Văn - Cô Trần Thị Diệu Tâm - VAN-HOC DALAT
"          "
Bấm vào các link dưới đây

1. Bóng Cha
2. Hột Xoàn
3. Mùa Xuân Và Hoa Đào
4. Nắng Chiều Na Uy
5. Nghiêng Mình Xuống Thời Gian
6. Nhớ Ngày Di Tản
7. Nhớ Trường Xưa

Bóng Cha

Cô Trần Thị Diệu Tâm


Từ lúc bắt đầu biết nói, hình như tôi không biết gọi tiếng " Cha ơi" như các đứa trẻ khác . Tôi chỉ thấy và biết mỗi mình mẹ tôi, vì thế tôi từng cho rằng mình được sinh ra đời do chỉ một người là mẹ.

Lớn lên bất đầu đi học chữ, tôi nghe mẹ nói "Con cũng có một người cha". Điều này làm tôi ngạc nhiên áy náy vô cùng, nó làm thay đổi thói quen suy nghĩ lâu nay. Tôi luôn hỏi "Cha là ai hở mẹ ?" Câu hỏi của một đứa con nít đơn sơ như vậy, nhưng sao mẹ không trả lời được, mẹ nói lấp lững :" Cha đi rồi ".

Tôi thấy càng khó hiểu thêm, cha đi rồi có nghĩa là đi mất là chết. Sau đó mẹ không hề nhắc nhở đến cha nữa. Nhưng bà nội thì hay kể về cha. Bà nói: "Cha mi là người hay chữ".

Tôi vụt hỏi: "Cha ở đâu hở bà ?"
Bà trả lời "Chắc cha mi còn sống "

Câu trả lời của bà cũng như của mẹ làm tôi ấm ức, vì cả hai đều không trả lời rõ ràng về người đàn ông có tên gọi là Cha, hoặc là tôi chưa đủ thông minh để hiểu. Có mấy hôm liền, tối nào nằm ngủ đến nửa khuya, mẹ cứ hay thức dậy đi tiểu. Ngủ với mẹ quen hơi ấm, nên khi cảm thấy lạnh tôi biết mẹ không còn nằm bên nữa, tôi tỉnh ngủ. Căn nhà vẫn tối om, sao mẹ không thắp đèn cho sáng. Tôi nằm im tai lắng nghe tiếng động từ nhà bếp chen lẫn tiếng người nào đó đang nói chuyện . Tiếng chén bát lạch cạch rồi im lặng. Tôi nghe tiếng cửa bếp đóng lại, mẹ trở về giường ngủ, tôi thấy ấm lại. Những lần như thế tôi cố nhắm mắt thật kín tỏ cho biết là mình đang ngủ say không biết gì cả.

Nhưng sáng hôm sau tôi dậy sớm xuống bếp ngay, những mo cơm trắng tối hôm qua mẹ gói đã biến mất, cả nồi khoai lang luộc hết, chỉ chừa hai củ nhỏ dành cho tôi ăn buổi sáng đi học. Vừa sợ vừa tức tối, vì tưởng hôm nay mình được ăn cơm bới mo cau với muối sả thơm nồng cả mũi chiều qua. Lâu nay bà chỉ nấu cơm độn với sắn khô ăn nghẹn cả cổ, chỉ mong được nhai miếng cơm mềm dẻo, không sắn không khoai không bắp lổn nhổn trong miệng. Thế mà tối hôm qua mẹ cả gan đem cho người ta hết các mo cơm trắng, hết cả lon muối sả . Tôi nghẹt thở, nước mắt chực trào ra. Nhưng tôi nào dám mở miệng hỏi ai.

Người đến trong đêm tối là bóng đen bí ẩn, huyền hoặc kỳ bí không thể nào giải thích trong tuổi thơ tôi.
Có lần mẹ cho tôi mấy cuốn vở tập viết có in hình ba cô gái Trung Nam Bắc ở ngoài bìa, lại căn dặn đừng đem đến trường. Vì lời dặn dò đó mà tôi đâm ra tò mò hơn, một hôm tôi đưa cao mấy trang giấy vở ra nắng , thấy liền hình tròn trắng mờ in hai chữ VM. Tôi vừa sợ vừa thích thú vì phát giác điều bí ẩn đó . Tôi biết VM là Việt Minh, là những người bí mật. Tôi thấy mình gần gủi với mẹ trong bí mật đó. Những hôm trời mưa lạnh, mẹ cho tôi ở nhà tập viết. Thay vì tập viết chữ, tôi thích vẽ hơn. Bức hình đầu tiên vẽ, mẹ khen đẹp đó là hình một đứa bé là tôi đang cầm sợi giây diều, người đàn bà đứng cạnh là mẹ, người đứng xa là bà nội. Mẹ, tôi tô màu xanh, bà, tôi tô màu lá chuối khô. Mẹ bỗng dưng nói :" Còn thiếu một người, nếu con vẽ được thì mẹ cho tiền mua bong bóng thổi".

Suy nghĩ mãi tôi mới tưởng tượng ra thêm một người.
Người ấy ở trong ký ức của bà tôi, đó là người hay chữ.
Tôi vẽ một người có tay cầm cán bút to, cái đầu không có tóc.
Mẹ hỏi " con vẽ ai đó ?"

Tôi trả lời " đó là con của bà nội".
Mẹ cười lại hỏi " sao con không vẽ mắt mũi miệng của người đó ?"

Tôi trả lời: " Con chưa hề thấy mặt người đó ".
Mẹ làm thinh có vẻ buồn, nhưng cũng cho vài đồng bạc. Có tiền tôi dành mua bong bóng cao su đủ màu. Ôi những chiếc bóng thổi căng phồng niềm mơ ước tuổi thơ, và đôi khi vỡ toang như tiếng đạn trên mái nhà về đêm . Cuộc sống của ba người đàn bà trong một mái nhà ủ dột không êm đềm như vậy mãi. Biến cố xảy tới.

Một buổi sáng mẹ đi chợ về sớm nói với bà nội " họ bắt bãi chợ" . Mẹ lo cơm nước sớm hơn thường lệ, mẹ đong rất nhiều gạo biểu tôi đem đi vo, thay vì vo gạo ở bếp, tôi đem ra bến sông nước trong vắt ngồi nhởn nhơ, sàng qua sàng lại làm gạo trôi đi khá nhiều. Mẹ nhìn rá gạo chỉ nói, " ngày mai phải ăn cháo thôi" . Bà nội ra vườn khều lượm mấy tàu cau khô đem vào ngâm nước . Mọi người không ai nghĩ rằng tôi chú ý những chuyện vặt vãnh như thế. Tối đó cả nhà đi ngủ sớm cho khỏi thắp đèn tốn dầu.

Chừng khoảng nửa đêm, tôi cảm thấy lạnh đưa tay qua ôm mẹ, nhưng giường trống. Ngồi bật dậy, tôi thấy phía nhà bếp lờ mờ ánh đèn . Lần này tôi phải quyết tìm cho ra ai là người đến lấy cơm nhà tôi một cách dễ dàng như thế. Vén mùng lên tôi mò mẫm, cánh cửa nhà bếp đóng kín, khe cửa lọt ra chút ánh sáng vàng vọt u ám. Tôi áp tai vào cửa bếp đầy bụi bồ hóng.

Tiếng người lạ:" Ngày mai bọn anh phải di chuyển vào trong xa lắm, không chắc có về thăm được không ".
Tiếng mẹ : " Em chỉ nấu được ít cơm chừng này, hôm qua con bé vo gạo làm đổ mất ít nhiều, anh đem theo khoai khô và đường "
Người đàn ông: " Con bé ra sao, anh muốn gặp nó "
- " Thôi, đừng cho nó biết gì về anh thì hơn, miệng nó thèo lẻo lắm, dạo này mật thám khám xét hoài".
-" Em có mua được thuốc ký ninh giùm cho họ không ?"
-" Dạ có, nhưng không nhiều như họ dặn, em mua thêm đá lửa ".
Tôi chú ý tiếng người đàn ông lạ :" Không biết khi nào mới về lại ". Rồi tiếng mẹ tấm tức sụt sùi, tiếng người đàn ông hỏi : "Mệ có biết tối nay anh về đây không ?". - Có, Mệ hỏi khi nào thì hết giặc ".
Im lặng trong đêm, ánh đèn thu nhỏ lại.
-Thôi đừng anh.
- Anh thương em quá, một mình lo liệu nuôi mệ nuôi con, biết bao giờ đền ơn em.
- Nói chi ơn nghĩa, mong anh về sớm.
- Em cởi ra đi, cho anh xin, một lần thôi, mai anh đi xa rồi.
- Em sợ.
-Sợ chi, anh tìm mọi cách xin về nhà tối nay, vì muốn ngủ với em lần cuối".
Có tiếng thở mạnh, có người ngã xuống nền đất.
Sao em thắt lưng quần chặt quá vậy.
-Để em cởi.
Tiếng mẹ khóc thút thít chen lẫn tiếng thì thầm sảng khoái của người đàn ông.
Rồi gà gáy sang canh làm tôi co rúm người lại, mò mẫm chun vô giường ngủ nhắm mắt thật kín, tim đập mạnh.
Sau đó mẹ trở vô mùng nhẹ nhàng nằm xuống, tôi hé mắt nhỉn thấy tóc mẹ xổ tung, chiếc áo cánh chưa kịp gài lại để hở cả khoảng ngực trần.
Có phải hình ảnh này do ánh sáng bên ngoài dọi vào từ ô cửa kính trên mái ngói, hay tôi vẽ vời trong trí tưởng của ngày hôm nay. Điều này tôi không rõ, nhưng mọi tiếng động mọi âm thanh giữa hai người ấy như còn vang dội trong tôi suốt thời mới lớn. Âm vọng của thể xác con người đàn ông và đàn bà, cũng như sự tận tụy của mẹ đối với đòi hỏi của một người đàn ông từ miếng cơm dành dụm cho đến thân xác mình . Mãi mãi âm ỷ như đống tro luôn bốc khói.

Trong những tháng mưa tầm tã, mẹ tôi có vẻ mệt nhọc hơn trước, mẹ chuyển sang nghề chằm nón lá không phải đi sớm về trưa hàng chợ.
Buổi chiều ấy tan học chạy nhanh về, đi thẳng vào bếp tìm xem có chi ăn, bà tôi thường để dành một củ khoai hay một cái bánh bột sắn đường đen.
Tôi nghe tiếng bà hỏi mẹ:
-Vậy con hết thấy tháng từ lúc nào ?
- Gần ba tháng nay.
- Từ ngày nó về lần cuối phải không ?
-Dạ.
- Sao mi dại dột chìu nó vậy ?
- Mẹ tôi trả lời trong nước mắt :
Dạ, anh ấy là chồng mà.
Từ đó mẹ ít khi ra khỏi nhà, sống lầm lũi như một chiếc bóng, mà không phải bóng của mình, nhưng với chiếc bóng của người đi xa đi mất. Mẹ sống với nỗi ngậm ngùi chua xót trong lòng. Vì thế bụng mẹ mỗi ngày mỗi lớn, lớn như chiếc nón mẹ chằm trên tay mỗi ngày.
Bà tôi thay mẹ đi chợ, lưng bà còng nay còng thêm, làn da khô nay sạm khô hơn. Mẹ không còn muốn ngồi gần để nhìn tôi vẽ hay ê a đánh vần. Hình như mẹ không muốn nghe hay hiểu chuyện gì khác. Tuy thế tôi cũng được mẹ chằm cho chiếc nón lá nhỏ mười bốn vành xinh xắn đội đi học .

Một tối trời mưa tầm tã, mà quê tôi có bao giờ tạnh mưa đâu.
Mẹ nhìn tôi hỏi " Con có thương mẹ không ?".
Tôi gật đầu tựa vào mẹ, bụng mẹ căng cứng.
Mẹ nói mẹ đi vắng vài ngày, ở nhà ngoan giúp bà nấu cơm, nhớ đừng ra sau bến rửa mặt nữa, ma rà lúc này nhiều lắm.
Nói xong mẹ dúi cho mấy đồng mua kẹo.
Bà nói: "- Để tao đi với ".
Mẹ lắc đầu :" Xa lắm, Mệ ở nhà với nó".
Bà tôi cho biết mẹ đi sanh em bé, tôi chờ đợi để ôm em vào lòng , để ru em à ơi.

Những ngày chờ đợi ôm em làm lòng tôi nôn nã, tôi thổi một hơi nhiều chiếc bong bóng cho em chơi. Nhưng sau đó mẹ trở về một mình với thân hình gầy ốm mặt mũi .xanh xao . Bà hỏi: "-Nó đâu rồi?". Mẹ trả lời mệt nhọc :"- Con trai, nhưng con đã gửi bà xơ nuôi rồi". Bà sững sờ " -Sao mi ác vậy, đem cháu tao về đây tao nuôi, nhưng mi có nhớ đặt tên cho nó không ?" - Dạ có, tên Phúc, đem về lấy ai chằm nón bán ?.
Bà tôi tức giận đâm ra ngờ vực:
" Có phải đúng là cháu tao không ?"
-" Mệ còn nói vậy, thì người ta chửi con thúi đầu nếu con đem nó về."
Bà nội ngồi ủ rũ trên tấm giường tre, lấy lai quần chùi nước mắt, mẹ trông như cây củi mục. Tôi nhìn mấy chiếc bóng bóng yểu xìu. Ngày hôm sau mẹ đi lãnh lá về chằm nón, tay mẹ run run cầm cây kim đâm qua đâm lại cơ hồ như đâm vào chính thân phận mình. Thời gian sau có người báo cho mẹ biết đến đón con về, em Phúc chết rồi, mẹ tất tả ôm xác em về chôn, cuốn em trong chiếc áo len độc nhất của mẹ . Suốt ngày hôm đó tôi chỉ biết thổi bong bóng xanh đỏ, cái nào cũng vỡ toang, nhờ vậy tôi không khóc thành tiếng như bà .

Sau khi đậu bằng tiểu học, tôi được vào lớp đệ thất trường công, đó là niềm hãnh diện vô cùng của mẹ. Đi đâu mẹ cũng khoe. Dạo này yên ổn hơn, mẹ xoay sang đi buôn hàng chuyến có tiền, mẹ đem tôi đi phi-dê tóc cho đẹp và chụp bóng căn cước . Nhờ cái đầu phi-dê này mà tôi có nhiều bạn hơn, chúng thích đến gần tôi lân la trò chuyện và đưa tay sờ vào đầu tóc. Có đưa ghen tỵ nói tóc gì mà như ổ bìm bịp, hay tóc ổ quạ.
Vào lớp đệ thất, mọi chuyện thật khác lạ và nhiều rắc rối. Thầy giáo phát sổ học bạ mới cho học trò điền tên cha mẹ , và dán bóng vào. Tôi thay ngòi bút lá tre mới, nắn nót viêt tên mình sau hàng chữ Tên Học Trò. Tiếp theo phải điền tên họ người cha, tên họ người mẹ, nghề nghiệp ... Ổ cái mục nghề nghiệp người cha, tôi thật lo lắng băn khoăn. Tôi nào biết cha tôi ở đâu làm gì bây giờ. Đem sổ về nhà hỏi mẹ, mẹ ngẫm nghĩ mãi, nói " Cha con cũng là người có học". Nhưng học bạ đâu có hỏi để trả lời như vậy. Bà nội thì luôn nhớ cha mi hay chữ. Không ai cỏ thể trả lời rõ ràng để tôi điền vào nghề nghiệp của người gọi là cha tôi. Tôi hỏi -" Vậy con ghi nghề nghiệp của mẹ là chi ?" mẹ trả lời rắn rỏi -" Con ghi nghề nghiệp của mẹ là buôn bán, mẹ buôn bán đủ tiền nuôi con, đâu cần nghề nghiệp của cha !"
Tên cha thì có, nhưng ở đâu nghề gì, đành bỏ trống. Khi thầy giáo xem sổ không bằng lòng, thầy nói mấy trò không nên e ngại về nghề của cha mình, có nghề chân lấm tay bùn như làm ruộng cực khổ để cho cơm gạo chúng ta ăn hằng ngày thật là cao quý, các trò có thể ghi là nông dân nói chung. Rồi thầy hỏi "- Sao trò X. không ghi địa chỉ của mình vô? X. đứng dậy trả lời -" Dạ thưa thầy con không có nhà" Thầy ngạc nhiên "-Ủa trò ở đâu?" -" Thưa gia đình con ở đò " -" Vậy thì trò ghi là vạn đò, số ghe thuyền".
Lần đầu tiên tôi mới biết có trò không ở trên đất như mình mà ở trên sông nước, điều này làm tôi thích thú vô cùng, X cũng ở một cảnh ngộ khác biệt, trên sông thì tha hồ bơi lội, muốn đến bãi bờ nào cũng được. Sau này tôi chơi thân với X, một phần vì nó học giỏi . Đến lượt xét sổ của tôi, thầy hỏi " - Sao trò này không ghi nghề nghiệp của cha?" Tôi nói "- Thưa thầy con quên".Thầy la tôi thật vô ý. Tôi nói liều -"Dạ mẹ con nói ghi nghề nghiệp của mẹ con là đủ rồi, không cần phải có cha đi làm" . Cả lớp cười ồ, thầy cũng giận "- Trò này thật cứng đầu cứng cổ!". Nói xong thầy phát sổ bắt tôi điền vào ngay để chuyển qua văn phòng cho kịp làm sổ sách.
Tôi ngồi cắn chiếc cán bút tre đến nát ra, nếu cắn vào tay có lẻ đã chảy xuống dòng máu đỏ. Người đàn ông ấy ở đâu làm nghề gì sao không hiện ra đây trả lời dùm cho đứa con này ? Còn sống hay đã chết? Nhiều câu hỏi xáo trộn trong đầu óc non nớt trẻ thơ tôi. Thực sự tôi không còn muốn bị thầy la rầy, không muốn cả lớp cười ồ chế nhạo nữa, sau hàng chữ "Nghề nghiệp của cha "... tôi nắn nót viết một chữ chết đậm nét và rõ ràng. Tôi thực sự khai tử cha tôi chính thức trên giấy tờ. Chết, không còn ai thắc mắc hỏi han tra khảo nữa. Không có nghề nghiệp để trích dẫn . Ghi chữ chết xong, tôi thấy nhẹ người yên ổn, nhưng sau này tôi lo lắng lỡ ông trở về như cha của thằng bạn nhà hàng xóm, cái tội tự ý khai tử này chắc chắn không được mẹ hay bà nội tha thứ. Tôi lại bênh vực mình, nếu ông là cha tôi, sao ông không trở về lo lắng cho tôi, dạy dỗ nuôi nấng tôi, ông là kẻ vô hình vô bóng thì sống hay chết cũng đều như nhau.

