Văn - Khiếu Thắng - VAN-HOC DALAT

Văn  Khiếu Thắng

KT

Hồi Tưởng Về Văn-Học

Khiếu Thắng

Trong dòng thời gian nhiều kỷ niệm về Dalat, nơi có mái trường Văn Học thân yêu, bạn bè thương mến.

Tôi sinh ra tại Dalat. Nội tôi vào Lycee năm 1940. Thời Bà Nguyễn Thị Hậu làm Thị Trưởng, tôi vào Văn Học tháng 6, 1967, học 3 tháng hè rồi vào lớp 7/b1. Nhà ở 10 Nguyễn Thượng Hiền.

Ấn tương đầu tiên về một ngôi trường nhỏ che tôn, ấm cúng nằm lưng đồi. Vào lớp, điều ngac nhiên có 4 anh chị em học chung: Nhất Anh dịu dàng, Nhị Anh lanh lẹ trực tính, Tam Anh ít nói, Tứ Anh mắt to, tóc thắt hai bím. Khi lớp có đội banh đá ở đồi Quan Thuế, biết được nhiều bạn hơn như:

- Nguyễn Viết Thới thủ môn, tóc giống Hàn Quốc, nhà ở đối diện đường

sau trường, trong khu tập thể nhân viên nhà thương Phương Lan;

- Hùng già, răng dài khít, cẳng khẳng khiu, hậu vệ, đội nón gia đình Phật tử, đá banh giỏi;

- Nguyễn Viết Vũ, Nhị Anh, tôi và một số bạn khác.

Nhóm bạn gái vài lần lên tham gia chơi rượt bắt cứu tù. Một lần tôi bắt được một bạn, sợ chạy thoát, đập hơi mạnh vào lưng 3 cái, bạn ứa nước mắt suýt khóc.

Đôi khi ham đá banh vào trễ giờ học, cả đám xếp hàng một nép bên cửa chờ thầy cho vào, có lúc bị cóc đầu, nhẹ thôi.

Nhớ lần văn nghệ tại trường, Trần Hoàng Giang là model nhất lớp, tóc tém, uốn cong vào cổ, mặc váy, hát bài Em Ơi Chiều Nay 100%. Bài đó thịnh hành lúc đó Mai Lệ Huyền và Hùng Cường hát.

Văn nghệ lớp nhớ có Phạm Minh Tuấn hát bài Đắc Kỷ Trụ Vương kể chuyện chồn tinh Đắc Kỷ bị bịnh, đòi ăn tim trung thần Tể Tướng Tỷ Can. Tuấn hơi cao có râu quai nón, nhà ở 21 Thi Sách, sau nhà có chuồng gà rất lớn, có lối đi tắt lên nhà thương hơn trăm tam cấp bằng những hòn đá chẻ dài. Đây là trạm dừng chân của tôi mà Tuấn không biết.

(Khi trường Tiểu Học Đa Nghĩa còn hoạt động, em của Trần Trọng

Trung có thời gian làm ông Cai ở trường này.) Nhớ nhiều đến Văn Nghệ hàng tháng của trường Văn Học, thường tổ chức ở rạp Ngọc Lan. Có lần nghe một cô giáo nào đó ca bài Biển Nhớ Biển xưa gì đó. Sau đó cô mất vì trúng gió. Tự nhiên tôi thấy buồn, lớn lên, tìm bài hát đó học thuộc, khi có con, hát ru con bài này với bài Hoa Trinh Nữ (thịnh hành 1968). Mãi tới năm 2013, tôi mới biết tên cô là Vàng Thị Tiễng, người vợ quá cố dấu yêu của thầy Trần Đại Bản. Nhớ về thầy Hiệu Trưởng, với tôi thầy yêu thương và gần gũi. Thầy cho tôi kéo cờ (chào cờ) đầu và cuối tuần. Lúc đó hãnh diện lắm. Sau tất niên lớp 7/b1 thầy chở các con thầy và tôi đi xuống lưng đèo Prenn thăm nhà ông Nội Nhị Anh (Cụ Chử Ngọc Liễn). Thầy đi xe số NBU 246, sau đổi xe GA 6751.

Thầy còn cho phép tôi được dự tất niên đãi các thầy cô giáo ở 30 Nguyễn Du. Trong tiệc còn có một con heo quay to đùng. Rất bất ngờ, được nghe Nhất Anh năm ấy 14 tuổi khảy đờn tranh, hát bài Nắng Thủy Tinh, Mây Hồng. Nhớ lại lời bố tôi nói về thầy CBA: “Dù để lại của cải cho con cái thì còn có khi hết, nhưng kiến thức thì sẽ còn mãi.” Điều này nghiệm lại đúng như sau năm 1975.

Ngoài việc mời cho được các thầy cô giỏi dạy Hán, Nhạc, Anh, Pháp, Nhật, thầy còn lo trong giờ giải lao có chút bánh, trái thức uống, để các thầy cô thêm vui.

Một hôm, tôi tình cờ khám phá, khi chạy vào kiếm Nhị Anh, là phòng ngủ Nhất+Tứ,Nhị+Tam, ngay sau Văn Phòng trường Văn Học.

Nhớ thầy dạy nhạc Vũ Thành An, khi ấy chưa nổi tiếng với các bản nhạc Bài Không Tên,vào lớp với dáng lãng tử, bận quân phục với Field Jacket không ngồi bàn thầy giáo, mà ngồi trên bàn đầu học sinh, xòe tay ra từ từ co vào để học sinh tập lấy hơi, rồi gõ thanh nhạc chuẩn cho chúng tôi phát âm theo Do Re. .. tập đánh nhịp 1, 2, 2,3…

Sau còn có thầy Lê Uyên Phương dạy nhạc. Học Việt Văn thì nhớ bắt đầu với Lục Súc Tranh Công, Nhị Thập Tứ Hiếu:

“Thầy Tử Lộ vốn người nước Lỗ / Thờ mẫu thân thường bửa canh khuya / Thường khi đội gạo đi về / Xa xôi trăm dặm nặng nề đôi vai...” Từ bé chúng ta đã được dạy hiếu đạo.

