Văn - Phạm Quý Huyến - VAN-HOC DALAT

Văn  Phạm Qúy Huyến

Phạm Quý Huyến

Người Hùng Pleiku

Phạm Quý Huyến

Nhớ lại ngày xưa thưở còn học Văn Học Đà-lạt. Ngôi trường nằm trên ngọn đồi đường Hoàng Diệu. Năm lớp 11B, chúng tôi học trong căn phòng bên hông trái của trường. Trong lớp học, nữ sinh ngồi phía bên phải, nam sinh ngồi bên trái đối diện với bảng viết. Trong lớp học, ai cũng hiền lành và dễ mến. Ngồi cạnh tôi là LNT và NNT. Bên phải, nữ sinh ngồi đầu bàn có HMS ngồi cạnh LXY.

Trong số những bạn cùng lớp tôi còn nhớ, thân nhất với LNT mà sau này có biệt danh “Người hùng Pleiku”. LNT có má lúm đồng tiền, duyên dáng, dễ thân thiện.

NNT là người có biệt tài nhớ từng địa danh địa-lý Việt Nam và những chiến công hào hùng của quân lực VNCH. HMS thì ít nói, hớt tóc ngắn, thường mặc áo dài và áo len một màu, học rất giỏi, hiền lành như ma soeur vì thế mà có biệt danh là “HMS”. LXY tóc dài, thường mặc áo dài xanh bleu, ngây thơ, hồn nhiên, giống như tài tử Hồng Kông.

LNT thường kể về đời sống của mình, và thường lắng nghe những lời tâm sự của tôi. Cả hai đứa đều xa nhà và ở cách xa nhau không là bao. LNT ở trọ trong một căn nhà trên đồi Hải Thượng. Vào cuối tuần, tôi thường đến thăm bạn những lúc LNT không về thăm nhà.

Chỗ LNT ở trọ nhìn về phía bên đồi là những rừng thông xanh rợp bóng mát. Hai đứa thường leo đi tìm những hoa thông khô héo. Có những lúc nổi hứng vào buổi sáng, lội bộ đi vào các quán ven đường gần trường trung học Việt Anh. Ngồi uống cà phê, thưởng thức những chiếc bánh croissant thơm dòn trong cái lạnh của buổi sáng sương mù. Cũng có khi lúc trưa trưa chúng tôi đi ra phố, dạo chung quanh khu Hoà Bình rồi ghé vào tiệm Vĩnh Chấn mua bánh mì baguette vừa mới ra lò nóng hổi. Hai đứa vừa thổi vừa ăn vừa xuýt xoa “sao mà ngon thế!”

Ấm bụng rồi, hai đứa đi đến nhà sách Khai Trí. Xem sách báo một lúc, xong lại đi. Có những buổi trưa trời đẹp, hai đứa đi lên đồi Cù, ngồi nhìn ngắm bao quát bờ hồ Xuân Hương thật là mơ mộng và hữu tình. LNT nói: “ Uớc gì có hai cô bạn gái đi chung thì vui biết mấy!” Có những lần đi bộ ở cuối bờ hồ Xuân Hương rồi băng ngang qua đồi Cù. Đến lúc mỏi chân, hai đứa dừng lại, rồi nằm xuống thảm cỏ xanh nghe thông reo vi vút trước gió. Sau đó, tản bộ lên ngôi trường Đại-học Đà-lạt, ngắm nhìn những giàn bông giấy trước cổng trường. Sau đó, băng qua Giáo Hoàng Học Viện để lên trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. LNT đã nói với tôi rằng: “ Con gái trường này đều biết võ. Lơ tơ mơ là sún răng đấy bạn!”

Có những ngày mưa phùn, đi tản bộ dưới những hạt mưa se lạnh. Hai đứa đi vào quán cà phê để tránh mưa. Ngồi nhâm nhi ly cà phê, nghe nhạc du dương dưới ánh đèn mờ ảo, và thả hồn vào những giấc mộng tương lai.

Đà-lạt, những ngày mưa không dứt, những hạt mưa giăng kín cả đồi thông. Ngồi trên gác trọ nhìn những hạt mưa rơi lăn tăn trên con đường Hải Thượng. Hai đứa ngao ngán nhìn trời, mong cho cơn mưa mau dứt để tiếp tục cuộc hành trình khám phá những nẻo đường Đà-lạt…

Khi xa Đà-lạt để trở về sống với gia đình tại Sài gòn. Tôi có cho LNT điạ chỉ để nếu có dịp mời bạn ghé chơi. Lúc này, chiến tranh leo thang. Những thanh niên nào đến tuổi mà không đủ tiêu chuẩn hoãn dịch, thì đều phải nhập ngũ theo lệnh tổng động viên. Thế là Thật đi học khóa sĩ quan Thủ Đức. Khi mãn khoá, LNT đóng ở Pleiku. Đó là một thành phố cao nguyên giống như Đà-lạt. Nhưng Pleiku còn là một thành phố chiến tranh với những người lính chiến của đủ mọi binh chủng. Một thành phố địa đầu giới tuyến. Vậy mà nhạc sĩ Phạm Duy đã đặt vương miện cho thành phố này qua tài phổ thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” của nhà thơ Vũ Hữu Định.

