm thấy ở quán Lá Mơ, đường Thành Thái; món thịt dê ở quán Ngọc Dung, Hồ Than Thở, gần bến xe Chi Lăng. Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa: lưu kỷ niệm nhiều nhất phải kể hàng đầu là dãy quán trước đường Đoàn Thị Điểm, đường Trương Vĩnh Ký, với hàng xôi gà, cháo gà “ngon nhất nước” của gia đình ông Hà Đức Bản, xe mì bánh tôm “ngon hết xẩy a” của chú Tàu nhẫn nại cần cù, xe chè 6 món thơm phức của hai cô nữ sinh trường Tân Sanh, quán cháo lòng nóng hổi và ngọt lịm của mẹ con cô Ti đon đả chào mời...

Về phần các cô cậu thuộc lứa tuổi ô mai thích khoác áo lạnh đi tìm gặp các bạn bè để... sưởi ấm lòng nhau, thì quán chè, tiệm kem và quán cà phê là những nơi thích hợp nhất, quán chè Tuổi Ngọc, tiệm kem Việt Hưng, các quán cà phê Tùng, Trúc, Tình, Nhớ, Trăng Cao Nguyên, Yêu, Thủy Tạ, Shanghai và Mê Kông là nơi thuận tiện nhất để họ và cả lớp người lớn tuổi hơn thường ngồi lặng hàng giờ nhìn ra khu phố chính của thành phố ngắm các tà áo bay... hay luận đàm thế sự?

Khách sạn và nhà hàng ăn là những nơi du khách cần phải biết trước tiên, khi đặt chân đến một thành phố. Nhưng hẳn là còn vô số điều quý vị cần được hướng dẫn và giới thiệu thêm nữa, trên bước nhàn du đến cõi... bồng lai này, bởi vì nhu cầu của con người sau khi no cơm ấm áo còn nhiều thứ lắm, mà thành phố của chúng ta thì lại đã từng chứng tỏ có khả năng đáp ứng... mọi nhu cầu của kiếp nhân sinh! Thiết tưởng còn gì thực tế hơn - về phần chúng tôi - là xin gửi đến quý vị nguyên bản kê khai tất cả các địa điểm quý vị cần dùng tới.

Các phòng tắm nước nóng: Ninh Thuận, Việt Trang, Minh Tâm, phòng uốn tóc Mô Đéc, Hoàng Cung, Mỹ Dung, Tường Lan, Isana, Cô Sương, Người Ảnh. Phòng khám bệnh bác sĩ Phan Lạc Giản, BS Hoàng Khiêm, BS Nguyễn Văn Thạnh, BS Nguyễn Đình Thiều, nữ BS Nguyễn Ngọc Diệp, BS Đào Duy Hách, BS Mai Trung Kiên. Tiệm thuốc tây: Đà Lạt, Nguyễn Văn An, Hàm Nghi, Duy Tân, Diên Hương, Nguyễn Duy Quang, Lâm Viên. Phòng chữa răng: nha sĩ Võ Thị Sâm, NS Minh Đa, NS Trần Tú, NS Nguyễn Văn Trình. Văn phòng luật sư: LS Hoàng Huân Long, LS Ngô Tằng Giao, LS Phùng Văn Tuệ, LS Nguyễn Văn Trương. Các rạp chiếu bóng Hòa Bình, Ngọc Lan, Ngọc Hiệp. Vũ trường La Tulipe Rouge, Đào Nguyên.

Hẳn nhiên không phải chỉ thuần bằng những tiện nghi vật chất mà đời sống con người trở nên đáng sống, mà Đà Lạt đã có khả năng mời gọi, quyến rũ những tâm hồn. Khi người ta nói Đà Lạt thơ mộng, Đà Lạt thành phố du lịch, thành phố văn hóa... thì không phải phở Ngọc Lan hay nem Ninh Hòa đáng được nhắc nhở hàng đầu, mà phải là, trước tiên, các cơ sở phục vụ nhu cầu tinh thần và trí tuệ của người dân địa phương: các trung tâm văn hóa.

Nhắc lại rằng Đà Lạt là một Trung Tâm Văn Hóa quan trọng vào bực nhất với sự hiện diện của những trường Đại Học phong phú về phân khoa và mới mẻ về đối tượng nghiên cứu như: Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Trường Chính Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt, Đại Học Quân Sự, trường Võ Bị Quốc Gia, Giáo Hoàng Học Viện... Ngoài ra, còn phải kể: Trường Chỉ Huy và Tham Mưu, Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Trung Tâm Văn Hóa Mỹ... Và, còn gì đáng kể làm nên sinh hoạt tinh thần, trí tuệ của thành phố, ngoài các cơ sở văn hóa lớn lao kia? Hẳn nhiên là các ngôi trường, ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc lại những trường trung học, mỗi trường một màu sắc đồng phục cho học sinh, nói lên đặc điểm riêng như tên trường đã chọn: trường Trần Hưng Đạo, trường Bùi Thị Xuân, trường Quang Trung, Bồ Đề, Trí Đức, Văn Khoa, Việt Anh, Adran, Trung Tâm Giáo Dục Hùng Vương, trường Tân Sanh, Minh Đức, Kỹ Thuật La San, trường Domaine de Marie, trường Thương Mại, trường Phổ Minh, trường Nông Lâm Súc, trường Chi Lăng... Và còn các hiệu sách nữa chứ! Không có sách lấy gì đáp ứng nhu cầu tình cảm và tư tưởng của Đà Lạt hiền hậu, ưa thu mình trong chăn ấm nghe tiếng nói của nội tâm? Cho đến năm 1975, Đà Lạt có những nhà sách nổi tiếng như: Liên Thanh, Thiên Nhiên, Nhân Văn, Hòa Bình, Thiên Hương, Tuyên Đức, Hồng, Khải Minh, Minh Thu, Khai Trí...

