Văn - Phạm Thị Bích Thủy - VAN-HOC DALAT

Văn  Phạm Thị Bích Thủy

Phạm Thị Bích Thủy

Đức Hy Sinh Và Lòng Chung Thủy

Phạm Thị Bích Thủy

Buổi chiều ra khỏi sở tôi như bị cuốn theo làn sóng người trong nhà ga xe lửa. Tiếng cười nói huyên thuyên, tiếng đàn ca của những nghệ-sĩ vỉa hè hòa lẫn mùi nước hoa, thuốc lá, thức ăn ... làm giác quan tôi gần như bị tắc nghẽn.

Tôi nhanh chân bước vào toa xe lửa đang chờ sẵn, thoáng thấy một người đàn ông Việt Nam tôi quen, ông Kiên, đang ngồi lặng lẽ ở hàng ghế cuối cùng. Hôm nào gặp ông tôi cũng thấy ông ngồi chỗ này gần như bất di bất dịch.

Lẽ ra tôi tìm chổ ngồi gần người đồng hương này để trò chuyện trong thời gian cùng đi một đoạn đường tàu, nhưng tôi lại kín đáo nhón gót tìm một chỗ ngồi xa khuất, vì thấy ông như đắm chìm vào thế giới xa xăm nào, với nét mặt buồn bã đăm chiêu, vài sợi tóc bạc lòa-xoà trên trán. Lòng tôi chùng xuống, không muốn quấy rầy thế-giới thầm kín riêng tư của người đồng hương, mà theo tôi biết, cuộc đời phải chịu nhiều bẽ bàng trên đất khách…

Tháng tư 1975, nhà nước cs VN bắt đầu ào ạt mở rộng chiến-dịch đánh tư sản mại bản: tịch thu nhà đất dinh thự, ruộng vườn, cơ sở làm ăn, tài sản tôn giáo... và nhiều lần đột-ngột mở chiến dịch đổi tiền. Chỉ vỏn vẹn có một đêm sáng hôm sau người dân miền Nam gần như còn hai bàn tay trắng...

Tiếng oán than thấu tận đất trời…

Cùng chung số phận với hàng triệu người bất hạnh, gia đình ông Kiên gần như kiệt-quệ, trong nỗi tuyệt vọng và niềm đau khổ vô biên, ông quyết-định liều chết bỏ nước ra đi.

Một đầu người 10 cây vàng, lên Taxi 3 cây vàng (từ ghe nhỏ chở đến tàu đang đợi ngoài khơi Vũng Tàu), với điều-kiện người ra đi không được mang theo bất cứ tài-sản nào.

Sau khi vay mượn khắp nơi, gia đình ông Kiên bước lên chiếc tàu Huê Phong tháng 12 1978 và cập bến Hồng-Kông sau 5 ngày thuận buồm xuôi gió.

Tháng ba 1979 gia đình ông Kiên có tên trong danh sách những người Việt được tỵ nạn tại Cộng-Hoà Liên Bang Đức, chính quyền và nhân dân Đức đã mở rộng tấm lòng từ ái để đón tiếp những người Việt Nam liều chết vượt biển ra đi tìm Tự Do. Vợ chồng ông Kiên cứ ngỡ như một lần nữa đựơc hồi sinh … trong niềm hạnh phúc vô biên và tấm lòng tri ân đất nước đã cưu mang gia đình mình, nên đã siêng năng, cần mẫn và vô cùng lạc quan để làm lại cuộc đời.

Ông Kiên được cơ quan xã-hội tìm cho một việc làm ở trong Kantine (Canteen) của một hãng lớn trong tỉnh, bà Kiên người vợ hiền hòa chân chất đảm đang ở nhà chăm lo cho chồng và đàn con bốn đứa. Hạnh phúc bình-dị của gia đình này tưởng chừng như là mãi mãi...

Một buổi sáng bà Kiên thức dậy thấy vô cùng khác lạ trong người, bà hàng xóm tốt bụng người Đức vội vàng đưa bà đi bác sĩ. Sau khi khám, bác sĩ cho biết bà cần phải được soi bao tử để tìm ra nguyên do căn bịnh. Ngày hẹn đã đến bà được Bác Sĩ chích vào máu chất Kontrastmittel để soi ruột, sau đó bà mê man không tỉnh dậy. Một tuần hai tuần, rồi một tháng hai tháng trôi qua...bà đã thật sự đi vào cơn mê (Koma, tiefer Schlaf).

Ông Kiên vô cùng đau đớn truớc bịnh tình của vợ, cả cộng đồng người Việt đều bàng hoàng, thương xót cho bà Kiên. Mọi người xúm lại an ủi, thăm nom ông Kiên và thay nhau giúp đỡ ông, cũng như chăm sóc đàn con nhỏ. Một tháng sau bà Kiên được chuyển đến một bịnh viên chuyên môn chữa trị về Koma (coma), cách nhà khoảng 100 Km. Trong nghịch cảnh đau đớn, bất ngờ này ông Kiên bị đẩy vào hoàn cảnh gà trống nuôi con, hình dáng ông ngày một tiều tụy, xuống sắc và ông lặng lẽ hơn bao giờ hết. Vừa đi làm, vừa nấu nướng chăm sóc cho đàn con dại 4 đứa và mỗi cuối tuần phải đi xa thăm viếng vợ.