Lâu lắm, không ai nhận được tin cha, một người đàn ông ghé thăm nhà trong đêm tối. Không biết ông còn sống hay đã chết trên rừng thiêng nước độc nào đó. Chẳng một ai thắc mắc nữa. Nhưng riêng bà tôi, cho rằng con mình vẫn còn sống, cứ buổi chiều, bà hay ngồi ở hiên nhà nhìn ra đường cái . Hình ảnh một người mẹ già nua tuổi tác chờ con từ chiến khu trở về ám ảnh tôi khôn nguôi. Tình thương con luôn đem hy vọng tốt lành cho người mẹ . Bà nói " dạo này nghe có nhiều người trở về nhà làm ăn tử tế ". Riêng mẹ tôi nghĩ khác, cho rằng chồng mình không còn sống nữa, nếu còn thì lo về với vợ con chứ, biệt tăm đã hơn mười năm. Đó là lý do để mẹ lấy chồng khác sau này. Bà tôi bị bệnh mất trong một ngày mưa tầm tã, khi mê man trên giường, bà luôn miệng gọi tên cha tôi, tôi quỳ bên cạnh, cuối cùng tôi nghe bà kêu " con ơi !" rồi tắt thở.
Tôi lớn lên trong gia đình bên ngoại có rất nhiều đàn bà, không biết tại sao đàn ông đi đâu mất biệt cả, kẻ đi lính người biệt tăm, kẻ chết trận người chết tù. Tôi không có một khái niệm suy nghĩ nào về một người đàn ông trong thực tế, cho đến khi lấy chồng. Sự hợp hôn công khai hóa sự hợp hoan giữa đàn ông và đàn bà, giữa vợ và chồng. Trong đêm tối năm xưa, sự sảng khoái của cha đem lại lòng mang nặng đẻ đau của mẹ. Rồi cha bỏ đi, quên bẵng những gì mình để lại cho gia đình vợ con. Tôi lờ mờ nhận ra rằng trách nhiệm của người vợ người mẹ thật là nặng nề, không có quyền chi cho mình. Dù có muốn nam nữ bình quyền bình đẳng, thì đàn bà muôn đời vẫn là kẻ "nằm dưới" .

Vào mùa xuân năm đó, trong khói bụi mịt mù tang thương của mọi gia đình, tôi bỗng nhận được bức thư do một người quen đưa tới tận nhà. Thư của cha tôi !
Bức thư viết với nét bút đẹp đều đặn, lời văn lưu loát trình bày dài dòng điều mà ông gọi là " hy sinh tình gia đình cho cách mạng để có ngày giải phóng đất nước hôm nay ". Bức thư viết bởi "một người hay chữ". Lòng dạ tôi câm lặng như đá tảng, làm sao thấu hiểu được những ngôn từ cao cả hay đẹp của ông, trong khi chồng tôi ở tù chưa biết khi nào được tha, trong khi các con tôi bữa đói bữa no, ăn cơm độn với hột bo bo. Ông trở về với tình huống thật là cay đắng khắc nghiệt, tôi không hề mong đợi chút nào. Nhờ họ hàng tôi gặp mặt ông.
Nhưng làm sao tôi có thể xem ông là cha một cách bỗng dưng, một cách ngẫu nhiên như vậy chứ ? Tiếng Cha bao gồm niềm yêu thương gần gũi quý trọng của đứa con, tiếng cha phải được thốt lên tự đáy lòng đứa con. Tình cảm yêu thương quý trọng ấy tôi chưa hề biết, chưa hề cảm nhận, làm sao tôi có thể xem ông là cha của mình . Lòng tôi trĩu nặng, vừa hận vừa ghét vừa tội nghiệp, tình cảm lộn xộn chen lấn, tôi không biết mình phải ứng xử với ông như thế nào cho phải. Tội nghiệp vì thấy ông bị cái lý tưởng gì đó nó lừa gạt. Cuối cùng tôi thương ông vì lòng tội nghiệp đó.
Nhưng ngày xưa bỏ đi để thực hiện điều tốt đẹp theo suy nghĩ của ông, ông có chút gì tội nghiệp cho bà mẹ già, tội nghiệp cho người vợ trẻ, tội nghiệp cho đứa con thơ dại ? Chắc chắn là không !

Paris, tiết Lập Đông

Về đầu trang


Hột Xoàn

Cô Trần Thị Diệu Tâm


Trong đời sống đơn sơ tầm thường giản dị ở chốn bếp núc, người đàn bà như chị biết rất nhiều loại ngũ cốc, nôm na là biết nhiều loại hột. Kể sao cho xiết, nhưng thật tình mà nói, chị chỉ thích có mỗi một thứ, loại hột này không có khả năng nẩy mầm cho cây cho trái, nhưng có khả năng làm sảng khoái tâm hồn chị.

Đó là hột xoàn .

Hột xoàn là thứ hột cho ánh sáng lấp lánh, nhìn phát mỏi mắt, nhìn mà mê tơi. Không có ánh sáng nào đẹp bằng ánh sáng của hột xoàn. Đàn bà ai chả thích, đâu phải một mình chị. Trong lúc ngồi ăn cơm, chị đem chuyện yêu mến hột xoàn ra tâm sự cùng chồng.

Chồng chị gắt: Chồng không mê, lại đi mê hột xoàn! Đừng có dại.

Chị cụt hứng. Chị không dại, cũng không điên. Khi biết mình còn ham mê, nghĩa là mình còn ham sống, ham yêu cuộc đời này lắm. Niềm ham mê ấy một mình chị biết một mình mình hay. Chị dành dụm mỗi tháng một lần, số tiền mặt tiết kiệm rút ra từ ngân quỹ gia đình. Như con kiến dự trữ lương thực trong suốt hai năm liền. Vì nhà không có tủ có khóa, chị đành giấu số tiền đó mỗi nơi một ít, không nên để chung một chỗ. Nhưng với thời gian hai năm sau, trí nhớ chị có đôi chút lãng đãng, nhất là những góc kín đáo. Thấy chị lục lọi tim kiếm, cô con gái sốt ruột hỏi mẹ: " Mẹ tìm gì vậy ? Nói con tìm giúp cho ". Chị không trả lời. Chồng chị cũng thắc mắc: " Em sao cứ thấy dọn dẹp đồ đạc suốt vậy? "

Cho biết làm gì chứ, con không tin, huống chi tin chồng, nhất là chuyện mình cất giấu tiền để tiêu riêng. Chị thấy nó không ổn chút nào, vì thấy không ổn , không đúng, chị càng náo nức thêm. Chờ lúc chồng con kẻ đi làm người đi học, chị lấy cớ xếp dọn tất cả đồ đạc trong nhà, áo quần lâu không mặc cho hội từ thiện. Và chị đã kiếm được những gói tiền cất dấu lâu nay, "thật mừng như tiền ai cho". May mắn trí nhớ của chị còn sáng lắm. Sau khi kiểm kê tài sản, chị xếp lại xấp tiền ngay ngắn, thứ tự mặt trước mặt sau. Đồng tiền ơ-rô cũng hơi lạ, mỗi loại đều có kích cỡ khác nhau, có lẻ người mù cũng có thể đếm tiền được, và màu sắc tươi tắn, tiền thì phải tươi đẹp chứ. Chị đếm đi đếm lại, mĩm cười số tiền dành dụm cũng được vài ngàn (chị không nói rõ chính xác bao nhiêu, nên người viết không biết được). Tính vốn cẩn thận, chị cuộn xấp tiền lại với sợi dây thun gọn gàng cho vào một túi vải nhỏ. Cử chỉ này làm chị nhớ đến mẹ chị ngày xưa ở quê nhà thường hay cuộn tiền để dành cho gọn và dễ cất dấu.

Chị thực hiện điều ao ước bấy lâu nay, chị sẽ mua chiếc nhẫn hột xoàn lấp lánh ấy. Chiếc nhẫn nằm trong tủ kính của cửa hiệu có tên Éternelle, chị vốn không mấy giỏi tiếng bản xứ, nhưng lờ mờ hiểu rằng nó có ý nghĩa là mãi mãi. Ai mà không quý trọng những gì thuộc về mãi mãi bất diệt. Biết bao nhiêu cặp tình nhân, đám cưới đều tặng vợ chiếc nhẫn hột xoàn kim cương lấp lánh, hy vọng chiếc nhẫn sáng ngời ấy giữ gìn hạnh phúc tình yêu của họ đến suôt đời. Nếu người ta bỏ nhau, không phải tại nó mà tại họ muốn bỏ nhau. Chứ nó là thứ thủy chung muôn năm, nó là thứ bất diệt .

Trước đây, mỗi lần lên phố vào trung tâm mua sắm, chị luôn đến trước của hàng Éternelle , ngắm nhìn mấy chiếc nhẫn hột xoàn, ước chi một chiếc sẽ đeo vào ngón tay chị một ngày nào đó. Chị không hề biết hột xoàn loại nào là tốt nhất, đẹp nhất, nước sáng xanh hay sáng tím. Tuy nhiên chiếc nhẫn sẽ kèm theo một hóa đơn giá trị. Từ ao ước, đến chiếm hữu là một tiến trình tự nhiên của con người. Nó phải ở trong bàn tay chị, chị là sở hữu chủ. Nếu mua được, chị sẽ ngắm nó thường xuyên, không cần phải đi qua mấy chuyến mê-trô mới gập nó yêu kiều trong tủ kính.

Chị tự tin đi vào Éternelle với số tiền trong túi, (mấy lần trước chị rất e dè). Cô gái bán hàng có vẻ thờ ơ với chị, có lẻ vì biết người đàn bà này đã nhiều lần đến xem nhưng rồi đi ra, hỏi gì cũng lắc đầu. Nhưng lần này thì khác nhé. Chị chỉ chiêc nhẫn có giá tiền vừa đúng, nó được tôn vinh để riêng chờ đợi chị. Cô bán hàng vội vàng chạy đến gần, nhẹ nhàng mở tủ kính, chị rất hổi hộp.

-Bà muốn chiếc này ?

Chị cười gật đầu. Cô bán hàng ân cần mời chị đến ghế ngồi có đèn rọi sáng. Cô nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay chị và xỏ chiếc nhẫn vào ngón tay giữa, thật là vừa vặn như chiếc nhẫn được tạo ra cho chính tay chị, không ai khác cả.

- Chiếc nhẫn thật thích hợp với bà !

Cô gái cười rất tươi chứng tỏ cho chị thấy đó là sự thật không chối cãi. Chị mãn nguyện khi trả tiền, cảm thấy mình được đối xử rất lịch sự trang trọng , chị trở thành một vị thượng đế trong giây phút ấy!

Thực hiện được điều mơ ước lâu nay, có ai vui hơn chị. Trong khoảng đường từ Eternelle về nhà, đó là khoảng thời gian hạnh phúc đời chị, chị mân mê chiếc nhẫn không rời mắt. Sau khi về nhà, chị vẫn còn đắm đuối với chiếc nhẫn kỳ diệu đó. Nhưng thời gian đẹp đẽ ấy tồn tại không được bao lâu.

Chiếc nhẫn sáng nhấp nhánh ấy bỗng dưng làm nổi bật bàn tay xương xẩu nhiều gân xanh nổi lên vì làm lụng lâu năm, bàn tay của tháng năm mòn mỏi của một người đàn bà chỉ biết bổn phận. Chị co bàn tay lại, cảm thấy rung động toàn thân: Chị không có bàn tay đẹp để mang một chiếc nhẫn hột xoàn. Viên kim cưỡng này không làm tăng thêm giá trị cho chị chút nào. Tuy nhiên để đánh tan mặc cảm, chị đeo nó thường xuyên, Mỗi lần ra phố, chị cố giữ một cảm giác tự tin, nhưng hình như chẳng ai trên đường phố biết rằng chị đang đeo trên ngón tay một chiếc nhẫn có giá trị vài ngàn bạc.

Vậy niềm mơ ước ấy , chiếc nhẫn quý giá ấy có thực không ? Chị nghi hoặc về giá trị của chiếc nhẫn và hoài nghi luôn chính mình ! Chị đã nhầm lẫn, nhầm lẫn gì, chị không giải thích được sự thất vọng ấy, chỉ thấy sao mà buồn. Chị có cảm tưởng bao nhiều kỳ vọng về một ước mơ , nay ước mơ được thực hiện bỗng dưng nó tầm thường thế nào ! Hay chính vì bàn tay chị không xứng đáng chăng ?

Buổi tối, chồng con đều ngủ, chị đem chiếc nhẫn ra ngắm nghía, trong bóng đêm, viên hột xoàn không còn chiếu sáng , nó chỉ nhấp nhánh rực rỡ chói lòa khi nhận được ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào, ánh nắng mặt trời hay ánh đèn điện . Tự thân nó không có gì cả, nó phải nhờ, phải phụ thuộc vào ánh sáng khác để khoe khoang vẻ đẹp . Nó chỉ là một viên sỏi đá. Chị nắm chặt chiếc nhẫn trong tay khi nhận ra giá trị thật của nó, nó không có hào quang. Lúc chiếc nhẫn nằm trong tủ kính, trông nó sang trọng biết bao nhiêu , sao bây giờ lại thấy tầm thường thế !

Không gian nhà bếp là nơi chốn thân thương nhất của chị, hầu như chị sống nơi này nhiều nhất thời gian mỗi ngày, chị cho rằng cất nó nơi đây sẽ dễ dàng nhớ hơn bất cứ nơi khác trong nhà. Chị gói chiếc nhẫn trong túi ny-lông nhỏ, dấu trong một lọ bột làm bánh. Tụi trộm cắp sẽ không thế nào tìm thấy, chúng nó hay rình mò các gia đình Châu Á vì cất giấu tiền mặt và nữ trang trong nhà.