Và khi người ta nói Đà Lạt thơ mộng, Đà Lạt thành phố du lịch và gọi về Đà Lạt như một thiên đường đánh mất thì không phải là Viện Đại Học hay Nguyên Tử Lực đáng được tuyên dương hàng đầu, mà phải là các danh lam thắng cảnh. Hồ! Rừng! Thung Lũng! Thác! Hồ là hồ Than Thở, rừng là rừng Ái Ân, thung lũng là thung lũng Tình Yêu! Còn nơi nào trên thế giới hồ, rừng và thung lũng mang tên “người” như thế nữa không? Hồ Xuân Hương lớn nhất, nằm ngay trung tâm thành phố. Hồ Than Thở cách Đà Lạt 5 cây số. thung lũng Tình Yêu, thung lũng chìm sâu xuống trong những sườn đồi thẳng đứng và cao thăm thẳm. Thác Cam Ly, thác Datangla, thác Liên Khương, thác Pongour và thác Prenn, nổi tiếng nhất cách Đà Lạt 10 cây số. Suối Vàng, suối Bạc, suối Tía... Và còn phải kể là thắng cảnh những con đường xinh đẹp mang tên thơ mộng ít nhiều: đường Quang Trung, đường Phạm Phú Quốc, đường Trần Hưng Đạo, đường Lê Thái Tổ quang đãng chạy dài giữa hai hàng thông xanh sừng sững, đường hoa hồng vang bóng một thời, đường vòng Lâm Viên, còn gọi là đường ngoạn cảnh... Và còn phải kể là thắng cảnh những dinh thự và biệt điện khuất mình sau rặng thông xao xác hay nằm hoang vắng giữa cỏ hoa tịch mịch, gợi cho người nhớ chuyện liêu trai: Dinh số 1, Dinh số 2, Dinh số 3! Và Viện Đại Học với giàn hoa giấy màu tím hồng rực rỡ quý phái đón chào nam nữ sinh viên tự cổng vào, từ nơi văn phòng, dẫn tới những con đường rộng sáng, mở ra những giảng đường của mỗi phân khoa, và Giáo Hoàng Học Viện với cảnh rộn ràng, trai thanh gái lịch, đến thưởng ngoạn chụp hình kỷ niệm trên lớp cỏ non tơ, ai dám bảo rằng đây chỉ là những cơ sở văn hóa hay tôn giáo mà không phải là những cảnh đẹp kiều diễm nhất của quê hương? Và Chợ Mới Đà Lạt, khu chợ ba tầng lầu kiến trúc tân kỳ vào bậc nhất Đông Nam Á, vào những ngày tưng bừng nhất trong năm như ngày mãn khóa sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia, Lễ Giáng Sinh và những tuần lễ cận Tết, thì chính là thắng cảnh số 1 đón tiếp hàng ngàn người từ bốn phương trẩy về dự hội.

Ờ mà làm sao có thể nói đến danh lam thắng cảnh mà lại bỏ xót những vườn hoa, phần nhan sắc nhất của nhan sắc, phần thơ mộng nhất của thơ mộng? Hỡi người ra đi từ Đà Lạt! Xin hãy nhắm mắt lại và tưởng tượng đến những vườn hoa: Vườn hoa thành phố trên đường Hồ Xuân Hương, vườn Rosadola đường Phan Đình Phùng của ông bà Nguyễn Hữu Vinh, vườn hồng đường Quang Trung của phu nhân họ Từ, và một vườn hồng nổi tiếng nữa ở đường Trần Hưng Đạo - Nguyễn Gia Trang - Vườn Bích Câu, ngay dưới chân sân Cù, thấp thoáng bóng các chú nài cưỡi ngựa... hồng, lan, cánh bướm, lay-ơn, tú cầu... Nhưng đặc biệt là hoa Đà Lạt chỉ có hai loài, anh đào hồng phấn dịu dàng và mimosa vàng tươi rạng rỡ.

Đâu phải chỉ là sự tình cờ hay do ngẫu hứng mà những tên phố tên đường, những số nhà được nhắc lại như thế. Chỉ là mong làm sinh động lại trong trí nhớ người đi xa nửa vòng trái đất những kỷ niệm của quê hương. “Quê hương đẹp hơn cả” không hẳn vì quê hương đẹp, mà chỉ bởi quê hương đầy ắp tình người, tình anh em, tình đồng bào cùng đau chung nguồn lịch sử... Nhưng mà ở đây chúng ta đang nói về thực tế. Nói về Đà Lạt như một thiên đường trong cái nghĩa thực tế nhất; có cơm ăn áo mặc và những tiện nghi vật chất tinh thần. Vậy thì, ngần ấy tiện nghi vật chất và tinh thần, để phục vụ cho dân số không quá 130.000 người, hẳn nhiên là mức sống của người dân phải dễ chịu, dẫu rằng bên cạnh biệt thự Trang Hai cũng có căn nhà nhỏ của người giữ vườn, và để đánh móng tay cho người đẹp Kim Vui của Kivini, đường Minh Mạng, vẫn phải có cô thợ nhỏ 18 tuổi lương chỉ đủ ăn quà. Những bác tắc xi nằm ngủ gật những khi ế ẩm, chỉ cần một ngày đẹp trời du khách viếng thăm Đà Lạt tấp nập là cũng đủ bù lại những giờ chơi không. Ông Nghiêm Tỉ, nhà trồng trọt ở ấp Nghệ Tĩnh, tuy những năm tháng cuối của cuộc đời có vất vả vì hoa màu thiếu phân bón, với những tài sản tạo lập nghe đâu từ thuở Hoàng Triều Cương Thổ, gồm đất nhà vườn, cũng đã nuôi được đến trưởng thành một đàn con đông đúc, kẻ tốt nghiệp Cao Học Chính Trị Kinh Doanh, nguời Kỹ Sư Hàng Hải...

Đất nước ta trải qua cuộc chiến tranh dài ngót 30 năm tính đến tháng 4/75, là một quốc gia nhỏ và nghèo. Vậy mà trong một thời khoảng đáng kể, một phần dân chúng đã may mắn được hưởng một mức sống đầy đủ tiện nghi như vậy! Ngày nay trên đất nước người lưu lạc, nhìn lại sau lưng chúng ta không khỏi giật mình tiếc cho một thiên đường... đánh mất! Ngày xưa bà hàng xóm của tôi ở đường Nguyễn Du vốn có một hoàn cảnh để “đi mây về gió”, mỗi lần đi xa về lại kể chuyện nước ngoài cho bà con nghe. Ở Đông Kinh, ở Luân Đôn, ở Hoa Thịnh Đốn người ta sống như thế nào... Bà chép miệng: “Dân Việt Nam mình đang sung sướng mà không biết rằng mình sung sướng. Trên khắp thế giới ngày nay, chẳng có nơi nào hội đủ mọi thứ tiện nghi như Saigon. Người ta có thứ này không có thứ kia, còn mình có “đủ hết”. Dường như cảm thấy phản ứng nhẹ của người nghe, bà lại tiếp lời ngay: “Dẫu rằng không có đồng đều, nhưng có người ở biệt thự, có người gác dan, có người cần tài xế lái xe, có người được làm tài xế lái xe, có người đi mỹ viện sửa sắc đẹp, có cô gái quê ra tỉnh học nghề uốn tóc, đồng tiền cứ thế luân lưu tới mỗi người, còn hơn là không có gì hết”.

“Còn hơn là không ai có gì hết!” Còn hơn là bắt đầu lại từ con số không, thì tội nghiệp quá!... Từ sắc đẹp quyến rũ mãnh liệt của cảnh đẹp thiên nhiên miền cao nguyên Lâm Viên, và diễn tiến sự thành lập thành phố của chúng ta, như đã trình bày, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 75, lịch sử, thời gian đi qua chưa đầy một thế kỷ. Ngắn ngủi quá cho một thành phố sinh ra và lớn lên, và trưởng thành. Và phù du làm sao! Khi mọi sự đã xảy ra như chớp nhoáng, mười năm trời trôi qua chưa đem lại thăng bằng cho não cân ta để trả lời câu hỏi: “Vì sao ta đã đành mất thành phố, vì sao ta đã mất quê hương?” Phải chăng vì, trong mục đích tìm kiếm thiên đường khả dĩ có được, chúng ta đã mất đi một thiên đường đã có? Thiên đường trong một nghĩa rất tương đối, rất hạn hẹp, cũng như hạnh phúc vốn chưa được định nghĩa rõ bao giờ. Trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tương đối mà con người có thể mưu cầu được cho mình, phải chăng với người dân Đà Lạt ngày nay, Đà Lạt ngày xưa đã là một thiên đường đánh mất?