Thời gian này tình đồng hương, tình nhân loại được thể hiện trọn vẹn ý nghĩa cao đẹp nhất.

Ông Brinkmaler, một nhân viên xã hội thương tình mỗi cuối tuần đều chở ông Kiên đi thăm vợ.

Bác Sĩ khuyên ông:

- Sự thăm viếng và chuyện trò của ông cùng các con là một liều thuốc hiệu quả, nhiệm mầu nhất để giúp bà Kiên sớm hồi sinh. Nghe theo lời bác sĩ mỗi lần ông Kiên đến thăm bà ở bịnh viện đều tâm sự, kể lể nỗi niềm nhớ thương vô biên và nỗi vất vả của ông trong cuộc sống hàng ngày khi vắng bóng người vợ thương yêu, ông miên man kể lể với niềm hy vọng bà Kiên sẽ thức tỉnh sau giấc ngủ dài và trở về đoàn tụ với ông cùng đàn con dại . Xuân qua, hạ đến, thu tàn, đông sang. Thắm thoát mà bà Kiên đã nằm trong Koma hơn 5 năm dài, nhưng tấm lòng thủy chung của ông Kiên vẫn không hề phai nhạt.

Ông vẫn thương yêu, kiên nhẫn đi thăm viếng bà, vẫn ngồi bên bà kể lể những nổi niềm cô đơn quạnh vắng qua dòng nước mắt và vẫn làm tròn bổn phận gà trống nuôi con… Có những lúc đêm về khi các con ông đã đi ngủ, ngồi một mình trước bức ảnh vợ, ông Kiên nói chuyện lẩm bẩm một mình trong đêm khuya thanh vắng, ông tin tưởng rằng với tình yêu tuyệt đối của ông qua thần giao cách cảm, vợ ông ở xa xôi cảm nhận được và những dòng máu đỏ sẽ luân lưu bình thường trở lại trong cơ thể để giúp bà hồi sinh, ông đã miên man kể lể trong nỗi niềm xúc động cho đến khi mệt mỏi và ngủ thiếp đi lúc nào không biết…

Một ngày cuối hạ chúng tôi bàng hoàng được tin động trời là ông Kiên sắp ra toà xin ly-dị để lấy vợ khác. Lúc này thì những ý-kiến thuận, nghịch, khen, chê tha hồ được bàn tán trong thành phố chúng tôi đang cư ngụ ... Ngày giờ ra tòa được giấu kỹ, nhưng không hiểu tại sao cả xóm người Việt Tỵ- Nạn đều biết, biết rõ ràng chi-tiết, biết rành mạch khúc nôi... Ngày phiên tòa ấn định không hẹn mà gặp, có rất đông đồng hương Việt Nam đều bỏ công ăn việc làm để đến dự thính...

- Một phiên toà hy hữu trong tỉnh nhà. Hôm ấy ông Kiên vẫn lặng lẽ như bao giờ, nhưng đôi mắt thì thâm quầng hơn, chắc vì những đêm dài thao thức, chúng tôi ai nấy cũng xúc động trong hồn và hồi hộp nhìn ông như gởi gấm một tấm lòng thông cảm. Khi vị chánh án đọc bản tóm tắt tên tuổi, đời sống, nguyên nhân đi đến việc ly- dị, đôi mắt ông Kiên bắt đầu đỏ hoe. Người thông dịch viên đứng tuổi dịch rõ ràng và mạch lạc.

Cuối cùng vị chánh án hỏi Ông một lần chót:

- Ông Trần, ông đã suy nghĩ chính chắn chưa, có phải ông thật sự muốn ly-dị vợ hay không?

Khi nghe đến câu hỏi này bất chợt ông Kiên oà lên khóc nức nở, tiếng khóc của ông vang dội trong căn phòng yên lặng của toà án, mọi người hiện diện đều im lặng trong nỗi bàng hoàng thương xót, ông vẫn ôm mặt khóc vừa kể lễ và người thông dịch viên vẫn dịch và chúng tôi kể cả vị chánh án vẫn chăm chú lắng nghe … Tức khắc, ông Kiên chỉ tay về phía người chuyên viên xã hội và trả lời qua tiếng nấc:

- Ông Brinkmaler xui tôi ly-dị vợ, và giới-thiệu tôi, để cưới vợ khác… Cả phòng đều ồ lên, trong một thoáng suy nghĩ, vị chánh án đưa mắt nhìn người nhân-viên xã-hội nghiêm-khắc hỏi:

- Ông Brinkmaler, xin ông xác-nhận lời nói của ông Kiên và ông cho tôi biết tại sao???