Một thời gian sau, nhân dịp phải đi dự đám cưới con nhà bạn, chị sửa soạn áo quần và chợt nhớ tới món nữ trang quý báu của mình, ít ra chị cũng có một cái gì để mình nhấp nháy với đời. Dạ tiệc đầy ánh sáng, chắc chắn chiếc nhẫn của chị sẽ chiếu rực rỡ hơn ngày thường trong bóng đêm. Chị cảm thấy phấn khởi. Nhưng chị tìm mãi cũng không thấy lọ đựng bột làm bánh nơi đâu, chị dọn hết các tủ bếp suốt một buổi sáng tìm chiếc nhẫn, nhưng vẫn biệt tăm. Chị nghi ngờ về trí nhớ của mình lo sợ một triệu chứng bệnh hoạn đến quá sớm.

Buổi chiều khi cô con gái đi làm về, chị nói : "Mẹ định làm bánh, nhưng tìm mãi không thấy lọ bột nếp đâu cả ".

Cô con gái trả lời " Hôm trước con thấy lon bột làm bánh của mẹ để lâu ngày quá, con gián bò vào con đem vất thùng rác hết. Mẹ cẩn thận, con mua thuốc diệt gián rồi."

Câu trả lời của con làm chị hoảng hốt bàng hoàng, nhưng chị không dám nói sự thật đau xót đó. Chị sẽ bị chồng con trách móc đủ. Chị nghẹn ngào muốn khóc, thấy mình thật vô duyên và không may mắn.

Nhưng suy đi nghĩ lại, cũng lỗi tại mình.

Chiếc nhẫn hột xoàn không thích hợp với số phần chị, chị tìm hiểu nó là kim, mạng chị là mộc. Theo dịch lý ngũ hành, kim khắc mộc, thôi thì của đi thay người. Lý ra chi không nên mơ tưởng nó, không nên mua nó với số tiền dành dụm của gia đình . Nó là gì ? chiếc nhẫn hột xoàn lóng lánh kia ?

Người ta nói mơ ước có khi đem lại niềm vui sống cho tâm hồn, nhưng giờ đây chị không còn dám mơ ước điều gì nữa. Một thử thách kinh nghiệm đau xót vừa mới trải qua, chi sợ hãi thấy mình đã nhầm lẫn tai hại. Thanh thản với hiện tại là điều quý giá nhất với chị từ đây. Chị là người chủ thực sự với căn phòng bếp thân thương này, hằng ngày những mùi vị của hành tỏi, tiêu ớt, nước mắm, đó là nhũng gia vị nồng nàn ấm áp tâm hồn chị . Chính đó mới là sự thực cuộc sống của chị. Tai sao chị đi tìm đâu xa những bóng bẫy lấp lánh huyễn hoặc không thuộc đời sống chị ? Chị tự hỏi và cũng không biết câu trả lời.

Paris, tiết Lập Xuân.

Về đầu trang


Mùa Xuân Và Hoa Đào

Cô Trần Thị Diệu Tâm


Bài viết về trang viên hoa Đào nổi tiếng của bác sĩ Nguyễn Đình Mão ở Chelles, vùng phụ cận Paris, Pháp


Hoa Đào là một loài hoa thiêng liêng của dân tộc Việt. Hoa Đào được ưa chuộng có lẻ từ một thời xa xưa lắm, từ lúc văn minh tộc Việt thành hình. Bởi vì, có văn minh tất phải chuộng cái đẹp, nhất là cái đẹp của thiên nhiên đất trời.

Hoa Đào nẩy sinh từ lòng đất, vươn lên cùng với muôn loài muôn vật khác trên mặt đất, hứng lấy ánh nắng mặt trời để ươm thắm cho nội cỏ mây ngàn. Người ta không biết một bàn tay từ mẫu nào đã vun trồng loài hoa này, chỉ biết Hoa có mặt khắp trên các miền đất có thời tiết lạnh về Đông và ấm về Xuân.

Riêng tại miền Bắc xứ Việt, chúng ta thấy Hoa Đào nở rộ vào dịp lễ Tết Nguyên Đán, sau những tháng mùa Đông giá lạnh.

Hoa Đào ghi đậm màu sắc trong lịch sử dân tộc trong câu chuyện tương truyền rằng : Vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, sau khi Hoàng Đế Quang Trung phá tan 20 vạn quân Thanh không còn manh giáp, Ngài liền sai quân lính đem một cành Đào đẹp nhất Bắc Hà về kinh đô Phú Xuân tặng hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng với tin chiến thắng quân Tàu xâm lăng. Đó chắc hẳn là cành Đào đẹp nhất của lịch sử chúng ta.

Bài thơ « Ông Đồ » của Vũ Đình Liên nhắc đến hoa Đào : Năm nay Đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ.

Như thế Hoa Đào chiếm một vị trí cao trọng trong tâm thức của người Việt, một vị trí mang tính hồn thiêng sông núi qua lịch sử cũng như qua văn học.

Hoa Đào biểu hiện cho những ước vọng tốt đẹp của ngày tết Việt. Chúc nhau mọi điều tốt đẹp hạnh phúc thắm hồng như màu hoa. Khi người Việt lưu vong ra nước ngoài, Hoa Đào còn chất nặng thêm một nỗi nhớ nhung sâu thẳm trong lòng người xa quê. Thấy hoa là thấy Quê Hương. Nhìn hoa là nhớ Nhà.

Từ lúc sống ở xứ Tây này, Tết đến tôi cũng như mọi người Việt khác làm sao kiếm cho được một cành Đào vừa ý để cắm vào chiếc độc bình phòng khách. Ngày Tết không có hoa Đào, thiếu mất hương vị , cũng như Tết không có bánh chưng xanh.

Hoa Đào gắn liền với tình tự Quê Hương, gắn liền với Non Nước Quê Nhà. Có lẻ chính trong ý tưởng này mà bác sĩ Nguyễn Đình Mão, người đã có công sáng tạo ra vườn Hoa Đào độc nhất vô nhị tại Chelles, vùng phụ cận Paris.

Từ năm 2003, tôi đã từng nghe nói đến vườn Đào của B.S Nguyễn Đình Mão, nhưng chưa có dịp đến xem, mãi đến nay, mùa Xuân năm nay tôi mới có cơ duyên hội ngộ. Mọi sự gặp gỡ đều có cơ duyên. Người gặp người, người gặp hoa đều là cơ duyên hạnh ngộ. Con người có linh hồn, Hoa cũng có riêng linh hồn của nó. Ai yêu mến hoa, thì hoa sẽ đền đáp sự yêu thương ấy, bằng cách cho hoa nở. Tôi nhớ cách đây vài năm, anh chị bạn rủ tôi đi thăm « Vườn Đào của B.S Nguyễn Đình Mão », nhưng vì bận bịu với công việc, tôi bỏ lở dịp may. Có thể vì dạo đó tôi chưa ngộ với Hoa. Sau này bỗng tự dưng tôi đâm ra mê cây cảnh. Mỗi tuần không ghé đến vườn cây cảnh, tôi bần thần, mỗi tuần không mang về nhà một chậu hoa nhỏ là tôi không vui. Căn bệnh « yêu Hoa » thường rất dễ bị lây nhiễm, nhưng may mắn thay, nó chứa đựng một thứ hồng cầu có khả năng chữa lành cho những mầm bệnh ác tính khác đang manh nha trong cơ thể lão hóa của người lớn tuổi chúng ta. Có còn gì tốt đẹp hơn khi chính bàn tay mình tạo dựng vun trồng sự sống một cây xanh cho hoa cho trái cho đời . Do đó khi được lời cho về thăm Vườn Đào, tôi thu xếp công việc, hân hoan đến với Hoa. Đường về từ Paris đến Vườn Đào không xa lắm, nhưng nếu có xa mấy đi nữa tôi cũng không ngại ngùng.

Vào một buổi chiều của tiết Lập Xuân, khí hậu còn lạnh, nhưng là cái lạnh ấm áp của hơi xuân. Chúng tôi đến gần đầu ngõ (điạ chỉ 30, rue Dr Spadotto. 77500, Chelles. France) bỗng dưng bầu trời nơi này như hồng tươi hẳn lên, ai nấy đều biết đã đi đúng đường đúng lối. Chủ nhân là bác sĩ Nguyễn Đình Mão và phu nhân ra mở cổng đón tiếp, mời vào trang viên. Trong đám người đến thăm vườn hôm ấy, chỉ có tôi là người đến lần đầu, mấy vị khác đều có dịp đến thăm mỗi khi xuân về.

Trong khu vườn nhà khoảng hơn 300 mét vuông, vườn Đào đã chiếm hơn phân nửa. Trước mắt tôi những cây đào Hoa rực rỡ khoe sắc thắm, hoa nở rộ khắp châu thân cây lên tuốt đến ngọn. Lạc lối thiên thai rồi chăng ? Qủa thật chưa bao giờ tôi thấy tận mắt những cây đào trổ hoa tuyệt vời như vậy. Toàn thể ngôi vườn được bao phủ toàn là hoa, hoa che phủ mặt đất, hoa che phủ cả một vùng trời cao.

Hoa đào hồng, hoa đào trắng, hoa đào đỏ đều tranh nhau khoe nhan sắc diễm lệ chào đón khách phương xa.

Tôi tưởng chừng như mình đang ở một chốn thiên thai nào, hay một cõi trời chưa bao giờ đặt chân đến.

Chủ nhân cho biết, thường thường hoa bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng hai, trong lúc gió đông con vương vấn lạnh trong trời đất, thì hoa đào hé nụ tươi cười với nhân gian. Có thể nói rằng trong lúc mọi loài hoa khác còn e dè đang nép mình, thì hoa đào mạnh dạn vươn mình ra khỏi chốn thâm cung, đón nhận ánh sáng mặt trời đây đó.

Hoa Đào nở đều trong khoảng 4 đến 6 tuần, đầy đặn và toàn vẹn mãn khai. Đặc biệt hoa ở trang viên này đều là loại hoa kép, kép nhiều lớp nên mỗi nụ hoa trông rất đầy đặn và nõn nà. Những cây hoa với nhiều gam màu hồng khác nhau, hồng nhạt đến hồng đậm. Có khi trên một thân cây, hoa nở theo nhiều màu hồng và chen cả màu trắng. Trang viên này có đủ loại hoa đào như Bích đào, Hồng đào, Bạch đào, Đào tam sắc ( 3 màu đỏ hồng trắng) và Liễu đào (cành rủ xuống như liễu) Thật là cả một tiến trình nghiên cứu và kỹ thuật thực hiện công phu và nghệ thuật. Từ mấy năm trước, vào năm 2003, một tạp chí nổi tiếng nghiên cứu về cách trồng cây cảnh của Pháp, L’ami des Jardins đã từng phỏng vấn chủ nhân Nguyễn Đình Mão về phương pháp tạo giống hoa đào đặc biệt này. Vì ở Pháp thường chỉ có loại đào trái (pêche) sản xuất trái bán ra trên thị trường, hoa loại này có màu nhạt và đơn cánh như thường thấy bán ở các siêu thị Á Đông vào những ngày cận Tết Nguyên Đán. Ở Việt Nam, như Đà Lạt, cũng chỉ thấy loại đào đơn cánh, trừ loại bích đào màu đỏ đậm thì cho hoa kép.

Hoa đào của gia chủ Nguyễn Đình Mão thì thuộc loại đào hoa đúng nghĩa chính thống, cây lớn lên chỉ chuyên cho hoa, chứ ít cho trái. Đó là một điều đặc biệt. Vì thế người Pháp rất ngạc nhiên mừng rỡ khi thấy có một người Việt Nam biết cách sáng tạo ra những giống đào hoa chưa từng thấy trên xứ sở yêu hoa này.

Theo bác sĩ Nguyễn Đình Mão cho biết, vào những năm đầu mới định cư tại đây, nỗi nhớ quê là niềm thôi thúc mãnh liệt nhất của ông, chính lý do này, ông đã nuôi mộng tưởng trồng một vườn đào hoa, hầu tái tạo hình ảnh sống động của quê hương mình ngay trên đất nước xa lạ này. Ông đã nhờ nhiều thân hữu có dịp đi Nhật Bản, hay du ngoạn Trung Quốc, Úc Châu, hay về Chapa Việt Nam, xin đem về cho ông một vài mẫu cành đào nơi xứ ấy để ghép với loại đào trái của xứ Pháp. Các mẫu ghép này phải được gửi qua đường bưu điện cho nhanh chóng, vì nếu các mẫu để lâu sẽ không có cơ may ghép thành công. Đó chỉ là công đọan đầu tiên. Phương pháp ghép hoa, nghe tuy đơn giản, nhưng phải là tay lành, tay khéo mới ghép đúng chuẩn để cành đâm nụ cho hoa như ý muốn. Ngoài ra còn phải lựa chọn đúng thời tiết thích hợp để hoa nẩy mầm vào mùa xuân sau.

Gia chủ cũng cho biết thêm,cành đào được ghép vào khoảng tháng 7 trời nắng tốt, sẽ chóng trưởng thành cây lớn từ 1mét đến 1,50 mét. Trồng trong 2 năm, cây sẽ cho hoa ngay.

Mỗi năm, vào khoảng 25 tháng Hai (dương lịch) cây bắt đầu cho hoa, nở nhanh, viên mãn liên tục cho đến gần một tháng sau. Nếu trời đất không nổi cơn gió bụi.

Khi được hỏi về phương cách nào để chữa trị loại sâu thường phá hoại lá đào gọi là « cloque ». Một thứ sâu khó tiêu diệt, bác sĩ Mão trả lời : « Cây đào ở Việt nam không hề có loại sâu này, nhưng thứ sâu này lại xuất hiện ở đây trên cây đào là rất hung hãn, phải chờ cho khi lá rụng xuống hết, thì mới cho một loại thuốc đặc biệt phun trên thân cây. Đến khi cây bắt đầu cho nụ, phải phun xịt thêm một lần nữa thuốc, nhờ vậy cây có thể được giữ gìn cho hoa trong suốt 10 năm liên tục ». Sự thành công sáng tạo một vườn hoa Đào rực rỡ trong một thị trấn nhỏ Chelles, yên tĩnh, đã làm cho ông thị trưởng nơi này cũng như dân cư lấy làm hãnh diện. Qủa thật, vườn Đào của bác sĩ Nguyễn Đình Mão vang danh khắp Paris. Ông còn có tham vọng đem giống hoa này trồng hai bên lề đường trong thành phố để mỗi khi xuân về hoa sẽ nở đỏ hồng khắp lối đi. Nhưng điều này cũng khó thực hiện vì thiếu người biết chăm sóc.

Bác sĩ tâm sự rằng ngày trước ở Sàigòn, ông đã từng nghiên cứu về giống hoa Điệp có sắc màu vàng tươi, dự tính sẽ cho trồng hai bên ven đường trên các con lộ chính ở thành phố, cây sẽ cho nhiều bóng mát và hoa vàng thắm. Dạo đó ông đã gây giống rất nhiều cây Điệp để đưa ra chương trình thực hiện. Nhưng… Việt Cộng đã vào tiến chiếm thủ đô, kế hoạch đành dở dang, ai nấy đều lo thoát lấy thân cứu mạng sống của mình và gia đình. Nghe nói bây giờ có mấy con đường trồng loại cây điệp này, hoa nở vàng thắm cho bóng mát như

Trong thời gian ngồi nghe bác sĩ Nguyễn Đình Mão chuyện trò và tâm sự, ai nấy cũng đều thấy cả một tấm lòng, cả một khối tình đất nước quê hương ăm ắp trong giọng nói, trong trí óc của một người tóc đã trắng như mây. Tất cả tình tự ấy ông đã thực hiện trên vườn đào nổi tiếng này.

Ngôi vườn lại trang điểm thêm những tiểu cảnh xinh xắn, những bức tượng Phật ngồi thiền, trên hòn non bộ, xung quanh bao bọc những lá những hoa, chú tiểu ngồi trên lưng trâu… tạo cho khách thưởng lãm những cảm xúc lâng lâng, phiêu linh ở một chốn xa xăm thoát khỏi trần ai tục lụy. Bác sĩ Mão ước vọng sao gặp được một người yêu hoa Đào trẻ tuổi để có thể truyền thụ lại phương pháp ghép và gây dựng loại hoa này, vì ông giờ đây cảm thấy thời gian không còn bao lăm sống cùng với Hoa.

Nhưng ai người trẻ tuổi có đủ can đảm hy sinh thời gian, cống hiến cho đời thực hiện một ước vọng như thế ?