Thầy Trần Bất trong bộ áo vest, tóc chải mượt từ trước ra sau, đi qua lại trên bục, bình giảng Nhị Đồ Mai, tuyệt vời.

Học Hán Văn không thể quên bài Đề Tích Sở Kiến Xứ:


Khứ niên kim nhật thử môn trung / Nhân diện đào hoa tương anh hồng
/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ / Đào hoa y cựu tiếu đông phong.”

Đúng tôi có tâm trạng như vậy khi về thăm Đalat. Tôi còn nhớ vài câu

“Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.”

Cũng không thể quên những câu của Thanh Tịnh:

“Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc. Lòng tôi lại nao nức những bâng khuâng của buổi tựu trường.”

Bồi hồi nhớ lại những lúc mua vở viết tại hiệu sách Nhật Tân, trước A Ba Toa

Nhớ thầy Vĩnh dạy Vạn Vật, tóc chải mượt ra sau,với hàng râu mép, đi xe Suzuki M12 đỏ có kính chắn gió, nhà ở trước trường tiểu học Đa Nghĩa. Thầy kêu tôi lên hỏi bài, thấy cổ áo hở, thầy sửa và gài lại. Thầy vui nhưng cũng rất nóng tính.

Vì bố tôi chuyển xuống Nha Trang làm việc, tôi rời Dalat vào tháng 5.1970 nhằm lúc nhà trường sắp có đợt lạc quyên, như thấy trong hình chụp lưu tại mái ấm VHĐL web site.

Tháng 12.1973, sau khi đi lính, tôi có đến thăm thầy cô CBA tại 30 Nguyễn Du. Khi về, cô lấy áo mưa đưa cho tôi. Dù cử chỉ nhỏ ấy, tôi luôn nhớ về cô và thầy Vĩnh.

Trong số lớn tuổi, bên nam có Kim Long, Từ Xuân Huê, bên nữ là chị Hai Nguyễn văn Sáng Marie. Nhóm chăm học có nhiều bạn, giỏi hơn cả có Nhất Nhị Tam Tứ, Trần Ngọc Tuấn, Bùi Thanh, Phạm Minh Cường, Kim Anh.

Quậy nhất lớp không ai qua Trần Đức Lộc (Lộc Lửa), nhà ở trong đinh Hoàng Diệu, đối diện nhà Kim Thành, đã chắc sẵn sàng chơi tay đôi? Sau biến cố 1975, dòng đời đưa đẩy ngược xuôi, bạn bè tứ tán bốn phương trời, có chăng nghĩ và đến với nhau qua tình bạn, ước mong có ngày gặp mặt đông đủ...

Thời gian này tôi không thể về Dalat vì là Phó Thường Dân Nam Bộ -- không nhà, không nghề nghiệp ổn định, không giấy tờ vì bỏ vùng kinh tế mới, muốn mua vé xe phải có giấy tờ, xếp hàng theo ưu tiên:
-Thương binh hoặc gia đình của Liệt sĩ
- Quân nhân, cán bộ đi công tác, phép
- Sinh viên, học sinh nhập học
- Nhân dân bị bệnh…

Là nhân dân phải có giấy tùy thân. Tôi chẳng có gì cả... Khoảng năm 2002, cuôc họp mặt đầu tiên của tôi tại khách Sạn Lam Sơn (cách trường VH 50 mét,tại ngã ba Hoàng Diệu, Hai Bà Trưng, Hải Thượng). Hơn 32 năm mới gặp lại từ 1970, một thứ tình cảm buồn vui thương lẫn lộn. Vui là được gặp nhau hàn huyên tâm sự, mới ngày nào còn bé, đứa nào nhìn cũng thấy dễ thương, hồn nhiên, nghịch ngợm, nay tóc bạc, răng rụng, có người lên chức ông, bà. Thương vì còn một số bạn quá khổ, buồn vì vài bạn ra đi vĩnh viễn.

Mỗi lần lên họp mặt tại Tân Huê Đô Hoàng Diệu (mới), gặp thêm một số bạn, mất đi một vài người... Các thầy mau già và yếu đi nhất là thầy Nguyên, lần đầu sau bao năm mới gặp, chỉ nói tên thầy nhớ tôi liền. Cuộc họp măt gần đây nhất của tôi là khi HMS về họp, tình cờ gặp được Nguyễn Viết Thới, bao năm tìm mà không gặp.

Một vài người bạn, tôi cố tìm nhưng không gặp hoặc khó gặp như Lê Thị Ngọ (đã mất), Lê Thị Dậu, nhiều lần đi qua nhà 16 Phan Đình Phùng sau đồi 22, đổi nữa. Có ghé chỗ Dậu bán ở cửa hàng nhà nước nơ rạp Ngọc Lan nhìn xuống nhưng không gặp, nay ở Đức.

Luôn cám ơn những bạn, luôn là nhịp cầu nối các bạn lại với nhau, thông tin, họp nhóm hay tổ chức hội ngộ, như Phạm Minh Cường, Bùi Thanh, Đỗ Thị Thu, Kim Long, Nhất Nhị Anh, HMS...

Luôn cố gắng sống thật xứng đáng để một ngày kia gặp nhau không hổ thẹn

Powered by SmugMug Log In