Đà Lạt, Tết Mậu Thân

Bà CBA Vi-Khuê


Sáng mồng ba Tết Mậu Thân năm 1968 tại Đà Lạt, chúng tôi kéo nhau vào ngồi ở quán Mékong, nhìn ra thiên hạ. Ngồi đây mà nhìn ra thì thấy hết. Bởi vì, trước mắt, trước mặt, là khu Hòa Bình, khu tập trung những cửa hàng lịch sự nhất của thành phố, bắt đầu là rạp xi-nê Hòa Bình. Khu Hòa Bình nằm giữa, cách một mặt đường bao quanh là hai dãy phố với những tiệm tên tuổi lâu năm như: nhà thuốc tây Hoàng Hy Tuần, tiệm chụp hình Nam Sơn, nhà may âu phục Paris Mode, tiệm tạp hóa Saigonnais, phòng mạch bác sĩ Phan Lạc Giản, tiệm Radio Việt Hoa, Vĩnh Hòa, Vĩnh Chấn, Vĩnh Xương của các chú, và Chic Shanghai, Nam Sơn, v.v...

Khu Hòa Bình, cũng gọi là công trường Hòa Bình, nằm ngay trước chợ, cũng gọi là chợ Hòa Bình tức Chợ Mới, xây cất theo dự án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ được triệu thỉnh bởi Ngô Tổng Thống từ nước ngoài về. Cũng như Viện Đại Học Đà Lạt đã được công nhận là viện đại học lớn và đẹp nhất Đông Nam Á vậy.

Dài dòng như thế để mà giải thích tại sao chúng tôi lại chọn ngồi ở restaurant Mékong: ngồi đây mà nhìn ra thì thấy hết tất cả những ai đi bát phố vào sáng mồng ba Tết đẹp trời, như hôm nay. Tất cả những ai đi chợ mà có “chưng diện” đẹp, mà không phải chỉ để mua cá mua thịt xong rồi về, thì thế nào lại chả lượn một vòng quanh khu Hòa Bình để ngắm cảnh ngắm người, và để... người ngắm ta! Còn du khách thì thôi khỏi nói, du lịch Đà Lạt là trước tiên phải đi chợ Hòa Bình, và tối thiểu cũng rảo một vòng quanh đây... Nghĩa là thiên hạ sẽ từ từ nối đuôi nhau, diễn hành trước mắt chúng tôi qua lớp cửa kính chẳng bị vẩn đục một lớp sương mù nào của ngày đẹp trời hôm nay. Thật ra thì tôi chẳng lạ lùng gì với sinh hoạt của thành phố thu gọn nơi khu Hòa Bình nhìn thấy từ cái quán thanh lịch này mà phải ra ngồi ở đây. Chỉ vì tôi có thằng bạn thân mới cưới vợ, và nó đã chọn dịp nghỉ Tết làm tuần trăng mật của vợ chồng nó, nơi cái khách sạn hạng sang trước kia mang tên là Moderne mà sau này đã phải đổi thành Mộng Đẹp một cách ép uổng. Bạn tôi, tên nó là thằng Kiệt. Nó cũng thuộc loại beau trai, dong dỏng cao, thân hình hơi đẫy, mặt trái xoan, và cặp mắt ướt, hay nheo nheo. Bạn tôi, khi đứng lại thì hai tay buông thõng như thừa thãi không biết để vào đâu, hai bàn tay mũm mĩm, thật mềm mại, và đầu tóc cắt kiểu mới, dài sau gáy, hai bên úp úp lấy khuôn mặt nước da trắng trẻo, trông giống đàn bà. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy vợ nó lại giống nó như tạc, cũng trắng trẻo, mặt trái xoan, cặp mắt ướt đen như nhung, và hai bàn tay mũm mĩm thật mềm mại... Có điều, vợ Kiệt còn trẻ quá, chỉ mới qua hết tuổi hai mươi, trong khi nó thì đã ba mươi, nên nàng đi bên cạnh nó, ai cũng phải nghĩ là cô em gái út. Ba tôi có gặp Kiệt một hai lần trước đây và lần nào cụ cũng nhìn theo dáng đi uốn éo của nó, nhận xét riêng với tôi:

- “Cái thằng Kiệt", trông nó cũng bảnh trai, nhưng nó có tướng đàn bà, con ạ.

“Cái thằng Kiệt” bạn tôi, bạn từ những năm còn chung học lớp nhì lớp nhất xưa kia, chẳng hiểu vì sao lại cưới vợ vào cuối năm Đinh Mùi để rồi vợ chồng đưa nhau lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật vào dịp Tết Mậu Thân, như tôi đã nói, mà sau này thành ra một cái tết lịch sử!

Sáng hôm ấy, ngồi nán lại trong quán sau khi đã dùng điểm tâm bánh bao đỉm sấm trên lầu, chỉ qua khoảng một tiếng đồng hồ trước ly cà phê phin, tôi đã trông thấy đi ngang qua và giới thiệu với vợ chồng Kiệt hơn một nhân vật tên tuổi của thành phố mệnh danh trung tâm văn hóa và du lịch này, và riêng với cô bé vợ nó ít nhất là ba người đẹp nhất của xứ hoa anh đào người ta nói rằng là rất thơ rất mộng.Hai mươi năm qua rồi bây giờ tôi vẫn còn nhớ buổi sáng hôm ấy:

- Đó đó, người vừa mới đi ngang qua đó, trong bộ áo chùng thâm, đó là cha Lê Văn Lý, linh mục Lê Văn Lý, Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt. Kìa, bà cụ đang băng qua đường, tóc cắt ngắn màu bạch kim đó là bà vợ một ông Chánh án, bà chưa già đâu, nhưng tóc sớm bạc đó thôi. Bà dắt tay một cô gái... một người đẹp nhỏ nhắn thanh thanh sau lưng bà, đó là vợ Ngô Tôn Long - Ngô Tôn Long, toa biết, dạy Triết ở Trần Hưng Đạo. Và đây này! “Bà Kiệt” nhìn kia, Đây mới là người đẹp nhất thành phố... Người mặc jupe da, áo dạ màu đỏ gụ, người có cái bớt đen to giống như nốt ruồi bự, đó là một nàng Tôn Nữ, Tôn Nữ Quỳnh Hà, dân trường Tây... 3 - A, Quỳnh Hà! Em biết chị ấy, để em ra kêu chị vô đây chơi. Nhưng chị leo lên xe jeep rồi, xe nổ máy rồi. Chắc bà Hà lên đây ăn Tết đó chớ, em nghe nói chị ấy lấy chồng đại tá và bỏ Đà Lạt về Sài Gòn hay lục tỉnh chi rồi mà. - Này Kiệt! Người mới bước vô đó, hai ba người mới bước vào đó, là mấy tay trẻ dạy học có tiếng ở vùng này, mấy ảnh đang chủ trương nhà sách Nhân Văn ở dốc Duy Tân, nhà sách có uy tín đáng kể ở đây. Tôi đứng lên để bắt tay ba anh Nguyễn Duy Diệm, Nguyễn Minh Diễm và Nguyễn Quang Tuyến, và giới thiệu cho Kiệt. Quyên reo lên: -A, em biết. Em có nghe tiếng ba ông ấy, em có nghe mấy đứa em khoe là đang học luyện thi với mấy ảnh, tại trường chi đó em quên tên mất rồi, trường chi mà hay luyện thi đều đều đây nè, có ông Nghiên ông Ấu dạy ở đó nữa... à, trường Văn Học, ở đầu đường Hoàng Diệu, gần trường Việt Anh của ông Lê Phỉ đó, phải không anh? - Phải, đó là trường Văn Học của ông Chử Bá Anh. Ba anh giáo sư Triết đến ngồi một bàn gần cửa ra vào. Vợ Kiệt sực nhớ ra điều gì , lại bảo: - Còn cái trường Trần Hưng Đạo mà ở đó bà Nguyễn Thị Hoàng viết Vòng Tay Học Trò ở đâu anh, thế nào anh cũng đưa em đến cho biết, à nha. Liền lúc đó một bà còn trẻ đi ngang qua, ghé vào hàng tơ lụa của bà trung tá Tài, ngay trước mặt. Chuỗi hột đen nổi bật trên nền áo màu lục, tuy không trông rõ mặt nhưng dáng dấp đã rõ là một giai nhân, yểu điệu một cách Á Đông chứ không Tây Phương với dáng đi nhảy nhót như cô Quỳnh Hà. -

Ai mà đẹp vậy, anh Khanh?

Bà này, để nghĩ coi... Phải rồi, đó là vợ của ông Phúc, cũng dạy học ở Trần Hưng Đạo hay Bùi Thị Xuân gì đó, em gái của Khiết đấy, anh Kiệt biết mà.

- Ô hay, vui quá, anh hả. Hai ba người đẹp đi qua đây sáng nay đều lấy chồng dạy học cả. Nghe nói bà Ngô Đình Long cũng ở Đà Lạt phải không anh, bà là một người đẹp của xứ Huế em đó.

- Ôi, “mỹ nhân tự cổ như danh tướng!” Danh tướng đâu có sắp hàng ngang qua đây hết một sáng hôm nay, tôi thấy ai thì chỉ cho Quyên biết vậy thôi, để bù lại cái công đi “xem” Đà Lạt. Người đẹp còn nhiều lắm, người không xấu mà tự xưng là xấu cũng có, như tác giả Em Là Gái Trời Bắt Xấu, cũng là dân Đà Lạt này. À...đây này, Kiệt ơi! Đây cũng là một người mọi người biết tên biết tuổi nữa đây. Hai ông bà thấy chưa, cái ông khoác áo măng tô dạ màu xám, có ngậm píp nơi miệng đó, đó là luật sư Dương Trung Tín.

Kiệt nheo mắt nhìn theo người đàn ông đã vừa rẽ qua phía tay phải, dụi ngấm tàn thuốc nơi cái dĩa, cái môi dưới bĩu ra như chế diễu: - Lần này thì chắc chắn là ông lầm rồi, ông Khanh ơi! Luật sư Dương Trung Tín đâu còn trên cõi đời này nữa. Tôi ở Sài Gòn đã nghe tin ổng bị bọn cướp vào nhà bắn gục từ năm ngoái năm kia cơ mà. Nghe nói vì ông Tín có võ, chống cự lại mấy tên cướp nên bị chúng thanh toán. Hồi đó đám tang ổng lớn lắm mà... Còn cái người đẹp nhất Đà Lạt, để tôi nói ông nghe, là một cô nữ sinh Bùi Thị Xuân tên là Liễu kia! Hình như là fiancée của ông Tuyến hồi nãy đó! Tôi ở Sài Gòn mà biết hơn ông, thấy chưa? Nhưng thôi, mình đi, Khanh hè. Uống có ba ly cà phê mà ngồi đây lâu quá, kỳ thấy mồ!

Vợ Kiệt khoác áo lạnh ra ngoài chiếc áo dài đẹp, rồi lại như sực nhớ ra, bảo chồng:

- Anh nì! Bữa qua em đi làm tóc ở tiệm Tường Lan đằng kia, có gặp cô Thân Thị Hồng, em đã hứa tụi mình sẽ tới thăm cô rồi đó nghen. Anh nhớ đưa em đi.

- Trước khi vào chợ lầu trên, Kiệt đòi tôi đưa đến một tiệm chụp hình gần nhất để chụp dăm pô kỷ niệm, với tôi nữa. “Cậu có máy ảnh, vào tiệm làm gì”. “Không, phải có hình tốt để kỷ niệm lâu dài, ông quên là voyage de noces của tụi này à?” Chúng tôi vào tiệm Hồng Châu, nằm phía tay trái chợ.

Lát sau, nơi cái góc quẹo của nền thang xi măng hẹp từ lầu chợ trên dẫn xuống chợ dưới, chúng tôi đụng đầu với một chị mặc áo bà ba tay xách cái lồng gà hối hả đi lên.

- Ủa, thầy Kiệt lên đây hồi nào vầy nè? Từ ngày thôi nấu bếp nhà bà Tú tui hổng có gặp thầy lần nào! Rồi, chị ta ghé tai bạn tôi, nói một cách khẩn trương, thì thầm, nhưng cả ba chúng tôi đều nghe rõ:

- Tụi tui chạy từ Bà Quẹo lên Sài Gòn, từ Sài Gòn lên đây. Tình hình chộn rộn khắp nơi, bộ thầy không biết gì sao? Ở ngay Sài Gòn nè, nhiều khu đã bị Việt Cộng chiếm. Mấy cô bán bar cho Mỹ, có cô là cán bộ nằm vùng. Khi nổ súng, tụi nó rút súng giấu trong mình ra bắn đó... - Đừng tuyên truyền phản động bậy bạ, nghe chị Tám! Chị Tám bỏ đi thẳng lên trên. Tụi tôi đứng khựng lại một lát giữa cầu thang. Không phải là người Đà Lạt không có nghe radio, nhưng người ta cũng làm lơ vậy thôi. Tôi nhớ lại, ngay từ chiều mồng hai, anh Cung tôi, thiếu tá phục vụ tại Tiểu Khu Tuyên Đức đã có nói về lệnh cấm trại do Tiểu Khu ban hành khi hay tin các trận đánh của Việt Cộng đã lan tràn trên toàn quốc. Còn chần chờ gì nữa, tôi quyết định thật lẹ: vợ chồng Kiệt về khách sạn xách va-ly trăng mật về nhà tôi ở tạm, lỡ có bề gì thì cũng biết mà liệu lo thân.