Tuổi trẻ ở hải ngoại, tuổi trẻ của thế hệ thứ hai có còn nhớ chăng mùa Xuân nở trên cánh hoa Đào, còn nhớ chăng ngày Tết, trong căn nhà ấm cúng có ông bà cha mẹ, con cháu mặc áo quần mới khoanh tay chúc các vị mạnh khỏe, sau đó đuợc tiền lì xì mừng tuổi.

Hay là họ đã quên, quên hết những qúa khứ truyền thống cao qúy đó. Và họ quên luôn Hoa Đào đem tin Xuân về. Phải chăng vì cuộc sống hiện tại nơi này ?

Hoa Đào được thiên nhiên trao phó cho nhiệm vụ, một sứ mạng đem mùa Xuân tới cho loài người, nhất là cho dân tộc Việt Nam. Và người bảo tồn sứ mạng ấy, chính là bảo tồn giá trị thiêng liêng truyền thống của người Việt, cũng như bảo tồn giá trị của mùa Xuân vĩnh cửu trong lòng người. Đứng giữa một vườn Đào rực rỡ xinh đẹp, mà chủ nhân là một người tuổi hạc đã cao, có điều gì đó làm tôi bồi hồi trong dạ. Giữa buổi hoàng hôn đời người, ông đã tái tạo một mùa Xuân đầy hương sắc. Hương sắc quê nhà trong tưởng nhớ, trong ký ức tuổi thơ đã mất.

Giữa mùa Xuân của Hoa và mùa Đông lạnh , như có điều gì tương phản chăng ? Tôi không nghĩ thế, Đông tàn Xuân khai.

Sau khi thăm vườn Đào, trên đường trở về nhà, lòng dạ đầy xúc cảm. Tôi chợt nhớ đến những câu thơ nổi danh của các bậc thi nhân khi nói về mùa Xuân, về hoa Đào, đều đượm một điều gì rất bâng khuâng. Vũ Đình Liên của xứ Việt qua bài thơ Ông Đồ. Thôi Hộ nhìn hoa Đào mà chợt nhớ đến người xưa,: Nhân diện bất tri hà xứ khứ / Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Đỗ Phủ thấy cảnh Xuân mà lòng chạnh nghĩ đến quê hương đất nước đang gian nan lận đận: Quốc phá, sơn hà tại /Thành xuân cỏ mọc thâm. (Xuân vọng)

Dạ buồn, nhưng lòng vẫn mang một niềm tin, hy vọng non sông gấm vóc quê hương mình mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc Việt trong luồng nắng mới của Tự Do.

Paris, tiết Lập Xuân

Về đầu trang


Nắng Chiều Na Uy

Cô Trần Thị Diệu Tâm




bút ký

Khi biết tin vợ chồng anh Điều và chị Trung ở San Diego sẽ qua Paris chơi, sau đó đi Na Uy vài hôm ghé thăm thân hữu ở đây, tôi chợt nghĩ " tại sao mình không qua Na Uy, đi theo anh chị ấy coi bộ cũng tiện lợi đôi bề." Tôi hỏi ý kiến Nhà Tôi, anh ấy "Ừ, thì đi".

Hỏi thăm anh Điều qua Net, anh gửi cho biết ngày giờ chuyến bay của hãng Norwegian, thấy còn nhiều chỗ, tôi "búc" (book) ngay. Búc xong mới thăm dò tình hình Na Uy, ở đấy có vợ chồng anh chị Thanh Tâm và Khánh Hà quen biết qua Net. Anh Thanh Tâm là nhà văn Tâm Thanh từng viết nhiều truyện ngắn trong báo Văn Học, từng nghe chị nhà văn Bùi Bích Hà ca ngợi. Anh cũng là một dũng sĩ trong trận chiến Bảo Vệ Cờ Vàng cách đây hai năm. Bài viết của anh với lý luận sắc bén làm độc giả tôi hứng thú . Chắc là học Triết ở Viện Đại Học Đà Lạt. Thế thì vui rồi. Gặp người trong giới viết văn cũng như gặp bạn đồng hương, đồng nghiệp, đồng cảnh, đồng tình ... Chữ nghĩa giúp người ta dễ nhìn nhau thân tình hơn. Chữ nghĩa soi rõ lòng dạ nhau, chẳng cần phải dùng lời khách sáo nọ kia. Xa cũng gần, nếu không, gần cũng thành xa.

Lại phải nghờ ông Google tìm thủ đô Oslo ở đâu trên vùng Bắc Âu, tìm khách sạn, tìm bản đồ. Thời đại này, muốn tìm gì cũng có, ông Google thông minh nhanh nhẹn đáo để, có thể gọi ông là đấng siêu nhân độ thế, giúp cho người biết bao chuyện đời chưa hiểu chưa thấu. Ông giúp tôi giải tỏa biết bao thắc mắc, cái gì không hiểu ông cho biết ngay, không hề than vãn mệt mỏi. Do đó tôi hỏi xem có khách sạn nào tốt giá tiền vừa phải, ở địa điểm gần ga tàu, ông chỉ ngay " Comfort Hotel Borsparken". Vào xem giá tiền gặp lúc hạ giá "flash" tôi búc ngay. Ngài Google thật là siêu !

Đáng lý ra vợ chồng anh Thanh Tâm đến phi trường đón chúng tôi, nhưng vì anh có " Rendez-vous" quan trọng với bác sĩ nên không đón được. Do đó nhờ anh P.T.A N. Đáng lý ra, chúng tôi gồm hai cặp vợ chồng bốn người đến Na Uy, nhưng giờ chót hiền thê của anh Điều cũng bận công việc bất ngờ, không đi được. Chúng tôi chỉ còn lại ba.

Máy bay hạ cánh xuống thủ đô Oslo sau hơn hai giờ bay, khỏe re . Chẳng bù qua Cali, xem đồng hồ hoài, kim chạy chậm như rùa. Người ra đón chúng tôi trông còn trẻ, nhanh nhẹn và có vẻ tháo vát . Mặc dù đang đêm hôm, nhưng sân bay ở đây vẫn nhộn nhịp người qua lại. Chúng tôi rất cảm động thấy lòng nhiệt tình của anh PTAN. Đứng trong phòng khách sạn, nhìn ra phía trước là vịnh Oslo, đầy những du thuyền đang chờ ra khơi. Tôi chợt nhớ đến câu quãng cáo của một hãng du lịch " hãy đưa em đến tận chân trời góc biển " . Câu này đập mạnh thích thú vào trí tưởng của tôi những ngày đi làm việc Paris, làm cho những hành lang metro dài hun hút ngắn lại. Đến bây giờ, câu chữ ấm áp đó hiện ra mỗi khi nhìn thấy du thuyền, tưởng chừng thấy những chân trời bờ bến xa xôi. Bây giờ, tuy không đi đâu nhiều như mơ ước, nhưng bù lại tôi được quen biết với những các tác giả viết truyện. Phải chăng con người họ cũng là những miền đất, những bãi bờ, những nơi chốn khác biệt sinh ra biết bao nhiêu hoa thơm cỏ lạ bên trong tác phẩm của họ. Trên vịnh, những ngọn đèn thắp sáng nhấp nháy với sao đêm.

Na-Uy là một xứ sở giàu có nhờ tài nguyên thiên nhiên là khí đốt, dầu hỏa, đất rộng người thưa, dân chúng làm việc được hưởng mức lương khá cao. Na Uy là một trong những nước thịnh vượng nhất của Đại Lục Xưa . Như phần đông các nước Âu Châu, xứ này vẫn còn vua hoàng hậu và công chúa, hoàng tử, nhưng có một chế độ chính trị Xã Hội Dân Chủ khá tân tiến và cởi mở. Oslo còn là nơi phát giải thưởng Nobel Hòa Bình thường niên cho thế giới . Hèn chi thấy dân cư sống coi bộ tà tà, ung dung nhàn hạ, có lẻ nơi này ít ai hiểu chữ "stress". Nhà Tôi và ông bạn suốt ngày kề cà bên nhau kể chuyện xưa, chuyện quá khứ trên trời dưới đất, nhân vật này nhân vật kia. Tuổi già không còn tương lai để lo nghĩ, nên họ luôn trở về với qúa khứ.

Vì có quý danh là Phạm Tín An Ninh làm hướng dẫn viên nên chúng tôi không còn lo sợ gì nữa. Anh đưa chúng tôi đến các địa điểm nổi danh, trong đó có công viên Vigeland, rất nhiều đoàn du khách thế giới ghé thăm, nơi đây chưng bày hàng chục pho tượng khổng lồ bằng đồng đen và đá gra-nít, được điêu khắc mô tả theo các động thái sinh hoạt của thân thể đàn ông đàn bà và trẻ em. Các bức tượng trình bày những giai đoạn của đời người, từ lúc sơ sinh cho đến khi lớn lên và cuối cùng già yếu trước cái chết. Một người cha, một người mẹ đang vòng tay che chở các con mình, hai người nam và nữ đang âu yếm nhau, cho đến lúc hai vợ chồng già nua ngồi bên nhau kể chuyện đời xưa... Tất cả đều khỏa thân, trông thật hùng vĩ, nhân loại trở nên cao cả đẹp đẽ vô cùng . Trong ý hướng ghi lại sự tiến hóa đời sống con người, công trình này được xây dựng do nhà điêu khắc Gustave Vigeland (1869-1943).

Bức tượng đá người đàn ông dang tay ôm lấy các con cháu mình Sau đó anh Ninh đưa chúng tôi về nhà anh chị Thanh Tâm để ăn cơm chiều tại đây. Anh vừa lái xe vừa kể cho chúng tôi nghe chuyện đời lính, chuyện đời tù rất linh hoạt. Là quân nhân ở chốn sa trường trận mạc, đối diện với cái chết thường trực, anh có cốt cách hào hùng chen lẫn nét văn nhân. Anh chị Thanh Tâm và Khánh Hà đón tiếp chúng tôi với bữa cơm chân tình, thịnh soạn vói món cá Hồi đặc sản của Na Uy, cá Hồi nướng cuộn bánh tráng với các thứ rau sống mới ngon làm sao. Đặc biệt hơn, Na Uy có một loại tôm rất ngon, tuy bé nhưng cho thịt ngon ngọt và dai. Paris tuy có nhiều tôm cá từ khắp nơi đưa về nhưng không có loại tôm này . Tôi muốn hàn huyên với anh chị Thanh Tâm nhiều, nhưng nghĩ mình phận đàn bà, nên ngồi nghe qúy ông phát biểu lời châu ngọc. Chị Khánh Hà có cùng sở thích, chăm hoa phong lan. Lan Cattleya là loại lan khó cho hoa lần thứ hai trong nhà, nhưng nhà chị đã có hai chậu màu tím và trắng nở lần thứ hai rất đẹp. Hoa là một phần sự sống quan trọng như ăn uống hơi thở của những ai đam mê cây cảnh. Thế giới Hoa là thế giới của những tâm hồn trầm tĩnh lắng đọng . Hoa nở luôn đem tới niềm hoan hỷ cho người trồng, vì cuộc đời này mấy khi được hỷ hoan .

Nhà văn Tâm Thanh là người nói ít, kiệm lời, nhưng tôi biết anh chu đáo trong từng suy nghĩ. Anh cho tôi xem bức hình chụp cùng bạn đồng môn ở Viện Đại Học Đà Lạt xưa kia, có ông cậu Bùi Xuân Bào ( dạy văn chương Pháp) đứng bên, làm tôi bồi hồi . Thấy hình chị Khánh Hà xưa cùng ra trường Quốc Gia Hành Chánh với anh, thật là duyên hạnh ngộ. Ôi những tấm hình bất tử. Chị cho biết " dạo này anh Tâm rất yếu, có các anh chị ghé chơi, anh rất vui , anh có thêm sinh lực ".

Để cất giữ lâu dài kỷ niệm buổi gặp mặt hôm nay, gia chủ đề nghị chụp chung một tấm hình bên ngoài vườn lúc trời chiều còn nắng . Chúng tôi bốn ông và ba bà, chị Khánh Hà, chị Thức hiền thê của anh Ninh và Diệu Tâm tôi, được ống kính rất "pro" nghệ thuật của gia chủ ghi lại khoảnh khắc "hình ảnh một buổi chiều". Tấm ảnh cho thấy mọi người đang ở trong một khu rừng xanh mát, có nắng chiều lung linh từng đốm sáng . Ánh nắng chiều như đọng trên tóc trên vai áo mỗi người. Tấm ảnh làm tôi chợt nhớ bản nhạc Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn với cung bậc dạt dào đầy xúc cảm . Tấm hình sau này sẽ gợi cho chúng tôi nhiều vấn vương kỷ niệm. Tấm hình chất đầy " nắng vương thềm" của một buổi chiều quạnh hiu và thơ mộng, nơi cư ngụ của đôi văn nhân và thi nhân Tâm Thanh và Khánh Hà.

Tôi cho rằng nắng buổi chiều là thời gian đẹp nhất của kỷ niệm, thời gian của một ngày sắp tàn, ấp ủ và luyến tiếc... Nắng buổi chiều thường đậm đà hơn buổi sáng, và luôn gợi lên niềm nhớ thương trong lòng người . Qua hôm sau, hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến thăm Nhà Việt Nam, một cơ sở của cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Oslo. Nơi đây chúng tôi được gặp nhiều vị

xưa là những nhân vật của VNCH, lại một phen nghe nghe kể chuyện chúng mình. Nghe nói ban ẩm thực có nấu phở, Nhà Tôi như buồn ngủ mà gặp chiếu manh, ăn một lèo cạn hết bát phở khen ngon thật ! Oslo ít người Việt hơn Paris thế mà cũng xây dựng gìn giữ được một ngôi nhà làm nơi hội họp cho cộng đồng VN xa quê . Thật là đáng khâm phục ! Paris chia năm xẻ bảy các nhóm hội đoàn, ít ai ngồi lại với nhau, mỗi người là một cõi trời riêng ta.

Tôi chợt nhớ tới ông bà Nguyễn Hữu Nhật và Nguyễn Thị Vinh cũng ở Na -Uy, hỏi một vị ở Nhà Việt Nam, xin cho hỏi thăm. Qua điện thoại tôi được biết bà Nguyễn Thị Vinh già yếu đang ở nhà hưu dưỡng, còn ông Nguyễn Hữu Nhật bệnh hoạn sức khỏe yếu kém một mình ở nhà. Hai ông bà lấy nhau không có con cái, về già thật là neo đơn chiếc bóng. Mới hai ba năm trước, ông Nhật qua Paris ra mắt tác phẩm văn xuôi "Hoa Đào Năm Ngoái", ông có nhờ tôi giới thiệu. Sách ông viết như một thứ nghị luận thời thế lịch sử VN từ thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ đến thời Nguyễn Ánh lên ngôi, nghi ngút chữ nghĩa. Tôi đọc năm lần bảy lượt để hiểu nội dung, thôi thì thuận đâu viết đó. Đọc sách để cảm nhận, tôi ô-kê, nhưng để giới thiệu cho tử tế, không phải chuyện dễ dàng. Những kẻ tài hoa của một một thời, văn nghệ sĩ VN nổi tiếng đã mất đi rất nhiều, chết vì bị tù đày, chết vì bệnh tật già yếu. Tuy đời người tàn dần qua năm tháng, nhưng họ lưu hương cho văn hóa đời sau.

Hôm sau anh Ninh mời chúng tôi đến ăn cơm gia đình. Hiền thê của anh Ninh vui tính, nhanh nhẹn, người gốc Ninh Hòa xứ sở nổi tiếng làm nem. Tôi hỏi chị cách làm nem nướng, xứ lạnh bên đây làm nem khác với bên nhà, cần phải biết bí quyết. Quả nhiên chị Thức là người nhiều kinh nghiệm. Anh chị ấy đông con cháu, nên bữa cơm thật là vui vẻ. Nhất là khi Nhà Tôi trổ tài "hùng biện" về Tử Vi, khiến ai nấy đều chăm chú nghe. Tử Vi là môn "dự đoán thời tiết" của đời người, đề phòng bão táp mưa sa. Tôi không dám lạm bàn, vì phức tạp như sao trên trời.