Chúng tôi vẫn thư từ qua lại. Tôi đã viết nhiều lá thư thật dài kể cuộc sống ở Sàigòn vì biết rằng bạn mình đang ở rừng sâu, và niềm vui lớn nhất là đọc những bức thư dài của bạn. LNT có kể cho tôi về thành phố này với những “em Pleiku má đỏ môi hồng”. Thành phố nhỏ thật buồn, nắng thì bụi đỏ, và mưa thì lội đất đỏ mà đi, gió lạnh và mưa nhiều, đi năm phút đã về chốn cũ… y như nhà thơ đã tả.

LNT đóng trại ở núi rừng cao nguyên và phải đối diện với cái chết từng giây từng phút. Có những người lính xa gia đình, vừa mới trình diện hôm qua, ngày hôm sau đã phải hy sinh ngoài mặt trận. Chiến tranh là vậy đó, đối diện với cái chết quá gần. Trách nhiệm của LNT là truy lùng địch và bảo vệ thành phố Pleiku, giữ vững địa đầu. LNT đã từ trung đội trưởng, rồi phó đại đội trưởng, và cuối cùng là đại đội trưởng một đại đội Trinh Sát nổi danh của thành phố Pleiku. Với những chiến công hiển hách vang dội khắp thành phố Pleiku, để rồi biệt danh “Người Hùng Pleiku” đã có từ đó.

Bẵng đi một thời gian mất liên lạc, không thấy tin tức gì của LNT, và lúc này chiến tranh đang lan rộng. Trên những nhật báo ở Sàigòn, mục Phân Ưu và Cáo Phó đăng đầy ắp với những người lính vừa mới hy sinh ở mặt trận, và những địa danh rất xa lạ với những người sống trong thành phố Sàigòn. Vừa đọc vừa thấy ngậm ngùi xót thương cho những người thanh niên trẻ chưa hưởng được gì cuộc sống thần tiên của tuổi trẻ mà mất đi quá sớm.

Thế rồi một hôm tôi đang ngồi ở nhà, Người Hùng Pleiku xuất hiện bất ngờ. LNT đến tìm tôi trong bộ quân phục của sĩ quan VNCH vì được nghỉ phép sau những chiến thắng lẫy lừng. Chúng tôi lại có dịp được đi chơi chung với nhau. LNT lúc bấy giờ không còn là chú bé ngây thơ nữa mà đã trưởng thành hơn, hoạt bát hơn, và thường đăm chiêu hơn. LNT nhờ tôi chở đến nhà thăm một cô bạn gái. Tôi còn nhớ đi vào một xóm nhỏ, ngoằn ngoèo như bàn cờ, và lối đi chỉ vừa đủ cho chiếc xe Honda. Rồi tôi chở LNT đi quanh Sàigòn, thăm những nơi mà có lần tôi đã kể cho LNT nghe về đời sống Sàigòn thế nào. Những con đường đẹp, có cây cao bóng mát, những ngôi trường nổi tiếng tại Sàigòn.

Chúng tôi cũng không quên ghé lại những quán ven đường Bà Huyện Thanh Quan gần Chùa Xá Lợi và nữ trung học Gia Long để thưởng thức những món Bò Bía và Đậu Đỏ Bánh Lọt nổi tiếng ở thành phố này. Tôi cũng không quên chở LNT đi quanh Sàigòn về đêm. Sau bao nhiêu năm tháng đóng trại trong rừng sâu, được nghỉ phép về thăm Sàigòn, thấy cuộc sống khác lạ, khuôn mặt Người Hùng Pleiku thật là rạng rỡ và rất là vui.

Đêm tối dần… Lúc này Sài gòn bắt đầu giờ giới nghiêm, và hàng quán thưa dần về đêm. Trên đ ường về, chúng tôi bị cảnh sát xét hỏi. Sau khi xem xét giấy tờ thì họ cho đi dễ dàng vì biết rằng người chiến sĩ được nghỉ phép sau những chiến công vẻ vang. Suốt đêm đó, chúng tôi không ngủ được. Hai đứa nằm kể bao chuyện vui buồn, hoặc từng khuôn mặt bạn bè mà hai đứa đều biết. Nghe ban kể về cuộc sống chiến trường mà thương cho bạn mình. Rồi ngày phép đã qua, và LNT phải trở về lại đơn vị. Đó là lần cuối gặp LNT vì chúng tôi mất liên lạc từ đó. Đã bao lần tôi suy nghĩ và lo lắng không biết bạn mình sống chết ra sao, và đang ở phương trời nào. Rồi một hôm, nhận được email của HMS báo tin có ông bạn LNT đang tìm kiếm tôi thì tôi mới biết bạn ta vẫn còn sống.