***

Suốt một tối mồng ba Tết, ông anh thiếu tá của tôi bận họp công vụ không về nhà. Chúng tôi bắt đầu lo lắng. Quả nhiên, vào lúc hơn một giờ đêm - tôi xem đồng hồ đúng 1 giờ 45 phút - một tiếng súng đầu tiên của địch nổ như xuyên vào giữa trái tim mát lạnh của thành phố Đà Lạt đang thiêm thiếp. Rồi từng loạt pháo bằng súng cối 60 ly, 82 ly. Chúng tôi vùng dậy khỏi lớp mền bông, quấn luôn cả mền chạy ra ngoài thì thấy bố mẹ tôi đã thức dậy ngồi trước bình trà từ bao giờ. Thế là một đêm thức trắng, nghe từng loạt súng bay qua bay về, nhưng chúng tôi không biết được những gì đang xẩy ra bên ngoài, và tự hỏi không biết đã có nhà ai cháy chưa.

Bảy giờ sáng, anh Cung tôi lái xe về, mặt mày phờ phạc. Anh nói cho chúng tôi hay đêm qua sau những đợt pháo kích, bộ binh địch đã xuất hiện, chưa biết đông ít thế nào. Quân ta chống trả dữ dội. Có một quân nhân đã bị tử thương ngay từ phút đầu là thượng sĩ Tài, chỉ huy trung đội công vụ giữ pháo đài chính. Nhưng quân ta vẫn giữ vững được pháo đài, nhờ có thiết giáp kịp thời phản kích, xua quân địch rút ra ngoài. Dầu vậy, trong đêm mồng ba địch cũng đã chiếm khu công trường Hòa Bình, Biệt Điện 3 (còn gọi là Dinh Số 3), cũng chiếm một đài phát tuyến do một trung đội nghĩa quân bỏ chạy vào trường Chiến Tranh Chính Trị để lại. Nhưng quan trọng hơn cả là họ đã chiếm ấp Đồng Tâm. Anh tôi chỉ kịp ghé về nhà chốc lát kẻo bố mẹ mong, rửa qua mặt mũi, điểm tâm vài lát bánh chưng dưa chua theo lời nài ép của mẹ, rồi lại đi ngay. Anh cho biết cần phải có mặt trong phiên họp các chỉ huy trưởng trong quân trấn để hoạch định kế hoạch đối phó với đối phương. Vợ chồng Kiệt vẫn quấn mình trong lớp chăn ngồi co ro, có lẽ chẳng phải vì cái lạnh của thời tiết mà vì đã quá hoảng hốt, chẳng còn thiết gì đến cái bề ngoài của mình, áo quần đẹp đẽ đúng bộ vó chú rể cô dâu, như mới ngày hôm qua đây. “Bây giờ tính răng đây anh?” “Cũng chẳng biết tính sao”. “Không biết tình hình Sài Gòn thế nào?” “Chiều nay nghe radio”. Tôi thì không biết hôm nay sở có làm việc lại như thường lệ vào ngày mồng bốn Tết không - tôi làm việc tại Nha Địa Dư Quốc Gia đặt trụ sở tại Đà Lạt - hơn nữa, quá nóng lòng muốn biết tình hình bên

ngoài, tôi quyết định lấy Honda chạy quanh một vòng. - Thôi, bố mẹ vào ngủ lại đi, bố mẹ ạ. Thức cả đêm qua rồi, mất sức mệt lắm. Ông bà Kiệt cũng cần nghỉ ngơi để còn về Sài Gòn chứ. Thế nào rồi cũng yên, cũng về lại Sài Gòn, có gì đâu mà lo. Chiến tranh Việt Nam mà, lâu lâu lại có biến cố...

Tôi không nhắm đi tới sở mà chỉ nóng lòng xuống phố. Ngoài đường, vắng tanh. Đi ngang bờ hồ, gió hôm nay lạnh buốt khác thường; đằng xa cũng không còn thấp thoáng màu sắc tươi vui của hàng chục chiếc pê- đa-lô lượn lờ êm ả như thường lệ, và rực rỡ như mấy ngày Tết ngắn ngủi vừa qua. Qua khỏi cầu ông Đạo, tôi thấy hai nữ tu có lẽ từ trong trường Mến Thánh Giá gần đó đi ra, đang đứng nhìn về phía dưới phố.

- Thưa Soeur, giờ này dưới phố ra sao, đi tới đó được không? Hai soeur có nghe tin gì không?

- Thì đang nói chuyện dưới phố đây. Mới nghe người ta mới cho hay.

Sáng nay có mấy ông sĩ quan bị bắn chết tại công trường Hòa Bình. Nghe nói ông thiếu tá Lê Tập của trường Chỉ Huy Tham Mưu rủ mấy người bạn đi ăn phở Bằng trước khi vào trường họp khẩn. Mấy ông không biết là bọn họ đã chiếm chợ. Khi xe ông thiếu tá lái vừa tới trước rạp chiếu bóng Hòa Bình, thì bị Việt Cộng núp sẵn trong rạp từ hồi nào nã súng bắn ra... Ông thiếu tá Tập trúng thương tại chỗ. Ông thiếu tá Thắng ngồi băng trên với ông Tập cũng trúng đạn ngã gục luôn, và một ông đại úy nữa, nghe nói cũng tử thương, đại úy tên gì hử, soeur Phương?

- Đại úy Vũ Xuân Sinh, tôi có quen nên nhớ kỹ tên ông ấy. Thật tội nghiệp quá chừng chừng. Ai mà ngờ nó núp trong rạp xi-nê đó hồi nào không hay!

Tôi đang lưỡng lự không biết có thể chạy thẳng ra tận nơi xem hay không thì một cảnh sát viên đến cho hay chưa có lệnh lưu thông như thường lệ, bà con ai nấy nên ở trong nhà; có việc khẩn ra đường thì chỉ đi bộ, không được chạy xe Honda. Tôi lại quay xe trở về. Trên đường, thỉnh thoảng gặp một người đi bộ lủi thủi. Đà Lạt nín thở, chờ đợi tai ương.

Tôi trở về nhà để thấy “cô bé” vợ Kiệt đang khóc thút thít trước cái va-ly du lịch tuần trăng mật đầy những áo quần giày dép đẹp nhất của cô nàng. Chắc Quyên đang nghĩ: “Phen này mà Việt Cộng nó về thật thì sao đây? Áo quần này, nữ trang này, son phấn này, thôi, giã từ vĩnh viễn chứ còn gì nữa. Áo ba bà đen này, đi chân đất này... chừng đó cũng đủ tàn đời!” Tôi biết có nhiều các bà các cô chỉ sợ VC trước tiên vì có chừng đó.