Trước khi về lại Paris, chúng tôi được anh Thanh Tâm tặng cho hai cuốn sách tựa đề "Thiên Nga Giữa Cõi Người" do Văn Học xuất bản 1999, và cuốn "Thiên Hương Về Trời" do tác giả xuất bản 2010. Anh Phạm Tín An Ninh tặng tập truyện "Ở Cuối Hai Con Đường" , tác giả xuất bản lần thứ ba. Chúng tôi đọc khi ngồi trên máy bay. Hai tác giả có hai lối kể chuyện khác nhau nhưng đều thu hút người đọc. À, hôm trước, đang ngồi ăn điểm tâm ở khách sạn, thấy tivi chiếu đi chiếu lại một chiếc máy bay bị rớt xuống đất lửa còn bốc cháy, thấy có người lượm lên mấy cái passeport màu nâu của hành khách. Tôi sững sờ, nhưng không hiểu tivi nói tiếng NaUy, nhìn quanh xem có du khách nào chú ý như mình không, để có thể hỏi vài câu tiếng Pháp, nhưng không một ai chú ý cả. Hình như mọi người đều không muốn nhìn cảnh tượng hãi hùng đó, nhất là đang du lịch. Sau đó về nhà Paris mới hay tin tức chiếc máy bay của Malaysia Airline bị bắn rơi ở miền đông Ukraine , trong chuyến bay có ba mẹ con người Việt Nam ở Hà Lan, xứ sở của hoa tu-líp, về Hà Nội thăm gia đình.

Đến sân bay Gardermoen, thiên hạ đi Paris đông như kiến cỏ. Anh chị NinhThức tiễn chúng tôi ba người đến tận cửa kiểm soát hành lý. Anh chị Thanh Tâm buồn tiếc không thể đưa chúng tôi về. Lần này dịch vụ kiểm tra khá kỷ lưỡng tận tình. Có lẻ tôi bị nghi ngờ đem theo trong người hàng quốc cấm nên bị rà soát tận tình, người kiểm soát nói gì đó bằng tiếng địa phương, chẳng hiểu mô tê chi, tôi nói bằng tiếng Pháp , anh ta cũng chẳng hiểu mô tê chi, nên cho qua . Nước Pháp dạo này bị đám Hồi Giáo quá khích hăm dọa đủ điều. Dọa thì dọa, đi chơi cứ đi, chẳng ai sợ, sống chết có số .

Yên vị trên máy bay, nhìn ra bên ngoài ô vuông cửa sổ, trời buổi chiều vẫn còn nắng. Nắng rất nhẹ. Mấy đám mây đan dính vào nhau trên bầu trời, nhìn mãi không thấy mây bay đi. Tưởng chừng như mây lưu giữ cho chúng tôi một mảnh trời trong ký ức. Và có lẻ nắng chiều nơi đây ngừng trôi trong giây phút này ...

Paris tháng 8/2014

Về đầu trang


Nghiêng Mình Xuống Thời Gian

Cô Trần Thị Diệu Tâm




   Thời gian ?

   Thời gian thường được vẽ như một đường thẳng,
    trong đó quá khứ nằm ở bên trái, còn tương lai nằm
    bên phải phía trước, hiện tại đứng ở giữa. Khái
    niệm đó thật là dễ hiểu. Nhưng vẽ một đường thẳng
    rồi phân định ba điểm qúa khứ hiện tại và tương lai,
    cho rằng đó là biểu tượng thời gian, thú thật qúa
    đơn giản. Đơn giản để tìm thấy sự giải thích hợp lý.

   Có người sợ súng sợ đạn, sợ chết. Riêng tôi thì sợ…
    thời gian.

   Thời gian chỉ là một ý niệm, phi vật chất, nhưng chính nó làm tàn tạ bao điều tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần. Chính nó làm quên lãng nhiều điều chúng ta cần phải nhớ. Do đó thời gian ít khi chiếm được cảm tình của con người. Nhưng dù bị ghét bỏ hay được trân trọng, nó vẫn đương nhiên tự tại, vì nó là một thứ uy quyền vũ trụ.

Tôi sợ, vì nó ra đi không bao giờ quay về hay trở lại ghé thăm mình lần thứ hai. Buổi sáng 8 giờ ngày hôm qua, không giống như buổi sáng 8 giờ ngày hôm nay, vì mọi chuyện đã đổi thay. Sự thay đổi phải chăng là do thời gian tạo ra. Nếu không thay đổi, chắc chắn chúng ta không biết thời gian là gì. Nếu không có bốn mùa thay đổi trong một năm, thì chúng ta làm sao có mùa Xuân cho hoa nở, mùa Hạ cho nắng reo vui, mùa Thu cho thi nhân than thở, và mùa Đông lạnh tưởng nhớ nhau ?

Có người cho rằng thời gian chạy qúa nhanh, nhưng có lúc không hiểu vì lý do chi lại nói thời gian sao đi chậm qúa. Đúng là miệng lưỡi con người, khi nói này, khi nói khác, không biết đâu mà theo.

Với tôi, có lẻ như một số người khác, đến một giai đoạn nào đó, thích trở lại với qúa khứ mình bằng cách này hay cách khác. Có nghĩa là muốn quay lùi về phía sau bên trái con đường thẳng. Phải chăng, vì con đường bên phải phía trước sắp bị nghẽn, không tiến bước được.

Tìm về qúa khứ, kỷ niệm, là một cách sống lại lần nữa chính đời mình. Cũng thú vị lắm.

Trong văn học Pháp, Marcel Proust, tác giả của bộ tiểu thuyết độc nhất, nhưng độc đáo, Đi tìm thời gian đã mất, làm sống lại những hoài niệm về tuổi thơ, tuổi trẻ, về tình yêu trong sự cảm xúc sâu lắng của trái tim, và trong vẻ đẹp triết học. Để rồi tác giả than vãn thiên đường thật sự chính là thiên đường đã đánh mất.

Từ ngày còn trung học, tôi thắc mắc rất nhiều về cái tựa đề À la recherche du temps perdu, mặc dù không học văn chương Pháp, không biết tác giả là ai. Nhưng đã cảm nhận một nỗi niềm sâu xa thầm kín về ký ức một đời người, vì « thời gian đã mất ».

Nhà văn nhà thơ thường bi quan với hiện tại. Tôi không thuộc đẳng cấp với những người bi quan . Nhưng muốn nhớ kỷ niệm để thấy mình sống thêm lần nữa đời mình .Và chính mùi thơm của các loài hoa đã dẫn dắt tôi trở về vùng ấu thơ đầy những hình ảnh sống động, tưởng chừng như đang xem một cuốn phim quay chậm, nhân vật chính là tôi.

Ôi những nụ hoa, xin cám ơn món qùa tặng thiêng liêng của Đất Trời.

Xin kể rằng, tôi mua cây hoa Lài ở phố Tàu quận 13, Paris. Một cây cuối cùng còn sót lại lăn lóc, với những chùm nụ trắng nõn đang đưa mắt nhìn tôi cầu cứu. Nếu qua ngày mai không ai mua, cây sẽ chết, chùm nụ sẽ héo. Sau một tuần chăm sóc, các chùm nụ mạnh mẽ vươn ra ngoài ánh nắng cửa sổ ban mai. Những nụ non trắng tinh khôi tỏa nhẹ một mùi thơm thoang thoảng…

Dạo ấy còn học tiểu học, bài vở không chi nhiều, nhưng gia đình Ngoại luôn bắt con cháu phải cố gắng học hành chăm chỉ khuôn phép, từ đứa nhỏ cho đến đứa lớn. Tôi là con bé chúa lười, buổi tối ăn cơm xong, tôi giả vờ để cuốn vở trước mặt, nhưng đầu óc lơ mơ. Gió mùa hè mát rượi thổi qua cửa sổ, gió đem theo cả một mùi thơm ngào ngạt. Tôi hỏi người Dì đang ngồi bên cạnh,

- Dì ơi mùi chi thơm quá ?

Dì đang lén lút đan áo len cho ông bồ nhà binh sắp về phép, Dì cũng giả vờ để một cuốn vở trước mặt, thỉnh thoảng Dì đọc to lên những câu Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, xếp bút nghiêng theo việc đao cung, thành liền mong tiến bệ rồng./ Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao… cho mọi người biết Dì đang học hành chăm chỉ. Tôi biết tỏng, nhưng không nói cho Ngoại, tôi thương Dì. Tôi thuộc lòng những câu thơ Dì học, mặc dù tôi chỉ mới học lớp ba.

Dì giật mình ngừng đọc, trả lời :

- Ừ, đúng là mùi bông Lài bên nhà bà Tham.

Nhà bà Tham cũng gần, gió đưa hương làm tôi ngây ngất, ai mà chẳng thích mùi thơm. Tôi lại thích bắt giữ nhốt kín mùi hương trong tay đừng cho nó bay đi trong gió đêm.

- Dì ơi, Ngọai có hỏi thì nói cháu qua nhà con Hường mượn sách nghe Dì.

Dì gật đầu, vì luôn bao che tôi, và lẽ dĩ nhiên tôi không cho ai biết về chiếc áo len đặc biệt kia.

Thế là tôi lách mình ra ngoài, nhón chân chạy nhanh qua phía ngõ nhà bà Tham, như con mèo con. Len vào được cổng rào, tôi tiến về phía mùi hương, nhờ ánh đèn hắt ra từ cửa sổ, tôi thấy mấy bụi bông Lài đầy bông trắng xóa. Đưa hai tay vuốt nhẹ, bức sạch hết cho vào hai bọc áo. Xong, mèo con chui khỏi hàng rào thong thả vào nhà.

Ngồi trở lại trên bàn học, người tôi toát nồng hương hoa. Dì mĩm cười :

- Con ni đi hái trộm bông Lài phải không.

Tôi làm thinh, chia cho Dì một nắm bông trắng tươi :

- Dì ướp vô áo len đó cho thơm.

Dì ngạc nhiên nhìn tôi, sững sờ với lời khuyên rất hữu lý của con cháu bé học lớp ba.

- Coi chừng bà Tham biết.

- Không, chỉ có cháu và Dì biết thôi.

Tôi định bụng sáng mai vào lớp chia cho mấy con bạn ướp vô sách vở, vừa thơm vừa học bài mau thuộc. Tôi không dám đưa cho Ngoại bỏ vô trà như lời Ngoại thường nói, trà ướp lài ướp sen thơm lắm.

Từ sáng tinh mơ hôm sau, tôi nghe giọng mụ người làm nhà bà Tham đứng ở cổng chưởi đổng:

Con ranh mô đồ yêu qủy đến nhà người ta hái hết bông lài, ban đêm không ngủ ngáy mà đi phá làng phá xóm, có hái thì cũng phải để chừa cho người ta một ít chớ, đứa mô mà ác đến rứa tề...

Trong câu chửi xéo chửi xiêng của mụ, mụ cho rằng chỉ có con chứ không có thằng. Vì con gái mới thích đi bẻ bông trộm bông, còn thằng thì thích trộm... gà trộm vịt.

Tôi đi đến trường phải qua một lối khác xa hơn, tránh nhà bà Tham, lỡ có ai nhận ra tôi là thủ phạm chăng. Tuy bị nghe chửi đổng, nhưng việc lén lút hái trộm bông trộm hoa ban đêm gây cảm giác thích thú kỳ lạ. Có lẻ tại vì mùi thơm nồng nàn của hoa, hay tại vì đêm tối thường phát sinh ra ý tưởng mạo hiểm mà ban ngày không dám nghỉ tới. Hay cũng tại vì những ngôi nhà vườn Huế đầy hoa đầy trái, rất quyến rũ cho tuổi thơ dại.

Đó, hoa Lài của tôi ngày xưa. Giờ đây đem chậu Lài về nhà, vẫn chính mùi hoa ngày ấy, vẫn chính mùi thơm xưa. Có lẻ nó theo ông bà cha mẹ dạt qua xứ này gặp tôi chăng ? Người biết có luân hồi , cây cỏ có sự sống biết đâu cũng tái sinh.

Nhìn hoa, hít mùi thơm vào lòng, như hít cả một trời quê hương tự ngàn xưa.

Còn mùi hoa gì cho lòng tôi xao động nhớ quê nhớ nhà tha thiết ? Xin thưa, đó là hoa Mai. Cây hoa Mai tôi đem về từ Cali, gói ghém cẩn thận cầm tay lên máy bay, giấu ở dưới gầm ghế ngồi, không cho cô tiếp viên Américain Airlines thấy. Người đi trên máy bay về rất mệt, nhưng cây Mai về đến nhà vẫn còn đầy nụ và lá xanh non.

Qua hai tuần sau đúng như dự đóan, hoa Mai nở ngay trong phòng khách. Tôi nhớ sáng hôm ấy, một buổi sáng thật kỳ diệu. Tôi bỗng chợt tỉnh, như có ai đánh thức mình dậy. Nhìn đồng hồ thấy còn sớm qúa mà, nhưng tôi không thể ngủ tiếp. Như thói quen thường lệ, việc đầu tiên trong một ngày mới, ngắm hoa. Vì hoa thường nở vào không khí đêm tĩnh lặng. Cả hai chùm nụ đang hé môi cười tình, dù bình minh chưa đến hẹn. Tôi hiểu ngay rằng hoa thức giấc tôi để báo hiệu nó đang mời gọi chào đón. Mỗi đài hoa có sáu cánh mỏng như cánh bướm non mới rời kén, màu vàng đẹp như giấc mơ. Tôi cúi xuống gần, hương Mai nhẹ nhàng biết bao, ấm áp và êm đềm. Đó là hương của mùa Xuân, của ngày Tết quê nhà.

Ôi ngày Tết quê nhà. Tôi quay nhìn lên bàn thờ gia tiên, đốt một nén nhang. Dù sáng hôm ấy không còn Tết nữa, nhưng trầm hương chen lẫn hoa hương làm tôi rưng rưng nước mắt chạnh nhớ quê xa, xa trong không gian và xa cả thời gian.

Tôi tưởng chừng như mình đang mọc đôi cánh trắng, nhẹ nhàng bay ra khỏi nơi này, trở về chốn cũ.

Vườn cây bên nhà Nội tôi có một gốc Mai thật đặc biệt, già nua cằn cỗi, thân cây nổi từng u gỗ như những con mắt lồi, thỉnh thỏang đe dọa hay canh chừng khi tôi mãi mê đánh đu trên mấy nhành ổi non. Nghe Nội nói ông Cố trồng từ khi tạo dựng khu từ đường này, trước khi cha tôi sinh ra, Cố làm thượng thư trong triều, nổi tiếng thanh liêm. Dạo ấy tôi chẳng hiểu thanh liêm là nghĩa chi chi, nhưng biết nó đi theo với chữ nghèo.

