Văn - Phạm Thị Bích Thủy - VAN-HOC DALAT

Văn  Phạm Thị Bích Thủy

Phạm Thị Bích Thủy
Bấm vào các link dưới đây

1. Đức Hy Sinh Và Lòng Chung Thuỷ
2. Tưởng Niệm Cô Vi Khuê

Thơ

Đức Hy Sinh Và Lòng Chung Thủy

Phạm Thị Bích Thủy


Buổi chiều ra khỏi sở tôi như bị cuốn theo làn sóng người trong nhà ga xe lửa. Tiếng cười nói huyên thuyên, tiếng đàn ca của những nghệ-sĩ vỉa hè hòa lẫn mùi nước hoa, thuốc lá, thức ăn ... làm giác quan tôi gần như bị tắc nghẽn.

Tôi nhanh chân bước vào toa xe lửa đang chờ sẵn, thoáng thấy một người đàn ông Việt Nam tôi quen, ông Kiên, đang ngồi lặng lẽ ở hàng ghế cuối cùng. Hôm nào gặp ông tôi cũng thấy ông ngồi chỗ này gần như bất di bất dịch.

Lẽ ra tôi tìm chổ ngồi gần người đồng hương này để trò chuyện trong thời gian cùng đi một đoạn đường tàu, nhưng tôi lại kín đáo nhón gót tìm một chỗ ngồi xa khuất, vì thấy ông như đắm chìm vào thế giới xa xăm nào, với nét mặt buồn bã đăm chiêu, vài sợi tóc bạc lòa-xoà trên trán. Lòng tôi chùng xuống, không muốn quấy rầy thế-giới thầm kín riêng tư của người đồng hương, mà theo tôi biết, cuộc đời phải chịu nhiều bẽ bàng trên đất khách…

Tháng tư 1975, nhà nước cs VN bắt đầu ào ạt mở rộng chiến-dịch đánh tư sản mại bản: tịch thu nhà đất dinh thự, ruộng vườn, cơ sở làm ăn, tài sản tôn giáo... và nhiều lần đột-ngột mở chiến dịch đổi tiền. Chỉ vỏn vẹn có một đêm sáng hôm sau người dân miền Nam gần như còn hai bàn tay trắng...

Tiếng oán than thấu tận đất trời…

Cùng chung số phận với hàng triệu người bất hạnh, gia đình ông Kiên gần như kiệt-quệ, trong nỗi tuyệt vọng và niềm đau khổ vô biên, ông quyết-định liều chết bỏ nước ra đi.

Một đầu người 10 cây vàng, lên Taxi 3 cây vàng (từ ghe nhỏ chở đến tàu đang đợi ngoài khơi Vũng Tàu), với điều-kiện người ra đi không được mang theo bất cứ tài-sản nào.

Sau khi vay mượn khắp nơi, gia đình ông Kiên bước lên chiếc tàu Huê Phong tháng 12 1978 và cập bến Hồng-Kông sau 5 ngày thuận buồm xuôi gió.

Tháng ba 1979 gia đình ông Kiên có tên trong danh sách những người Việt được tỵ nạn tại Cộng-Hoà Liên Bang Đức, chính quyền và nhân dân Đức đã mở rộng tấm lòng từ ái để đón tiếp những người Việt Nam liều chết vượt biển ra đi tìm Tự Do. Vợ chồng ông Kiên cứ ngỡ như một lần nữa đựơc hồi sinh … trong niềm hạnh phúc vô biên và tấm lòng tri ân đất nước đã cưu mang gia đình mình, nên đã siêng năng, cần mẫn và vô cùng lạc quan để làm lại cuộc đời.

Ông Kiên được cơ quan xã-hội tìm cho một việc làm ở trong Kantine (Canteen) của một hãng lớn trong tỉnh, bà Kiên người vợ hiền hòa chân chất đảm đang ở nhà chăm lo cho chồng và đàn con bốn đứa. Hạnh phúc bình-dị của gia đình này tưởng chừng như là mãi mãi...

Một buổi sáng bà Kiên thức dậy thấy vô cùng khác lạ trong người, bà hàng xóm tốt bụng người Đức vội vàng đưa bà đi bác sĩ. Sau khi khám, bác sĩ cho biết bà cần phải được soi bao tử để tìm ra nguyên do căn bịnh. Ngày hẹn đã đến bà được Bác Sĩ chích vào máu chất Kontrastmittel để soi ruột, sau đó bà mê man không tỉnh dậy. Một tuần hai tuần, rồi một tháng hai tháng trôi qua...bà đã thật sự đi vào cơn mê (Koma, tiefer Schlaf).