- Sao, tình hình sao, anh?

- Sáng nay có tới ba ông sĩ quan bị bắn chết ngay trước rạp xi-nê Hòa Bình, Việt Cộng núp trong rạp, bắn ra.

- Trời đất ơi! Vậy rồi bên mình không làm chi họ hết răng?

- Có chứ, chắc chắn. Thì, bất ngờ quá mà, trở tay không kịp. Ai mà ngờ... dân lành đang ăn Tết...

Thì giờ trôi qua chậm chạp trong nỗi lo âu của mọi người, và chúng tôi chỉ có mỗi một việc chờ nghe radio vào buổi chiều, đài V.O.A, đài B.B.C. Xế trưa, cô hàng xóm tên Lương chạy qua nhờ tôi đi đến trường Trí Đức hỏi hộ xem trường có việc gì không và bao giờ thì cô ấy đi học lại. - Nếu anh không đi thì nhà em có điện thoại, anh sang gọi hộ em, bọn này sợ lắm, chẳng dám kêu nhà trường. Ờ, nhà Lương có điện thoại, thế mà tôi quên khuấy. Sao không qua đó gọi đi lung tung hỏi thăm tình hình, chẳng hơn là chạy ngược chạy xuôi từ sáng đến giờ? Tôi gặp cô Lê thị Thơ, bà thư ký lâu năm của trường Trí Đức, ở đầu dây và tôi xưng tôi là phụ huynh học sinh. Xin nói thêm, bà Thơ có mấy cô con gái rất xinh đẹp, cô Quản Thụy Hoài... . Tôi nói “phục quá, hôm nay mà cô cũng có mặt ở trường”. Cô Thơ đáp, giọng ngọt ngào, sang sảng:

- Ừ, cô thì lúc nào cũng có mặt. Em là anh của Lê Thị Lương hở? .. trường đã đắp bao cát chung quanh rồi. Bao nhiêu lớp học dành cho đồng bào tị nạn hết. Trường nào cũng thế, đóng cửa hết. Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân, Lycée, Adran, Bồ Đề, Văn Học, Việt Anh gì cũng thế cả, người tị nạn đến ở đầy ! Bảo mấy cô ấy cứ lo ăn bánh chưng bánh tét cho hết đi, chừng nào yên sẽ đi học lại.

- Có tin tức gì không, thưa cô?

- Có tin tiệm chụp hình Hồng Châu bị cháy rồi. T

ôi ném mạnh ống nói xuống, đọc lại “bản tin” cho Lương, rồi lao về nhà, gọi vợ chồng Kiệt: - Tiệm hình Hồng Châu cháy tiêu rồi. - Trời ơi! Dễ sợ! Rứa hình của mình cũng cháy hết rồi răng? Chiều hôm ấy, chiều mồng bốn Tết, tôi không nhớ là đài nào tường thuật lời ông ngoại trưởng Anh kêu gọi ông ngoại trưởng Nga, đại ý rằng: “Vấn đề chiến tranh tại Việt Nam thật là kinh hoàng, thật là cấp thiết, cần phải giải quyết. Không ai có thể ngồi yên để tiếp tục nhìn những hình ảnh hoặc nghe các tin tức về cuộc giao tranh đẫm máu nhắm đùng vào dịp Tết mấy hôm vừa qua. Tôi khẩn thiết kêu gọi ngài và các phe phái trong cuộc xung đột hãy nhân danh tình nhân loại tiến đến bàn hội nghị càng sớm càng tốt”.

Chúng tôi bảo nhau: Thế thì tình hình các nơi khác như ở Huế, Sài Gòn chắc là trầm trọng hơn ở đây rất nhiều, trầm trọng lắm rồi. Đà Lạt xưa nay vẫn là nơi may mắn ít chịu ảnh hưởng chiến tranh, dầu sao thì cũng đã hưởng được hết ba ngày Tết, chứ các nơi kia không biết giao tranh đã bắt đầu từ hồi nào, và đồng bào có được hưởng một ngày Tết nào không?

Sáng mồng năm, mới tinh sương, anh Cung lại lái xe về, mặt mày hốc hác hơn hôm qua. Đời nhà binh có biến sự thật vất vả. Anh im lìm chẳng nói năng gì, vào phòng đánh một hơi thẳng từ bảy giờ sáng đến xế chiều, trong khi cả nhà mong anh thức dậy để cho biết mọi chi tiết về tình hình chiến sự mà chỉ có anh là có thể biết rõ. Mãi đến năm giờ, Cung mới bước ra, ngồi vào mâm cơm bày sẵn. Cơm Tết hôm nay ở nhà tôi hãy còn đủ nào là thịt kho nhừ, thịt đông, dưa món, cá thu kho, măng hầm vịt. Chúng tôi lắng nghe anh Cung nói:

- Thật ra, không phải bên ta thiếu đề cao cảnh giác. Chỉ có dân chúng là không biết. Mọi người đang vui ba ngày Tết.Thật ra thì từ chiều mồng hai, Tiểu Khu Tuyên Đức đã ra lệnh cấm trại rồi sau khi được thông báo về tình hình trên toàn quốc. Chiều mồng ba Tết thì các đơn vị đồn trú tại Đà Lạt đã được lệnh nơi nào canh phòng cẩn mật nơi đó, và trước ngày xảy ra biến cố, số quân của địch hoạt động trong lãnh vực tỉnh Tuyên Đức cũng chẳng có bao nhiêu, khoảng hai trăm là cùng. Mãi đến gần Tết mới có một tiểu đoàn của chúng được đưa đến quận Đơn Dương. Thế mà bên ta đã không kịp trở tay, vì không học được chữ ngờ! Thế nhưng cũng đã lập tức có một đại đội sinh viên Võ Bị Đà Lạt được điều động đến giải tỏa khu công trường Hòa Bình vào sáng hôm qua, mồng bốn. Sau đó, quân tiếp viện đã đến, có cả xe cơ giới trực thăng vận và chiến xa, nên đã hành quân vào khu Hòa Bình. Đạn từ tứ phía bắn ra. Lúc ấy mới biết tất cả các nhà chung quanh khu phố đều có quân của đối phương đột nhập, nằm rải rác mỗi nhà vài ba tên, bắn ra. Mình đâu có thể bắn đại vào nhà dân, cũng đâu có thể trông thấy được đối phương. Cuối cùng, phải cầu viện đến trực thăng từ trên cao bắn xuống, đồng thời hết sức thận trọng tiến lên thanh toán từng ổ địch một. Cho đến bốn giờ chiều mồng bốn, hôm qua, ta mới làm chủ được chiến trường. Rốt cuộc bên ta chỉ có một chết và hai bị thương gì đó, mà địch thì bỏ xác trong các căn nhà hai bên phố đến vài chục mạng. Chỉ duy nhất có tiệm Hồng Châu bị trúng đạn phát cháy, thiệt hại nặng nề hơn cả, nhưng người thì cũng thoát ra được hết.