Tôi nhớ vào dịp trước Tết, cây Mai ra nụ chen chúc đầy nhánh, nhánh nào cũng đầy ắp nụ mập ú và bóng mẩy. Có người hàng chợ trên xuống thăm Nội, nhìn ngắm cây Mai hòai không chán. Sau đó họ cho người đến cưa phần trên cả chục nhánh, Nội dành lấy một cành đẹp nhất. Người mua đưa Nội một ít tiền, Nội thở dài. Nghe Nội chép miệng dành tiền mua gạo. Cành Mai cuối cùng chưng trong nhà Nội, nở đầy hoa thật đẹp vào đúng ngày mồng Một, làm tươi thắm gian nhà âm u những âm hồn. Những bàn thờ đầy hình đầy ảnh cố ông cố bà, chú bác bà cô chết non chết trẻ. Tôi rất kinh sợ khi nhìn họ, chỉ chăm chăm nhìn những dĩa trái cây và các dĩa bánh khảo bọc giấy xanh giấy đỏ. Tuy thèm những chiếc bánh đẹp mắt, tôi không dám trộm một cái nào, vì thấy hình một bà cô luôn đưa đôi mắt sắc sảo nhìn tôi đăm đăm. Nội nói bà cô rất đẹp, Cố ông định tiến cung vua, nhưng chưa tiến thì cô chết yểu. Chạy ra vườn, cây Mai trước nhà trơ trụi, hoa không lá không. Trông như một người đàn bà bị gọt đầu bôi vôi, buồn dã dượi. Nội cho tiền mừng tuổi, có lẻ trong đó có cả tiền bán cây Mai. Ngoài sân lúc bấy giờ hình như không có nắng, chim chóc thôi về ríu rít, nắng đi mất rồi. Đó là một ngày Tết thật buồn tẻ. Nhà đã vắng người nay còn trống vắng hơn nữa. Cây Mai trước nhà như một ông hộ pháp gìn giữ từ đường này qua bao nhiêu năm tháng, qua bao nhiêu biến động, để con cháu tụ họp vào những ngày giỗ chạp. Thấy tôi ngẩn ngơ nhìn cây Mai trọc đầu, Nội nói sang năm nó sẽ trổ bông đẹp hơn nữa. Nhưng sau đó, tôi không còn ở với Nội. Vùng quê ấy mất an ninh, Nội vào chùa tu ẩn, ngôi từ đường hoang phế, thỉnh thoảng có ông già trong họ đến rẫy cỏ, quét nhà. Trong ký ức tuổi thơ tôi, dầy đặc biến động chiến tranh, cùng với những mất mát, có cả mất mát về một cội Mai ngày Tết năm ấy. Giờ đây, cây Mai bé nhỏ nâng niu đem từ xứ Mỹ về chỉ sống sau bốn tuần, khi đã nở hết tất cả các nụ xinh xắn cho tôi ngắm cho tôi giữ vào lòng hơi ấm mùi hương. Rồi cây bắt đầu gầy guộc, lá rụng xuống, tôi lo lắng chạy chữa đủ mọi phương cách. Trong lúc thẫn thờ nhìn cây Mai đang dần dà gục xuống, tôi nghe như có tiếng thì thầm tuyệt vọng: “Chị đem em từ bên kia qua sống bên này là không phải cách, không đúng với luật sinh tồn Trời Đất. Chị tưởng rằng em có thể sống được nhờ ánh nắng, nhưng đâu phải ánh nắng nơi nào cũng giống nhau. Đừng tưởng rằng trái đất chỉ có một mặt Trời và cùng một thứ nắng. Nắng quê em không phải là nắng ở đây, gió quê em không phải là gió quê người. Em động lòng vì tình yêu của chị đối với em, đưa em qua ngàn dặm về đây, xin nở cho chị chỉ một lần thôi vào sáng hôm ấy, em đem tất cả sinh lực còn lại để trao tặng chị những chùm hoa thơm đầu tiên và cuối cùng”. Từ đó cây Mai kiệt sức, khô héo. Biết không thể trồng Mai ở xứ lạnh này, tôi có ý định mua một chậu mai giả đem về nhà cho đỡ nhớ. Nhưng hoa giả không có sự sống, nên ngần ngại. Dù không còn hiện diện cùng tôi mỗi ngày, nhưng cây Mai bé nhỏ ấy luôn xuất hiện trong tâm hồn với mùi thơm dịu dàng êm ấm của nó. Cũng như cội Mai già ở từ đường ngày xưa vẫn luôn hiện diện sinh động, và thỉnh thoảng lại nhẹ nhàng trổ bông trong ký ức qua mấy mươi năm. Tôi cũng nghiệm ra một điều tuy tầm thường, nhưng làm tôi chú ý : Chính sự sống của hoa đã giải thích cho tôi biết thế nào là chuyển dịch của thời gian. Cùng với cách giải thích này, hoa cũng là một người bạn rất tốt giúp tôi làm sống lại bao điều, trí óc tôi lành lại với những thương tổn do đời biến động. Mỗi khi tôi chợt thức giấc sớm hơn thường lệ, biết rằng sáng ấy có một bông hoa nào đấy đang nở trong nhà. Tưởng chừng như có một giao cảm nào đó giữa người và hoa. Vì đời người cũng như đời hoa, có chung một luật định của tạo hóa qua thời gian. Sống và chết. Nở và tàn. Người yêu hoa và hoa yêu người. Sự hỗ tương thật đáng qúy.

Trái tim người có khi không đập cùng nhịp với người, nhưng luôn cùng nhịp với trái tim hoa.

Tôi xin khẳng định điều này. Trong tình tự của một loài hoa nở, tưởng như tầm thường, tôi học được bao điều tốt đẹp, làm hân hoan cho đời sống bình thường lặng lẽ này, và cũng hoàn tất phần nào cái bất toàn của cuộc sống. Mỗi tuần, tôi lang thang vào vườn bán cây cảnh, tìm hoa quê mình, như tìm người thân thất lạc sau cuộc đổi đời. Xứ sở này có biết bao nhiêu kỳ hoa dị thảo, sao tôi cứ mê mãi tìm hình xưa bóng cũ ?

Trên khái niệm đường thẳng thời gian, nhờ hoa, tôi có thể bẻ cong thời gian thành vòng tròn. Để làm gì ư ? Thưa để trở về một thời điểm quá khứ bắt gặp hay sống lại những hình ảnh êm đềm trên quê hương mình. Một vòng tròn luân hồi, luân hoán, vòng tròn của tử sinh sinh tử.

Nhưng bên cạnh những hình ảnh được cho là êm đềm ấy, cũng sống lại bao điều đắng cay buồn thảm, như thể những đau đớn ấy lớn lên gấp bội trong hiện tại, theo tuổi người tuổi thời gian. Nhiều điều bất hạnh không làm mình buồn khổ trước kia, nay bỗng dưng tràn ngập xót xa khi nhớ lại. Đời sống đâu chỉ là niềm vui mà không có nỗi buồn.

Thời gian ơi, tuy biết thời gian làm tàn tạ bao điều, làm quên lãng những điều thương mến của chúng ta, nhưng thời gian làm cho cây cỏ nẩy mầm, cho hoa nở nụ, và cho người biết qúy trọng giây phút hiện tại để tận hưởng cuộc sống muôn màu muôn vẻ...

Paris tiết Sương Giáng

Về đầu trang


Nhớ Ngày Di Tản

Cô Trần Thị Diệu Tâm

"Di tản", đó là một nhát dao chém vào thịt da còn để lại vết sẹo dài sâu hoắm trên thể xác, làm u uẩn cả tâm hồn mỗi khi mình nhớ lại. Dù mười năm, hai mươi năm hay ba bốn mươi năm, thì vết chém ấy vẫn ám ảnh suốt cả những thân phận người Việt miền Nam.

Chúng ta không ai có thể quên, tôi không thể quên. Quá khứ trôi qua đã lâu rồi, tại sao mình cứ nhớ mãi. Chuyện nhớ chuyện quên tùy thuộc vào tâm trạng ký ức mỗi người. Người ta di tản suốt cả chiều dài Bắc Nam, người ta di tản qua hàng ngàn vạn cây số, di tản trên biển rộng gào tiếng sóng vỡ toang. Riêng tôi, di tản chỉ có ba trăm cây số từ Đàlạt về Sàigòn, nhưng với tôi, chính là vượt qua thế giới đang sống bình yên để đến thế giới kinh hoàng khác.

Tôi còn nhớ sáng hôm ấy, trời đang còn xuân, hoa anh đào đang âu yếm tươi cười với nắng mai. Tôi lái xe ra phố chợ Hòa Bình thong dong lượn qua phố xá, mua vài thứ cần dùng, bỗng đâu một đám đông ồn ào làm ai nấy chú ý. Người đàn bà mặt mày hớt hãi nói lắp bắp : Việt Cộng vào Ban Mê Thuột rồi, ở đây chắc cũng không yên, lo chạy đi. Tôi vội lái xe về nhà, lòng hoang mang lo lắng . Nhà tôi từ trường Võ Bị về, hỏi ngay về tin đồn . Anh ấy im lặng cho biết, có lẻ phải đi thôi. Không nói gì thêm, thật bất ngờ, như vậy là chạy giặc rồi, xưa nay tôi nào biết có loạn ly. Đang sống cuộc sống êm đềm với ngôi nhà mới xây, với vườn tược cây cối, với mấy đứa con xinh xắn, với trời trong xanh mát của Đàlạt, mà đi đâu. Trong vườn nhà, cây bích đào đang khoe những nhành hoa thắm đỏ, cây mimosa đang nở hoa vàng dịu dàng đưa hương. Tại sao tôi phải bỏ nơi này mà đi ?

Khi tôi lo lắng thì mọi người cũng đã lo lắng, thiên hạ đua nhau chạy mua vé máy bay về Sàigòn, hình như đó là điểm tựa cuối cùng. Tôi không biết hay không thể biết sẽ xảy ra điều gì sắp tới. Mọi suy nghĩ lý trí như chết cứng, chết sững, không ai có thể suy đoán bất cứ điều gì, vì mọi dự đoán đều không chứng cớ, vậy chỉ biết làm theo giống người khác. Tôi hấp tấp ra Air VietNam hỏi vé , cô tiếp viên mặt lạnh như tiền cho biết hết vé rồi, tôi đề nghị giá gấp ba cũng không, chuyến cuối cùng không còn một chỗ trống nào. Thấy người nào mặt mày cũng lạnh tanh, chẳng ai nói với ai lời nào, biết cái gì mà nói với nhau. Ngay vợ chồng chúng tôi cũng vậy, im lặng trong sợ hãi, không biết tính toán ra sao.

Không có vé máy bay thì sao? Ở lại đây à? Cộng sản có vô đây không ? Nếu họ vô thì chắc chết hết, nhà tôi là quân nhân mà. Bao nhiêu thắc mắc dồn dập, biết hỏi ai bây giờ, ông Trời chắc cũng không biết, đừng nói Dieu seul le sait. trong trường hợp này. Mọi ngày chúa nhật, tôi đi lễ cầu xin mọi điều tốt đẹp, bây giờ tôi e rằng chúng tôi, không thuộc loại người trong số loài người được chúa yêu . Hoặc rằng, khi Chúa yêu thì cần phải khổ đau nhọc nhằn, tôi không hề muốn được yêu theo kiểu ấy.

Tối hôm đó, nhà tôi bàn bạc: " Không có vé máy bay, thôi em lái xe đưa các con về Phan Rang hay Phan Thiết rồi từ đó kiếm máy bay quân sự về Sàigòn, đường bộ về Sàigòn đã bị cắt đứt ở Định Quán rồi ". Tôi nói trong lo sợ "Nhưng làm sao em và các con đi một mình được ?" Nhà tôi bình tĩnh "Thì em cứ lái xe như mọi ngày !" Tôi ớn lạnh, hôm nay ngày mai không còn là ngày hôm qua, không như trước nữa. Lâu nay tôi lái xe mà không qua một cuộc khảo hạch nào . Nhà tôi dạy tôi lái độ ba vòng lên xuống trên đồi sân Cù, chạy lên chạy xuống ven trường Đại Học, quanh bờ hồ Xuân Hương, rồi ông bạn ở công chánh cấp cho bằng lái xe, thế là xong ! Khả năng lái xe vậy, giờ đây tôi phải đem các con di tản , đem các con chạy giặc xuống Phan Rang Phan Thiết ! Thú thật tôi không hề biết luật lệ, không biết các bảng hiệu ra sao, chỉ biết rồ máy chạy và thắng lại, khi cần thì tắt máy, thế thôi. Những con đường Đàlạt êm như mơ, cứ thế mà lái, đâu cần mất công nhìn ngang ngó dọc với tấm bảng chỉ đường. Khi đàn bà lái xe thì những xe khác đều phải dừng lại hay tránh xa. Chưa khi nào tôi lái xe ra khỏi thành phố. Đàlạt với tôi là khu phố chợ Hòa Bình, quá đủ cho tôi một đời sống không cần nghĩ đến chuyện chi khác. Vậy mà anh ấy đành lòng để tôi một mình với đàn con dại chạy giặc sao. Anh nói thêm một lần nữa như đinh đóng cột " Anh không thể bỏ nhiệm sở, bây giờ vắng mặt một ngày coi như đào ngũ, anh phải ở lại ".

Tôi mới nghe vài người bỏ nhiệm sở đưa vợ con ra khỏi thành phố Đàlạt rồi, tôi nói liều, nói ngang: " Anh bỏ mặc vợ con, vì anh có trách nhiệm với trường Võ Bị, nhưng nếu em lái xe một mình lở có chuyện gì anh có ân hận không ?" Câu trách móc làm cả hai chúng tôi đều nhói đau trái tim. Cả hai chúng tôi thấy nhiều nguy cơ đang chờ đón, chưa có hoàn cảnh nào đưa vợ chồng chúng tôi vào cảnh ngộ khó xử như vậy.

Anh nói:" Về dưới ấy để tránh bom đạn, hết đánh nhau thì về lại đây thôi, có gì mà lo ". Nhưng trước sự điềm tĩnh ấy, tôi bỗng thấy tủi thân khi phải ra đi một mình. Tôi biết anh gặp nhiều điều phiền toái trong quân ngũ sau này, chỉ mong có ngày được biệt phái trở về nghề chính đi dạy học. Thế mà trong hoàn cảnh này, cơ hội có thể dứt bỏ hết được các phiền toái ấy, thì anh lại nghĩ khác . Bổn phận và trách nhiệm của một quân nhân . Bộ đồ nhà binh anh mặc thường ngày đối với anh rất nặng nề và cảm thấy không mấy thích hợp, nhưng nay anh coi trọng nó, xem trọng nó hơn cả gia đình vợ con . Anh trở nên một quân nhân mẫu mực, nói nhiều câu khó hiểu . Không khí gia đình căng thẳng. Tối hôm ấy tôi đi ra đi vào ngôi nhà rộng thênh thang mới xây, tất cả bàn ghế màn treo đều còn mới . Tôi không biết nên đem theo cái chi , bỏ lại cái gì. Phải lo cho con trước hết, chúng tôi có bốn cô con gái, đứa lớn nhất mới sáu tuổi, đứa bé nhất mới một tuổi. Cần phải ra khỏi Đàlạt sớm chừng nào hay chừng đó, lở ra Việt Cộng tràn vào, e thoát ra không kịp.

Ngày hôm sau nhà tôi cho biết có xe của anh chị B. cũng đi về Phan Rang, và gửi gắm tôi và các con cho họ. Anh chị B. quen biết với ty điện lực nơi này, có chỗ ở tạm. Tôi có thể yên tâm lái xe theo sau xe họ, nếu có chuyện gì không may xảy ra, nhà tôi cũng đở lo hơn. Lúc ấy đầu óc tôi trống trơn nghe sao thì làm vậy, không còn phản ứng gì thêm. Hai gia đình chúng tôi ăn buổi sáng ở tiệm phở Bằng dưới gốc cây thông già trước khi rời khỏi thành phố. Vợ chồng có bốn con từ giã nhau không giống như tình nhân, không có biệt ly buồn vời vợi, không có nhớ nhung từ đây, và cũng không ôm hôn nhau . Chúng tôi lặng lẽ, anh nhìn theo các con, con bé nào cũng đưa đôi mắt to đen nhìn bố cười. Chúng tưởng sắp đi chơi xa với mẹ. Để chăm lo chúng trong những ngày di tản, tôi đem theo o giúp việc ngồi băng ghế sau giữ các bé. Con bé út được buộc chặt trong cái ghế nằm của nó, ngoan ngoãn không một chút cựa quậy. Tôi bắt đầu kiểm soát máy móc như một người đàn ông kinh nghiệm, mới hay cái phanh chân không nhạy, đạp thắng đến ba lần xe mới đứng, xăng thì đầy anh nói mới đổ hôm qua. Chiếc xe Volkswagen cho anh bạn mượn vào rừng làm gỗ, mới trả lại chưa kịp đưa vào ga-ra sửa. Dạo ấy, nhiều vị thân hữu Đàlạt đều thích dùng loại xe Volkswagen đơn giản nhẹ nhàng này, gia đình anh chị B. cũng di tản trên chiếc xe màu xanh giống của chúng tôi.