Ông Brinkmaler với đôi mắt đỏ hoe, lúng-túng trong nỗi nigh-ngào trả lời:

- Không ai hiểu tôi bằng ông Kiên. Quý-vị có biết tôi cũng khổ biết dường nào hay không? Khi mỗi cuối tuần tôi lái xe đưa ông Kiên đi thăm vợ, vì tôi thương và cảm-động trước hoàn cảnh trái ngang của ông ấy ... tôi , tôi phải ngồi hàng giờ bên cạnh nghe và nhìn ông ấy tâm-sự với vợ trong tiếng khóc, tuy tôi không hiểu hết, nhưng tôi cảm nhận được nổi đớn đau trong lòng của người đàn ông Việt Nam này, nếu là người Đức chúng tôi, thì chắc sự việc này không xảy ra như ngày hôm nay. Tôi thấy mỗi ngày ông Trần càng tiều tụy hơn, các con ông thì còn qúa nhỏ dại, ông Trần cần có một người đàn bà chia xẻ với ông trong cuộc sống trên quê hương mới, đầy-dẫy xa lạ này.

Tại sao mình không suy nghĩ thực-tế, tại sao không suy nghĩ về tương lai bốn đứa con ông Trần ... Tại sao??? . Cho đến hôm nay 5 năm đã trôi qua ông Trần có giải quyết vấn đề này được không? Qúy vị có biết những lúc ông ấy đau ốm cũng tôi đưa ông ấy đi bác sĩ, tôi phải đi chợ và nấu cho cả gia đình ông ấy ăn… tôi rất vui và hạnh phúc khi làm việc đó, nhưng hơn 5 năm qua bà Trần vẫn không bình phục. Xin tất cả hiểu 6 cho tấm lòng tôi... ” Sau phiên toà hy hữu đó thì cuộc đời ông Kiên vẫn không thay đổi và vẫn làm thân gà trống nuôi con như ngày nào ... Duyên tụ nhân sinh, duyên sinh nhân biến, duyên biến nhân diệt… Vài tháng sau thì bà Kiên thật sự từ-giã cha con ông Kiên lặng-lẽ ra đi.. Ngày tang lễ của bà Kiên có rất đông bạn bè thân quen tham dự, tuy không nói ra nhưng chắc tất cả đều nghĩ trong lòng : “Như Thế Còn Hơn …….”

Riêng người chuyên-viên xã-hội giàu lòng từ ái, ông Brinkmann thì sau đó cũng giã-từ chúng tôi ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, qua một căn bịnh thời-đại. Trong tấm lòng tri-ân, lẫn kính phục xóm tỵ-nạn chúng tôi buồn hiu hắt, như đã mất một người thân thương trong gia dình... “Cứ ngỡ sum vầy nơi đất khách, Nào ngờ ly-biệt cõi trăm năm Người đi thổn thức lòng son sắt Kẻ ở năm canh lạnh chỗ nằm”! (NVT) Thương bầy con dại, nhớ người vợ hiền, nên từ đó ông Kiên tự nguyện làm chiếc lá úa, đơn độc giữa dòng đời thăng trầm xuôi ngược. Con ông tìm được chổ học hành, việc làm ở đâu, ông dọn theo đến đó, ông thuê một căn phòng nho nhỏ sống một mình, để được gần cạnh con, mỗi ngày ông lụm cụm thương yêu chăm chút nấu cho con những món ăn tươm tất ngon lành, giặt ủi cho con từng manh quần tấm áo, lo lắng, săn sóc cho con khi ốm đau, an ủi con khi chúng vấp ngã trên đường đời vạn nẻo... Niềm hạnh phúc vô vàn và duy nhất của cuộc đời ông Kiên trên xứ người là buổi chiều mấy cha con quây quần bên mâm cơm bốc khói vừa ăn cơm vừa nói chuyện trong tình cha con thương yêu đầm ấm và nhắc nhở đến bà mẹ hiền, người vợ đảm đang... Nhưng những chú gà con mồ côi mẹ năm xưa gìờ này đã đủ lông đủ cánh, thích bay nhảy với cuộc đời đầy quyến rũ, nên ông Kiên thường ôm hình vợ trong tay, chờ đợi con về, bên mâm cơm, trong căn nhà hiu quạnh mà đôi lúc tưởng chừng như mình mòn mỏi sắp hóa đá.

Ngày tháng qua đi... Từ ngày ông Kiên xa rời chốn cũ chúng tôi không còn gặp gỡ Ông thường xuyên nữa. Thỉnh thoảng ông mới quay về thăm lại nơi cất giữ kỹ niệm một quãng đời sum vầy êm ấm. Ông Kiên ra đi đã để lại cho chúng tôi một mảnh trăng rằm vằng-vặc trong sáng, đó là:

"Đức Hy Sinh và Lòng Thủy Chung Cao Qúy".

Powered by SmugMug Log In