- Những nơi bị chiếm đóng là từ bao giờ, và có gây thiệt hại gì nhiều không, thưa anh?

- Thì trước sau có mấy nơi này đã bị chiếm đóng: đồi Du Sinh, Biệt Điện 3, Khu Mả Thánh. Khu Mả Thánh là nghĩa địa ở đây đấy, cô Quyên biết không? Anh Cung tôi xây qua hỏi vợ Kiệt và nói vài câu trấn an. Ồ, Đà Lạt bao giờ cũng được Trời Phật phù hộ, chịu ảnh hưởng cuộc chiến nhẹ nhàng thôi, voyage de noces mà lên trên này thế là hên lắm đấy không phải xui đâu, nay mai về Sài Gòn rồi cô cậu sẽ biết tình hình Sài Gòn nguy ngập hơn Đà Lạt nhiều. À, để tôi nói tiếp, những nơi bị quân địch chiếm đóng: Khu Mả Thánh và Dân Y Viện, Ty Công Chánh và Viện Pasteur. Tội nghiệp. Nghe nói ông trưởng ty Ty Công Chánh rất hiền lành, sợ quá, phải chui qua ống cống để thoát về nhà. Ngoài ra địch cũng kiểm soát khu Trại Hầm, kéo quân chừng vài chục tên vào đóng chùa Tàu, bắn ra.

- Thế còn chỗ Giáo Hoàng Học Viện thì sao? Chỗ đó từ ngoài vào trong xây bằng đá thật kiên cố, lại là nơi tu hành. Nghe nói địch cũng chiếm giữ làm căn cứ?

- Đời nào các cha lại cho địch đột nhập, hở bố? Có chăng là họ chiếm đóng phía ngoài. Dầu sao thì cũng là lợi điểm cho họ, vì trực thăng ta chắc chắn phải tránh bắn phá vào nhà thờ và chùa chiền. Chúng có thể đóng ở ven bờ tường Giáo Hoàng Học Viện thì có!

- Giáo Hoàng Học Viện gần trường Bùi Thị Xuân ấy, phải không anh?

Hôm mồng một anh Khanh đã đưa tụi em tới đó chụp hình. Bao nhiêu phim bỏ rửa tại tiệm Hồng Châu hết. Chẳng biết điềm chi cho tụi em đây? Quyên lại nức nở, rên rỉ.

Vừa lúc đó, từng tràng liên thanh rền lên dữ dội. Anh tôi lắng tai nghe rồi nhận xét:

- Đó là từ phía Biệt Điện 3, khu Ty Công Chánh. Nghe nói sáng nay, lúc tôi lái xe về nhà đó, thì quân ta đã xuất quân làm hai cánh, cánh thứ nhất do thiếu tá Đào Mộng Xuân phó tỉnh trưởng Nội An chỉ huy đi giải tỏa khu vực này.

Những câu anh Cung tôi nói ngày ấy cho đến bây giờ đã hai chục năm qua mà tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai như mới hôm qua. Thiếu tá Đào Mộng Xuân, tôi cũng có quen biết và rất mừng khi hay tin ông cùng vời gia đình đã có mặt tại Hoa Kỳ, sau 75. Ba năm về trước, tôi có dự cuộc thi Hoa Hậu Áo Dài tổ chức tại Maryland và được biết cô Á Hậu 2 hau Á Hậu 3 gì đó là một trong những ái nữ của ông bà Xuân. Tính ra thì khi xảy ra biến cố Tết Mậu Thân ở Đà Lạt, cô bé mới lên một lên hai thôi! Bây giờ thì cô em đả bằng vợ Kiệt ngày ấy, cũng dáng dấp nhỏ nhắn xinh xắn với khuôn mặt bầu bĩnh và cặp mắt mở lớn đen lay láy. Trở lại Tết mậu Thân, tôi nhớ, anh Cung lại nói tiếp:

- Theo tôi biết thì như thế. Nhưng có một chỗ cần giải tỏa gấp là nghĩa địa Mả Thánh, vì Việt Cộng tập trung ở đấy nhiều hơn cả, núp đằng sau mấy cái lăng, mấy cái mộ bắn ra, bắn tới Dân Y Viện nơi bệnh nhân đang nằm điều trị, mới tội chứ. Cho dầu phi cơ có can thiệp, cũng đâu dám nã vào mấy chỗ nhà thương mồ mả này. Lát sau, một thượng sĩ dưới quyền anh tôi bước vào, và bổ túc bản tin chiến sự ấy bằng những tin mới nhất:

- Thưa thiếu tá, hồi năm giờ, hai cánh quân của ta đã tập trung đến giải tỏa khu Dân Y Viện, nhưng tụi nó bắn dữ quá... Phi cơ có tới nên chúng rút đi, nhưng chúng lại trở về chiếm khu Công Chánh lần nữa. Tối rồi, nên ta lại phải rút về thành phố để phòng thủ qua đêm nay. Công chức thì đã có lệnh đi làm một buổi, nhưng người ta chỉ đi lai rai... Tối hôm ấy, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ loan tin lúc 17 giờ 30 đại ý rằng tại Sài Gòn cuộc chiến vẫn tiếp tục, và phi cơ Việt Nam Cộng Hòa đã tấn công những ổ nằm vùng nổi dậy của địch. Và, Bộ Chỉ Huy Quân Lực Hoa Kỳ tại Sài Gòn công bố những con số về sự thiệt hại của đôi bên như sau: Trong cuộc tấn công này, phía Việt Cộng đã tổn thất đến 10.000 tử thương trong khi binh sĩ Hoa Kỳ chỉ chết có vài trăm, và quân lính Việt Nam Cộng Hòa vào khoảng 500 người. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố là qua vụ này, chính cộng sản đã thất bại nặng nề

với mưu toan của họ.

Sau đó đài BBC Luân Đôn vào lúc 19 giờ 30 lại loan tin tình hình Sài Gòn vẫn còn rất nguy ngập, ở phía Bắc thành phố đang có nhiều cuộc giao tranh lớn. Cũng có chạm súng dữ dội ở phía Chợ Lớn. Sự đi lại của dân chúng bị hạn chế đến mức tối đa: mọi người phải đi bộ và không được đi chung quá ba người để tiện cho việc kiểm soát.

Sau mồng sáu Tết, chúng tôi được tin khu Công Chánh và Viện Pasteur đã được giải tỏa, và ngay trong trụ sở Viện, có hai mươi xác địch bỏ lại, bê bết máu. Đến khuya, khoảng một, hai giờ, địch lại tấn công Tiểu Khu Tuyên Đức. Chúng tôi nằm nhà cũng nghe được tiếng súng từ ngả nào vọng lại. Rồi thì phía trường Võ Bị Quốc Gia, bên ta bắn đạn nổ cao yểm trợ suốt cả đêm dài. Nhưng tối qua sáng mồng bảy, lại có tin địch đã rút lui rồi nay lại trở về bám chặt khu Biệt Điện và khu Viện Pasteur là những nơi kiến trúc kiên cố mà nếu bên ta có kêu gọi đến phi cơ oanh kích thì cũng chỉ dám nhắm các đồi cỏ chung quanh, vì còn phải tranh đấu đến mức tối đa thiệt hại cho tài sản quốc gia.