Hai chiếc xe hơi giống nhau, nối đuôi chạy xuống đèo hướng Phan Rang, tôi cứ phải nhấp chân theo nhịp ba để xe chạy chậm uốn theo con đường ngoằn nghèo chữ Z . Cái nhịp ba điệu valse này không là nhịp ba mộng ảo quay cuồng tay trong tay, nếu sai nhịp chiếc xe sẽ lộn nhào xuống hố sâu vực thẳm dưới kia. Nếu lái xe mà lòng cứ hãi hùng thì thật là một thảm họa, tôi cần ung dung bình tĩnh, bám sát theo sau xe của anh chị B., không cho một xe nào chen lấn vào giữa. Hôm đó xe cộ rất ít ở đoạn đường này, có lẻ dân chúng các vùng tây nguyên chưa tràn xuống đây. Nhìn vào kính chiếu hậu, con bé lớn đưa tay quàng qua vai đứa em như tỏ ý che chở. Hình như nó cảm được điều gì đó bất thường, dù mới sáu tuổi, còn mấy đứa em ngủ gà ngủ gật. Tôi cảm nhận mình trở thành một người đàn bà không như mọi ngày, khác hẳn mọi ngày. Trước nguy cơ, bản năng con người sinh tồn luôn cứng cỏi tự tin. Tôi nhớ khoảng năm ngoái, cũng trên đoạn đường này tôi và con bé ngồi trong xe một chị bạn có chồng làm trưởng ty thuế vụ Nha Trang, theo chị về chơi thành phố biển. Lúc ấy xe xuống đèo làm ruột gan cồn cào, xe phải dừng lại để nôn ọe ra ngoài, mệt không thở nổi. Một đèo, một đèo lại một đèo, khen ai khéo tạc cảnh cheo leo ... nữ sĩ Xuân Hương ơi, tôi có thể nào làm thơ diễu cợt trong cảnh ngộ này chăng . Nhà thơ là người khéo tưởng tượng, thấy chuyện này nghĩ ra chuyện nọ, nhìn cảnh thấy người, nhìn người lại nhớ ái ân. Tôi lái xe thong thả để khỏi phải nhấp chân nhịp ba nguy hiểm, chúng tôi đến Phan Rang vào giữa trưa. Mấy mẹ con được ở trong phòng dành cho khách công ty điện lực, có máy điều hòa không khí, có máy nước nóng . Ông trưởng ty không thấy đâu, có lẻ đã lo bay về Sàigòn rồi, chỉ còn lại vài nhân viên địa phương. Di tản như chúng tôi thế này cũng như đi nghỉ hè, tôi an tâm làm khách du lịch bất đắc dĩ. Nhà tôi căn dặn trước khi đi " Về đó ở tạm rồi liên lạc người quen xin máy bay quân sự về Sàigòn " Nhưng chờ mãi cũng không xin được máy bay quân sự. Mỗi buổi sáng tôi chở các con ra bãi biển Ninh Chữ tắm biển, về ghé chợ mua thức ăn. Gạo ở vùng này rất ngon và rẻ. Tôi hỏi bà bán gạo "Sao bác không lo chạy ? " Bà trả lời tỉnh bơ :" Nghèo như tôi thì lo chi, sợ chi !" Đúng, người nghèo không có gì để lo mất, không có chi phải sợ hãi.

Buổi chiều, tôi ra ngoài con đường chính, thấy cả đoàn xe từ miền núi cao đổ về, ngày mỗi đông. Những chiếc xe be dùng chở gỗ nay chở các thứ gia dụng đồ đạc lỉnh kỉnh, họ đem theo cả gà vịt. Tôi sốt ruột quá, hỏi ý kiến anh chị B. thế nào.

Anh ấy nói " Chúng ta nên tạm ở đây đi, chờ tình hình yên tĩnh rồi trở lên Đàlạt lại, không nên về Sàigòn, đó là chỗ thiêu thân " Trong thâm tâm anh chị ấy, họ không muốn bỗng chốc mà bỏ cả cơ nghiệp Đàlạt . Vợ chồng chúng tôi cũng như anh chị ấy đều mới xây hai ngôi nhà với tất cả số tiền dành dụm lâu nay. Riêng chúng tôi có nhà ông bà nội các cháu tại Sàigòn, nhất quyết phải về. Mỗi người mỗi cảnh, mỗi người đều lý luận suy đoán không theo một cơ bản chính trị nào, chỉ dựa theo cảm tính. Ngày hôm sau, nhân viên trực công ty điện lực cho biết có người gọi điện thoại từ Đàlạt. Tôi đến bắt máy nghe.

Nhà tôi nói :" Em và các con trở lên Đàlạt ngay, anh đã mua được vé máy bay về Sàigòn rồi, đây là chuyến chót, nên đi xe đò ". Có lẻ người ta cho thêm máy bay lên Đàlạt tiếp vận. Tôi đành bỏ chiếc xe hơi thân yêu tại Phan Rang, tha đàn con dại bốn đứa theo chiếc xe đò rộng thênh thang leo dốc, trong khi đó nhiều đoàn xe ở trên đổ xuống đèo như rắn lượn. Xe chen chúc nhau đổ nhanh chừng nào hay chừng đó, tuồng như nếu chậm một giây phút người ta sẽ phải bị giết chết. Thế mà mấy mẹ con chúng tôi đi ngược dòng, trở về nơi cần phải đào thoát. (Nhưng sau đó, được về Sàigòn theo với máy bay nhẹ nhàng, còn gia đình anh chị B. rồi cũng phải trở lên Đàlạt và di tản theo đoàn quân trường Võ Bị Quốc Gia qua ngã Bình Tuy, họ phải lội qua các bãi chết, vượt qua xác chết dọc đường trong đêm tối đen, vượt qua mọi sợ hãi khốn cùng để tìm về cõi sống, một cõi sống kinh hoàng . Chị B. sau đó cứ phân bì với tôi rằng " Số bạn đi đâu ở đâu cũng thong dong có lẻ tuổi bạn có chữ Quý " , nghĩ lại, dù nam Nhâm hay nữ Quý cũng đều vô sổ đoạn trường như nhau sau bảy mươi lăm cả.) Tôi trở về căn nhà của chúng tôi ở Đàlạt.

Cô bé gái lớn hỏi mẹ: " Mẹ ơi yên rồi hở mẹ, mình về nhà mình hả ?" Tôi không trả lời, lúc này không ai trả lời được điều rõ ràng, dù với một đứa bé lên năm lên sáu. Chỉ biết còn ở lại nhà này một buổi chiều nữa thôi, ngày mai sẽ ra đi. Nhà tôi chở tôi ra phố Hòa Bình trên chiếc xe máy Suzuki còn lại, vì ở nhà sốt ruột quá. Thành phố Đàlạt chiều ấy sao mà thê lương, mọi cửa nhà phố xá đều đóng kín mít, hình như ai nấy đều di tản ra khỏi thành phố rồi , hoặc ẩn núp đâu đó. Thành phố rỗng trống không, thành phố chết.

Thỉnh thoảng có một hai chiếc xe Jeep nhà binh vội vã lướt nhanh qua, một anh quân nhân đi bộ gật đầu chào nhà tôi, nhưng chẳng ai buồn nói lấy nửa lời. Bây giờ biết gì để hỏi, biết gì để trả lời. Chỉ có những người lính còn lại nơi này để ứng chiến . Ứng chiến như thế nào, không ai biết. Hình như ai nấy đang chờ đợi, chờ đợi gì ? Điều gì sẽ xảy ra trong đêm nay, hay trong tức thì ? Phải chăng đó là cái chết ? Trên đường phố vắng teo, một vài con chó hoang chạy lông bông, không biết chạy đi đâu về đâu, vì chủ đã bỏ đi rồi. Phố xá Đàlạt bất động như một bức tranh u ám, trên đó họa sĩ vẽ bằng màu sơn chết. Tuy chưa ai nghe tiếng súng mở đầu, mà chừng như mỗi ngọn cỏ xanh đang run rẫy nép mình nằm ép xuống, từng nhánh hoa đào đang thẫn thờ, ngẩn ngơ rụng những cánh tả tơi ...Nhìn lại căn nhà thân yêu, tôi phải bỏ nó lại nơi này, bỏ hết mọi thứ. Phía sau lưng đồi, ráng chiều bỗng dưng đỏ ối, căn nhà nổi bật lên trong một hoàng hôn ức hiếp. Buổi chiều lạ lùng, không có một ngọn gió thổi qua, cây cối trong vườn đứng sững, như chết cứng. Một cảm xúc nức nở nghẹn ngào làm tôi khó thở. Nhìn xuống hòn non bộ trong bể nước nhỏ, đôi mắt đá nhìn tôi câm lặng chịu đựng. Thời gian ngưng đọng và nặng nề như đang vác trên vai hàng ngàn tấn sắt thép.

Một người chủ vườn rau phía sau đi ngang thấy tôi đứng trên sân nhà, hỏi: "Ông bà chưa đi sao?"

"Có lẽ ngày mai ", tôi trả lời, hỏi lại: " Thế gia đình bác chưa đi à ?"

Bác lắc đầu " Chúng tôi sống ở đây với nghề trồng rau, bỏ vườn tược đất đai mà đi không đành cô à, đất của mình ở đâu thì chúng tôi ở đó ". Nói xong bác lặng lẻ đi về thung lũng. Hôm ấy tôi mới thực sự hiểu thế nào là giá trị của đất đai đối với người nông dân, là mạch sống là máu thịt của chính họ. Họ không thể từ bỏ bất kỳ với lý do nào.

Tôi vào nhà, đóng lại tất cả các cửa cẩn thận, căn dặn o giúp việc vài điều và cho o thêm chút tiền công theo chân chăm sóc các con tôi trong đoạn đường vừa qua . Tôi bảo các con đi ngủ sớm. Đêm hôm ấy, thật là một đêm kinh hoàng vì lo sợ. Nằm trên giường mà mắt cứ mở thao láo. Tai tôi chờ nghe tiếng súng bên kia đồi Võ Bị vọng về, lắng nghe để biết dấu hiệu cuộc chiến bắt đầu. Lắng nghe để xem một quả pháo kích nào lệch mục tiêu rơi xuống ngay trên đầu mình ! Đêm. Đêm ma quái, đêm vô cùng thăm thẳm . Đêm không chịu chạy. Đêm đồng lõa với cái chết, nó trường mình như rắn như rết, thè lưỡi nhọn liếm khắp mặt mũi tôi. Thật chưa bao giờ tôi chịu đựng một đêm dài khủng khiếp đến vậy. Chỉ mong sao nhìn thấy tia nắng ban mai để biết rằng mình còn sống lại qua ngày hôm sau. 7 Và sáng mai tôi dậy sớm, chạy qua phòng các con lo cho chúng. Chúng chưa biết lo sợ, vì trong trí óc non nớt của trẻ thơ, chúng chưa hề biết khổ đau. Nhà tôi mượn chiếc xe jeep chở mấy mẹ con ra phi trường Liên Khương. Con bé thứ nhì luôn cầm theo con búp bê bà ngoại mua cho từ Pháp, con búp bê nhồi bông có da thịt mềm mại luôn ngủ chung không rời. Nó dấu sau lưng sợ mẹ không cho đem theo. Con bé thứ ba luôn ôm quấn theo chiếc chăn vải thân yêu, tôi bắt phải bỏ lại, nó khóc tức tưởi đem vô phòng cất dấu trong tủ. Con bé thứ tư ôm chiếc bình sữa đã cạn. Con bé lớn giản dị nghe lời mẹ, vì lên máy bay không có chỗ rộng. Con đường về Liên Khương bao giờ cũng thơ mộng, từ ngày tôi lên đây học hành cho đến khi lập gia đình. Xe chạy về trước, từng ngôi nhà từng cây thông chạy ngược về phía sau, như chạy về quá khứ. Mọi cảnh vật bị mờ xóa. Hình như chúng tôi không nói chuyện gì nhiều với nhau. Các con không đứa nào ọ ẹ điều gì, chỉ nghe tiếng gió lạnh thổi qua mau. Đến phi trường, tôi gặp vài người quen biết, có người đem theo cả đồ dùng bếp núc lên máy bay. Tôi thấy mình như một kẻ mộng du bập bềnh trong hiện tại và cả tương lai.

Từ phòng đợi ra đến máy bay là một khoảng đường tuy không xa mấy, nhưng lúc ấy sao mà xa quá. Nhà tôi đứng chờ cho cho mấy mẹ con lên máy bay. Tôi quay lại nhìn anh ấy lần nữa như nói vài lời giã biệt, trong hoàn cảnh này, từ biệt có nghĩa nào ? Còn gặp nhau hay sẽ không bao giờ gặp nhau. Các con không quay lại nhìn bố, chúng chưa biết thế nào là ly biệt.

Ngồi trên máy bay, chợt bồi hồi tự hỏi " Chúng ta có còn gặp lại nhau ?" Phía dưới kia, người đàn ông mặc bộ đồ lính ứng chiến còn đứng đó trông theo . Người đi được an toàn, người ở lại chờ bất trắc. Sau đó chúng tôi bị cơn lốc xoáy trả thù triền miên dai dẳng của kẻ chiến thắng, cuốn hút thân phận những con đàn bà vợ Ngụy vào hố sâu thăm thẳm. Chồng tôi là kẻ bại trận, không đánh mà thua, không thua mà chạy.

Sau 30/4/75, cái mốc thời gian mà mọi giá trị đều bị đảo lộn, xoay ngược hết. Tốt thành xấu, sai thành đúng. Hèn thành sang, kẻ đi chân đất thành người ngồi xe hơi. Người không học bỗng dưng biến thành nhà thông thái đi rao giảng thông điệp cho mọi người. Cái mốc thời gian, mà ông trở thành thằng, bà trở thành con. Chính trở thành Ngụy. Còn mai vàng mai bạc trên vai trên cổ ?

Bây giờ, người còn người mất, kẻ ra đi người ở lại , kẻ còn sống người đã chết. Tất cả đều có chung nhau cả một đoạn đời đứt ruột bắt đầu với ngày di tản .

Về đầu trang


Nhớ Trường Xưa

Cô Trần Thị Diệu Tâm


Còn một chút gì để nhớ… Đàlạt


Sau khi đỗ Tú Tài ở Đồng Khánh Huế, tôi ghi tên học thử văn khoa Pháp, thấy coi bộ không xong, văn chương Pháp đâu phải dễ dầu gì. Một năm đi dạy vớ vẫn kiếm tiền, chẳng thể định hướng được tương lai mình, bà Dì của tôi lúc ấy từ Pháp về dạy ở Couvent des Oiseaux, bèn kêu lên Đà Lạt học Chính Trị Kinh Doanh khóa 2 . Nghe cái tên CTKD thật hấp dẫn ai chẳng mê. Tôi ôkê liền. Nhất là được học tại Đàlạt, thành phố thiên đàng . Để trang trải chi phí ăn ở tại ngôi trường qúy tộc ấy, tôi phải làm thêm những việc như giám thị các buổi étude của đám nữ sinh con nhà quan, con nhà giàu. Những cô học sinh, ái nữ của các vị tướng lãnh đạo VNCH, hay các vị tên tuổi của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau này tôi mới biết) .Ngoài ra tôi cũng được quen biết với nhiều nhi nữ sau này là phu nhân của các chính khách nổi tiếng .

Do đó, khi ghi tên vào học phân khoa CTKD, tôi thật sự ít khi được dịp đi học ghi bài vở cho đầy đủ, may nhờ có tổ chức quay và bán cua của nhóm mấy anh SIVIDA nên đở lo. Dù không dự giờ học, tôi có đầy đủ bài vở . Từ trường Oiseaux lên đến Viện khá xa, ngồi học mà phải nhìn đồng hồ để trở vể trường làm việc. Học xong, vội vã thuê xe lam ba bánh về ngay, mắt tôi không dám liếc ngang ngó dọc anh nào chị nào cả . Tôi ao ước giá chi gia đình mình đầy đủ tiền bạc, được học hành chăm chỉ đều đặn như các bạn khác . Thỉnh thoảng có các sinh hoạt của các nhóm sinh viên được quảng bá, tôi thèm chảy nước miếng. Tuy nhiên khóa 1 và khóa 2 thường gần gủi nhau, tôi chỉ biết tên họ qua những lần nghe kháo chuyện.

Một lần, từ chợ Đàlạt đi lên Viện, qua đường Võ Tánh, trước trường Bùi Thị Xuân, bỗng có một chị chạy ra chào hỏi tôi thân tình. Tôi không biết chị, nhưng có lẻ chị biết và thấy tôi vài lần đi ngang nhà .

« Này, mình muốn nhờ bạn một việc. »

Tôi ngạc nhiên, chị giới thiệu chị trong nhóm Thanh Niên Thiện Chí, và cho biết : chị đang lo tổ chức văn nghệ ở rạp hát Hòa Bình, có mục trình diễn thời trang ,chị nhờ tôi đóng một vai cô gái VN mặc áo dài. Tôi do dự vì bất ngờ, nhưng chị nói dễ lằm, chỉ việc mặt áo dài lên sân khấu cười chào khán giả xoay một vòng rồi xong đi vô. Tôi ừ à gật đầu.