Tháng 3 năm 75, thành phố Pleiku thất thủ. Đại đội của Người Hùng Pleiku gồm khoảng 150 người đã hy sinh gần hết. Chỉ còn lại trên dưới 30 người. Nhóm tàn quân đã phải băng rừng lội suối để về   đến được Sàigòn, thì lại nhận đơn vị mới ở Long An cho đến ngày 30 tháng 4. Tháng 6/75, Người Hùng Pleiku đi học tập cải tạo, tưởng chừng một tháng thì trở về, nào ngờ bị tù đày trong những trại tù khác nhau cho đến cuối năm 78 mới được thả. Tuy nhi ên, vì một số lý do, Người Hùng Pleiku đã lỡ cơ hội đi H.O.

Người Hùng Pleiku đã giã từ vũ khí để cầm cuốc canh tác trên cánh đồng một mẫu, trồng hoa màu, và chăn nuôi trên quê hương VN.

Người Hùng Pleiku thân mến,

Sau hơn bốn mươi năm, tôi vẫn nhớ ông bạn má lúm đồng tiền, những ngày hai đứa mình có dịp đi chơi với nhau ở tuổi học trò. Nhớ lại thật vui! Những kỷ niệm đó tôi vẫn tiếc nuối khôn nguôi và ước gì được sống lại những giây phút đó.

Sau ngày 30 tháng 4, cả hai chúng ta đều nếm mùi đau thương giống nhau. Khác chăng chỉ là tôi đang sống ở xứ sở có tự do. Tuy bạn vất vả hơn, nhưng tôi mong rằng thời gian sẽ thay đổi, và đất nước mình sẽ tốt đẹp hơn.

Hy vọng sẽ gặp lại bạn tại Đà-lạt một ngày gần đây để cùng nhắc lại những kỷ niệm của thời áo trắng.

Về đầu trang



Nhớ Về Thầy Nguyễn Minh Diễm

Phạm Quý Huyến

Nhận được tin qua email của người “giữ lửa” VHDL. HMS thông báo Thầy Nguyễn Minh Diễm vừa từ giã cõi đời. Mình nhớ lại những kỷ niệm thời trung học với những giờ Việt Văn tại hai trường trung học ở Sàigòn và Đà-lạt.

Mình có dịp học qua thi sĩ Bàng Bá Lân, một nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ về quê hương Việt Nam mến yêu tại Sài gòn. Thầy Bàng Bá Lân với vóc dáng nhỏ thó, gầy gò. Thầy vào lớp là ngồi lên bàn giảng, rồi gọi học sinh lên trả bài. Thầy ít khi đứng trên bục giảng và cầm phấn viết. Vào giờ này, học sinh thường hồi hộp đợi tên mình lên trả bài, mà nếu không thuộc thì nhận trứng vịt trong sổ điểm. Mình cũng thường lãnh đủ hai trứng vịt vì quá run, quên hết bài vở khi đứng trả bài bên cạnh thầy.

Trái lại thầy Nguyễn Minh Diễm người to con, khoẻ mạnh, đẹp trai, lịch lãm, và rất hiền hậu. Thầy không bao giờ nặng lời hoặc ngược đãi học sinh. Thầy Diễm tóc bồng bềnh như một thi sĩ, giọng Bắc rõ ràng Hà Nội.

Hai hình ảnh trái ngược của hai ông thầy dạy Việt Văn mà sau hơn 40 năm, mình vẫn còn nhớ rất rõ.

Nhớ có một lần, thầy Nguyễn Minh Diễm ra đề một bài luận, định nghĩa về hai chữ Anh Hùng. Mình đã làm bài luận này với lời phê bình tốt. Điều này tạo hứng khởi cho mình rất nhiều vào những giờ học Việt Văn sau này.

Anh là loại cỏ quý nhất trong muôn loại cỏ

Hùng là loại thú mạnh nhất trong muôn loại thú Anh Hùng là kẻ hơn người, danh lưu muôn thuở

Sau này khi nghe đến hai chữ Anh Hùng thì mình lại nhớ đến Thầy Nguyễn Minh Diễm, ngôi trường Văn Học Đà lạt với những người bạn mà mình còn nhớ tên: Huyền Ma Soeur, Lương Thị Xuân Yến, Lâm Ngọc Thật, Nguyễn Ngọc Tình. Và mình cũng nhớ đến những ngày sống ở Đà-lạt, thành phố buồn, mù sương với những kỷ niệm khó quên.

Viết đôi dòng này để nhớ tới Thầy Nguyễn Minh Diễm, vị thầy khả kính, có ấn tượng cho mình rất nhiều.


Xin chia buồn đến gia đình Thầy Diễm

Về đầu trang


Powered by SmugMug Log In