Tình hình cứ thế giằng co qua lại, dai dẳng, không ai có thể đoán được kết cuộc sẽ ra sao. Chúng tôi, người dân Đà Lạt, lại chỉ được nghe radio nói về những biến chuyển tại Sài Gòn hay chung trên toàn quốc, mà riêng về Đà Lạt thì không hề được nghe nhắc nhở. Như vậy có thể yên tâm được rằng dầu sao thị xã của chúng tôi vẫn chỉ là điểm phụ mà địch quân nhắm tới trong chiến dịch tấn công đại quy mô toàn quốc này.

Đến ngày 11 tháng Giêng âm lịch, Đà Lạt coi như được giải tỏa hoàn toàn. Dân chúng trở lại với nếp sinh hoạt cũ, nhưng uể oải và bàng hoàng như vừa trải qua một cơn ác mộng, tỉnh dậy không biết mình tỉnh hay mơ. Lớp sương mù trên mặt nước Hồ Xuân Hương đối diện với biệt thự Trang Hai vắng vẻ trả lại cho người dân hiền hòa ở đây nếp sống bình lặng, chịu đựng, không đợi mong gì, của những ngày trước tết.

Gia đình tôi vui vẻ tiễn đưa cặp vợ chồng mới cưới - vợ chồng thằng Kiệt - ra xe đò Minh Trung để về Sài Gòn ngay sáng hôm sau. “Cái thằng Kiệt” bạn thân của tôi! Cứ hễ mỗi lần tôi với nó hội ngộ là y như rằng có chuyện xui xẻo! Hồi 1963, lần đầu tiên tôi gặp lại nó từ khi chia tay thuở còn chơi bi đánh đáo, thì cũng nhằm vào ngày xảy ra biến cố 1 tháng 11, 1963! Mẹ tôi thương nó gần bằng thương tôi chứ không phải ít. Bà xếp vào cái giỏ mây của Quyên hai chai rượu dâu nguyên chất do bà cất lấy, và hộp mứt mận Trại Hầm mua ở tiệm Bích Nga, khu Hòa Bình. Trước khi ra bến xe, chúng tôi còn ghé phở Ngọc Lan, để “làm” mỗi người một tô chín gầu đặc biệt, với những lát thịt to bản thái thật điệu nghệ, óng lên màu mỡ vàng béo ngậy và thơm ngát.

Khi nhìn Kiệt xách va-ly "õng ẹo" bước từng bước tới chỗ xe đang chờ, ba tôi lại cười bảo tôi:

- Kiệt nó khá đẹp trai đó chứ, nhưng sao cái tướng đi nó giống đàn bà quá, con à.

Tôi vẫn nhớ một đôi lần trong đời đã được biết rằng nhận xét ấy của những nhà rành khoa tử vi. Tôi nhìn lại nét mặt ông cụ, thì thấy có vẻ đăm chiêu làm sao ấy. Tôi nghĩ thầm sao các cụ lại cứ tin những chuyện mơ hồ ấy thế nhỉ?

Tôi không phải đợi lâu. Chỉ chạng vạng tối hôm ấy thôi, tôi còn nhớ rõ là tối 12 tháng Giêng âm lịch năm Mậu Thân 1968, có người cầm tay đến nhà tôi một bức thư, không, chỉ mấy hàng chữ run rẩy của Quyên, người con gái bé bỏng đã vừa mới lấy chồng vào cuối năm cũ, và đi hưởng tuần trăng mật đầu năm mới tại xứ hoa anh đào thanh bình thơ mộng của tôi. Người đưa thư chẳng ai khác hơn là một chú lơ xe đò của một chuyến đi ngược từ Sài Gòn lên Đà Lạt ngày hôm nay:

Anh Khanh,
Chuyến xe tụi em đi trúng mìn gần Định Quán. Mọi người đều không việc gì, nhưng anh Kiệt em đã tử thương. Em đau khổ qúa. Vài hàng tin cả nhà rõ. T

ôi hỏi chú lơ xe đò, dồn dập:

- Tai nạn xảy ra lúc mấy giờ, ra sao, hở chú? Chú có chứng kiến không, ông ấy tử thương rồi người ta làm sao cho ông ấy?

- Tôi không thấy chi hết. Xe tui chạy ngang Định Quán thì có người nhờ cầm giấy này tới địa chỉ anh. Cũng nghe nói có ông kỹ sư bị trúng mìn chết, nhưng tui không có chứng kiến chi hết.

Thế là, đối với tôi, cái Tết Mậu Thân ở Đà Lạt thê thảm hơn bất cứ nơi nào trên toàn quốc. Từ đó tôi mới bắt đầu quan tâm đến khoa tử vi tướng mệnh đôi chút và sau đó, có tìm cách làm quen với một bác sĩ tây học nhưng lại chuyên khảo cứu về bộ môn này, để thụ giáo... cũng đôi chút. Vào Tết năm nay, hai chục năm sau Tết Mậu Thân, tại Hoa Kỳ, tôi đã được gặp lại Quyên sau gần mười ba năm xa cách (vì sau 68, hẳn nhiên là tôi cũng đã gặp lại vợ bạn tôi nhiều lần, trước 75). Bà ấy bây giờ xuân xanh cũng đã tứ tuần, huống nữa là tôi, còn trẻ trung gì! Nhưng tôi vẫn độc thân, cái số tôi nó vậy. nàng bây giờ thì đã có con lớn sắp vào đại học, con bé học võ Bình Định tại Võ Đường Tây Sơn, vùng Hoa Thịnh Đốn. Chồng thì làm nghề bán bảo hiểm nhân thọ, nàng thì mập ra, cao lớn hơn xưa, dung mạo có phần hấp dẫn hơn xưa, tối ngày lái xe phom phom đi làm môi giới cho những đôi bên mua nhà bán nhà, nghe nói phát tài lắm. Tôi có được mời đến chơi nhà, một ngôi nhà bề thế ba tầng lầu, năm phòng ngủ, ba phòng tắm, hai nhà đậu xe.

Tôi ngỏ ý muốn xem tử vi tướng mệnh cho Quyên thì nàng cười lên khanh khách, một điệu cười vẫn còn rất Huế:

- Trời đất ơi! Thời buổi ni mà anh nói chi cái chuyện của các ôn các mệ rứa hè! Mặt mày em thì đã giải phẫu hết trơn hết trọi, từ mắt tới mũi từ môi tới cằm, anh không thấy răng mà đòi coi tướng? Tôi mừng mà thấy nàng vui vẻ, chắc đã quên hẳn cái Tết Mậu Thân. Không như tôi cứ còn nhớ mãi ...

Miền Đông Hoa Kỳ, Mậu Thìn 1988

Powered by SmugMug Log In