Hôm ấy, tôi lo qúa. Phải có áo dài thật là nổi mới đẹp, chị căn dặn thế . Mình chỉ toàn áo dài màu nhạt (làm việc ở trường các Bà Mẹ, đâu dám ăn mặc sặc sỡ), vậy là lo đi mượn áo. May có bạn cho mượn đỡ tấm áo màu mận chín bằng tơ lụa óng ả. Làm tóc phồng lên như tổ ong bò vẽ. Ra sân khấu, thấy phía dưới lố nhố đầy người, ớn lạnh. Tôi xoay một vòng không kịp cúi đầu chào ai cả, quên mĩm cười duyên như lời chỉ dẫn, đi vô liền . Núp trong cánh gà nghe tiếng vỗ tay, một chị nói « Ê, bồ đi ra một lần nữa đi » . Tôi lắc đầu thôi kỳ lắm .

Sau đó, một cô bạn khán giả phê bình « Tui thấy bạn xinh lắm nghe, nhưng sao mà gấp gáp qúa để cho người ta ngắm chứ ». Chẳng lẻ bạn mình lại chê mình xấu sao. Đó là một việc làm đóng góp có thiện chí của tôi . Chứ tôi chưa hề khi nào có dịp bộc lộ cái thiện chí tiềm tàng trong người. Tiếc thay !

Tôi tiếc thời tuổi trẻ mình đã không thực hiện được những điều tốt đẹp như các bạn khác. Vì thế, qúa khứ, kỷ niệm tôi chỉ toàn là chuyện vớ vẫn, chẳng đâu vào đâu, không có chi đại sự. Tháng hè là tháng tôi thích thú nhất, lợi dụng nữ học xá Viện trống chỗ, bạn bè rủ tôi vào trong đó ở chuyện trò cho vui. Có mấy chị học chờ thi khóa 2. Tôi ghi tên học thêm anh văn do một giáo sư Mỹ dạy trong tháng hè. Nhưng đi học bữa đực bữa cái. Mỗi lần đến lớp, ông Mỹ cứ bắt tôi tập đọc đầu tiên. Ông ấy nhớ tên tôi khá rõ, cho nên bữa nào vắng mặt cúp cua là ổng biết liền .

Một hôm, thấy tờ thông cáo dán trên văn phòng Viện, có tên tôi trong danh sách gặp Cha Viện Trưởng. Sợ qúa, nghĩ bụng mình đâu có mượn tiền Cha hồi nào đâu . Vì có bạn đóan mượn tiền Cha lâu qúa kỳ hạn không chịu trả . Tôi chỉ nhớ có lần đi pinic dịp hè, tụi tôi vào xin Cha cho tiền thêm để nấu nồi chè ăn cho ấm bụng. Cha vui vẻ cho ngay . Tôi không hề mượn riêng bao giờ. Tuy biết Cha Viện Trưởng là người thân thiết với gia đình bên ngoại, nhưng tôi thường tránh né Cha, vì mang mặc cảm của một học trò lười biếng sợ gặp thầy giáo cô giáo.

Đứng lấp ló sau cửa, Cha kêu vào trách cứ « Này con, Cha thuê giáo sư Mỹ dạy anh văn theo yêu cầu các con, vậy mà sao không chiụ đi học hành cho tử tế đều đặn ? » Tôi cúi đầu lí nhí nhận lỗi . Nhưng trong bụng tự biện hộ (không dám nói ra) : Buổi sớm trời còn hơi sương lạnh, nằm trong chăn ấm áp qúa, dậy sớm đi học không nổi. Vả lại, tối nào con Bích Đào cũng kể chuyện tiếu lâm cười chảy nước mắt nước mủi đến nửa đêm . Mà đâu phải chỉ mình nó, hết đứa này đến đứa khác thay phiên kể. Bích Đào là đứa kể tiếu lâm hay nhứt đám ( nghe nói đã tự tử chết sau chuyến vượt biên thất bại. Hình như gia đình này có huông tự tử . Cách đây mấy năm bà chị ruột là Bích H. ở Paris cũng đã tự vận. Trước khi tự vận, chị Bích H. than thở với tôi đủ chuyện, nhất là nỗi cô đơn, dù chị khá giàu nhà cao cửa rộng con cái thành đạt. Đối diện với cô đơn là một bất hạnh dẫn đến thảm kịch. Từ bất hạnh cô đơn đau khổ, dẫn đến sự phản kháng tận cùng bằng cái chết cho chính mình.)

Sau khi bị Cha rầy la, tôi gắng dậy sớm đi học anh văn, một thời gian ngắn là tựu trường. Tôi phải trở lại Couvent des Oiseaux. Hết hưởng được không khí sinh viên vui nhộn, bắt đầu đi đứng nghiêm trang trong những hành làng luôn có đề bảng « Silence ». Bây giờ, tuổi đời xế bóng, tôi thích đi học hơn bao giờ hết. Cái gì cũng muốn biết muốn học hỏi thêm. Tôi cắp sách đi học anh văn hằng tuần. Học hăng hái, học hăng say. Cũng như ngày xưa với ông giáo sư Mỹ, cô giáo Anh nay cũng luôn miệng gọi tôi đọc trước tiên, có lẻ vì tôi là bà học sinh người Việt duy nhất trong lớp học. Vừa học vừa nhớ chuyện ngày xưa, lòng ăn năn nếu xưa mình chăm học như nay, thì Cha Viện Trưởng vui mừng biết bao nhiêu. Cha bỏ tiền thuê giáo sư Mỹ dạy mà con bỏ học hoài ! Sau mỗi năm học, tôi đều được lên lớp, không biết nhờ may mắn hay nhờ mình cố gắng học hành. Cái môn toán kinh tế hay toán kinh thương tôi đại dốt . Trong thời gian học năm thứ 3, ngành « Quản Trị Học », tôi đi lấy chồng bỏ ngang chuyện học hành. Khi thưa chuyện lấy chồng với bà Dì nữ tu, tưởng bà mừng cho tôi có nơi có chốn tử tế, ai ngờ bà thất vọng, vì nghĩ rằng thế nào tôi cũng theo chân bà vô Nhà Dòng này !

Trời ơi, tui làm sao mà tu cho nổi.

Cũng vì nghĩ , con gái mười hai bến nước, thấy bến nào nước trong và mát mẻ thì ghé bến tấp thuyền cho xong . Chàng lúc bấy giờ nổi tiếng Đàlạt với môn dạy Toán, hào hoa phong nhã . Ông Thầy Chử Bá Anh giới thiệu trong thời gian tôi dạy ở Văn Học đường Hoàng Diệu. Thấy chàng ít nói nghiêm trang, tui chịu. Nhưng không biết chàng có chịu mình không . Cô bạn gái dặn dò , nè mi coi chừng nghe, coi chừng bị gài số de đó, nghe nói ông này đào hoa. Nghe vậy tui sợ qúa, mình chẳng hương sắc gì, bèn thưa với chàng phải xin bố mẹ dưới Sàigòn cưới hỏi đàng hoàng thì tui mới dám cho tiếp tục đón đưa. Lại thêm điều kiện vào thời gian học thi thì không được vào trường hỏi han chi cả. Tui sẽ không tiếp, dù chàng có đứng dưới gốc đào mỏi mắt đợi chờ .

Thấy tính tui coi bộ cứng rắn (giả bộ thôi), chàng y lời trình thưa với gia đình. Vậy là lễ hỏi lễ cưới. Tui quên bẵng chuyện học hành. Đến khi nghe bạn bè nói thấy tên tui trên danh sách gặp ông khoa trưởng Trần Long, mới hoảng vía, mới nhớ tới chuyện mình bỏ học nửa chừng. Bị thầy Trần Long hỏi nguyên nhân nào mà bỏ học ngang như vậy. Tui thưa thật « Dạ, em bỏ học vì… lấy chồng ». Trước kia trốn học Anh văn vì tội ham nghe chuyện tiếu lâm, nay bỏ học vì ham lấy chồng. Hai cái tội danh này khó mà tha thứ được. Nhưng Thầy khoa trưởng nhẹ nhàng khuyên bảo, chị nên cố gắng tiếp tục cho xong .

Thế là tôi cố gắng học nốt cho xong theo lời Thầy dặn. Ôm con và dẫn theo một ôsin xuống Sàigòn vào năm cuối. Và cuối cùng, tui cũng có được mảnh bằng ra trường như ai. Qua Tây, trong lúc sắp xếp lại giấy tờ cũ, hai tờ giấy mà tôi qúy nhất, đó là chứng chỉ tốt nghiệp môn Qủan Trị Học có chữ ký của thầy khoa trưởng Trần Long . Tờ kia là giấy chứng nhận phép Bí Tích Rửa Tội có chữ ký của Cha Nguyễn Văn Lập . Hai tờ giấy màu vàng uá thời gian làm tôi thẫn thờ ngẩn ngơ. Bao thời gian qua đi . Chỉ là hai mảnh giấy, nhưng lại chứa đựng bao nhiêu kỷ niệm thân yêu đời mình. Hai tờ giấy này đã tạo nên con người tôi hôm nay có phải chăng ?

Mặc dù sau khi học xong tôi không đi làm để thực hành môn QTH, nhưng cũng ít nhiều thực hiện cách quản trị một gia đình , giữ vững được mái chèo gia đình trong sóng gió sau 75. Tôi cho rằng đó là lợi ích thiết thực nhất. Còn giấy chứng nhận Rửa Tội của cha Viện Trưởng thì sao ? Giấy này thực sự là món qùa vô giá đối với tôi hiện giờ, một món qùa thuộc về Tâm Linh . Sau bao nhiêu biến động, bây giờ tôi nghĩ rằng đời sống tâm linh thật là quan trọng hơn cả. Không có gì hạnh phúc tuyệt vời khi có nội tâm bình an và tự tại. Nhận biết mình bất toàn, nhỏ bé, xin chịu nhận mọi điều thua thiệt là biết an trú ở hiện tại này. Giọng nói Quảng Trị hiền từ của Cha Viện Trưởng như còn văng vẳng đâu đây. Nhận dịp về VN thăm gia đình vào tháng 12/2011, tôi đi thăm mộ Cụ Ngoại ở nghĩa trang Bình Triệu, sau đó đem hoa huệ và nhang đến thắp trên mộ của Đức Ông Simon Nguyễn Văn Lập. Vừa khấn vừa xin Cha tha mọi tội lỗi, trong đó có cái tội trốn học, bỏ học. Trong mấy chục ngàn đứa học trò sinh viên, không biết Cha còn nhớ con không ? Con ở xa về đây, khấn nguyện xin Cha cho được ơn lành. Bên Pháp, hội Thụ Nhân đang làm lễ trang trọng vào ngày Giỗ Cha, có diễn văn diễn từ ca ngợi công đức của Cha. Có đàn ca hát xướng nhã nhạc vang lừng. Nơi này, chỉ có một mình Cha với con thôi. Trước sự ra đi về miền miên viễn, trước cái chết, mọi chuyện đời chẳng còn có nghĩa gì cả. Thôi hết thù hết hận, thôi hết tranh chấp nhau. Thôi hết danh hết lợi, hết tất cả… chỉ còn lại là một tiếng Than ôi !

Bên cạnh mộ Đức Ông Simon Nguyễn Văn Lập (hình chụp tháng 12/2011, Bình Triệu) Gió chiều thổi qua những hàng mộ chí, nén nhang trước mộ Cha gió tạt qua một bên . Bao giờ gió nghĩa trang cũng lạnh.

Tôi nhớ thầy Vương Văn Bắc, mất cách đây vào ngày 20 tháng 6/2011 vừa qua, tôi sẽ đến thăm Thầy khi trở về Pháp, để tạ tội với thầy, để thưa với Thầy điều mà tôi muốn nói, nhưng chưa nói được. Nhưng giờ đây không còn gì ngăn cách giữa người sống và kẻ chết, Thầy cũng hiểu hết mọi điều. Tôi luôn nhớ câu Thầy hỏi « Sao dạo này cô dt có chuyện gì không, mà it khi gặp cô ». Còn lại Cô H. sống một mình, nhưng luôn có học trò Trưng Vương đầy tình nghĩa thăm viếng.

Sau đó, tôi lên đi Nha Trang và lên Đàlạt theo tour du lịch. Đến thăm vườn hoa Thành Phố, thật chẳng có gì đáng xem đáng trầm trồ. Toàn là hoa mồng gà đỏ hoa vạn thọ hoa cúc, một hành lang hoa phong lan, nhưng không mấy rực rỡ. Chỉ có lan Vanda là qúy, vì bên Tây hoa này khó trồng. Tôi định bụng thuê taxi ghé vô « Viện » gần bên, chỉ cách một ngọn đồi, nhưng lại thôi. Cảnh cũ người mới, không còn gì không còn chi thích thú nữa. Từ hôm lên Đàlạt, đêm thao thức ngày ngơ ngẩn, sống mà hồn đâu đâu, như kẻ mộng du . Lạc hồn lạc vía.

Tôi không dám ghé vào ngôi trường ấy. Hãy để nó hiện y nguyên như ngày xưa, như trong tưởng nhớ của mình. Nó sẽ đẹp vô vàn trong ký ức. Ôi Đàlạt thân yêu của mình. Qua hôm sau, tôi bỏ đòan du lịch, thuê taxi đi về ngôi nhà cũ phía sau trường Yersin. Thật xúc động làm sao, ngôi nhà vẫn màu sơn ấy, vẫn còn garage để xe, nhưng chiếc xe hơi màu xanh không có. Tôi nghe chừng như có tiếng nô đùa của các con tôi chạy nhảy trong sân, rồi chợt tỉnh khi thấy mấy con bê con đang gặm cỏ non trong vườn thỉnh thoảng é ọ. Nếu không … thì giờ đây gia đình chúng tôi ở nơi này êm đềm biết bao, vợ chồng con cái cùng nhau vui vầy. Nhà tôi lúc ấy mua đất đai dự tính xây trường học, mảnh đất ở trên đồi gần hotel « Sans Souci » trước kia, nhìn xuống Hồ Xuân Hương, nay đã thấy một dinh thự mới xây cất. Tài sản tương lai sự nghiệp đã bỏ lại nơi này tất cả. Sau đó là số không. Tôi nhờ anh tài xế chạy về phía trường Couvent des Oiseaux. Tôi từ từ đi vào cỗng trường, trường bây giờ trở thành trường nội trú cho các học sinh « Dân Tộc ». Trước kia dành cho các nữ sinh xinh đẹp của giới qúy tộc , nay dành cho giới người Thượng, người Rừng, người Rú. Trường vắng tanh, không bóng người. Nhìn về dãy phòng tôi ở trước kia tầng thứ hai, Nó vẫn còn. Cây đào phía trước cửa sổ vẫn còn. Chiếc xe hơi màu xanh mà chàng thường vào đón tôi ngày chủ nhật không có nữa. Nó chạy đi đâu mất rồi . Tất cả những kỷ niệm đốt cháy tâm can tôi. Qúa khứ cũng cháy luôn hết, bị huỷ diệt hết, thì còn lại gì đây ? Phải chăng còn nỗi đau trên đống tro tàn tang thương ! Tôi vội vàng trở ra xe, không dám vào bên trong trường xưa. Tim tôi đập liên hồi như cảm ứng với nỗi u hoài « cảnh đấy người đây luống đoạn trường ». ĐàLạt đông phố xá, đông nhà cửa hơn xưa, nhưng với tôi trống không đến lạ lùng. Miền đất này chôn cất biết bao điều của đờì sống tôi, từ thuở sinh viên đến khi lấy chồng tạo dựng mái ấm gia đình, mãi cho tới ngày di tản về Sàigòn . Các bạn biết không, đến mãi bây giờ trong nhiều đêm, trong giấc ngủ tôi mơ thấy mình thuê xe Lam ba bánh lên Viện học cho xong năm cuối. Thấy mình luôn đến lớp trễ, chạy nhanh vào giãng đường Spellman cho kịp, nhưng bên trong không bóng người, không còn một ai. Không có Thầy không có học trò, chỉ có mình tôi lạc lõng và sợ hãi, tự hỏi nơi này là nơi đâu ? Cái cảm giác lạc lỏng cứ chập chờn làm tôi thảng thốt tỉnh giấc. Té ta mình không còn là cô sinh viên dạo nào, mình nay đã già, hơn nữa đời người rồi còn gì. Sao ta cứ vọng hoài về một nơi chốn cũ ?

Bây giờ bên cạnh bàn viết, một chậu lan Cattleya đang nở hai chùm hoa màu vàng, tỏa hương nhẹ nhàng như thầm nhủ rằng « Dù sao, vẫn còn những giấc mơ cho mình được thương được nhớ một Đàlạt trong tâm tưởng ».

Paris tiết Lập Xuân 2012

Về đầu trang







   

Powered by SmugMug Log In