Ông Kiên vô cùng đau đớn truớc bịnh tình của vợ, cả cộng đồng người Việt đều bàng hoàng, thương xót cho bà Kiên. Mọi người xúm lại an ủi, thăm nom ông Kiên và thay nhau giúp đỡ ông, cũng như chăm sóc đàn con nhỏ. Một tháng sau bà Kiên được chuyển đến một bịnh viên chuyên môn chữa trị về Koma (coma), cách nhà khoảng 100 Km. Trong nghịch cảnh đau đớn, bất ngờ này ông Kiên bị đẩy vào hoàn cảnh gà trống nuôi con, hình dáng ông ngày một tiều tụy, xuống sắc và ông lặng lẽ hơn bao giờ hết. Vừa đi làm, vừa nấu nướng chăm sóc cho đàn con dại 4 đứa và mỗi cuối tuần phải đi xa thăm viếng vợ.

Thời gian này tình đồng hương, tình nhân loại được thể hiện trọn vẹn ý nghĩa cao đẹp nhất.

Ông Brinkmaler, một nhân viên xã hội thương tình mỗi cuối tuần đều chở ông Kiên đi thăm vợ.

Bác Sĩ khuyên ông:

- Sự thăm viếng và chuyện trò của ông cùng các con là một liều thuốc hiệu quả, nhiệm mầu nhất để giúp bà Kiên sớm hồi sinh. Nghe theo lời bác sĩ mỗi lần ông Kiên đến thăm bà ở bịnh viện đều tâm sự, kể lể nỗi niềm nhớ thương vô biên và nỗi vất vả của ông trong cuộc sống hàng ngày khi vắng bóng người vợ thương yêu, ông miên man kể lể với niềm hy vọng bà Kiên sẽ thức tỉnh sau giấc ngủ dài và trở về đoàn tụ với ông cùng đàn con dại . Xuân qua, hạ đến, thu tàn, đông sang. Thắm thoát mà bà Kiên đã nằm trong Koma hơn 5 năm dài, nhưng tấm lòng thủy chung của ông Kiên vẫn không hề phai nhạt.

Ông vẫn thương yêu, kiên nhẫn đi thăm viếng bà, vẫn ngồi bên bà kể lể những nổi niềm cô đơn quạnh vắng qua dòng nước mắt và vẫn làm tròn bổn phận gà trống nuôi con… Có những lúc đêm về khi các con ông đã đi ngủ, ngồi một mình trước bức ảnh vợ, ông Kiên nói chuyện lẩm bẩm một mình trong đêm khuya thanh vắng, ông tin tưởng rằng với tình yêu tuyệt đối của ông qua thần giao cách cảm, vợ ông ở xa xôi cảm nhận được và những dòng máu đỏ sẽ luân lưu bình thường trở lại trong cơ thể để giúp bà hồi sinh, ông đã miên man kể lể trong nỗi niềm xúc động cho đến khi mệt mỏi và ngủ thiếp đi lúc nào không biết…

Một ngày cuối hạ chúng tôi bàng hoàng được tin động trời là ông Kiên sắp ra toà xin ly-dị để lấy vợ khác. Lúc này thì những ý-kiến thuận, nghịch, khen, chê tha hồ được bàn tán trong thành phố chúng tôi đang cư ngụ ... Ngày giờ ra tòa được giấu kỹ, nhưng không hiểu tại sao cả xóm người Việt Tỵ- Nạn đều biết, biết rõ ràng chi-tiết, biết rành mạch khúc nôi... Ngày phiên tòa ấn định không hẹn mà gặp, có rất đông đồng hương Việt Nam đều bỏ công ăn việc làm để đến dự thính...

- Một phiên toà hy hữu trong tỉnh nhà. Hôm ấy ông Kiên vẫn lặng lẽ như bao giờ, nhưng đôi mắt thì thâm quầng hơn, chắc vì những đêm dài thao thức, chúng tôi ai nấy cũng xúc động trong hồn và hồi hộp nhìn ông như gởi gấm một tấm lòng thông cảm. Khi vị chánh án đọc bản tóm tắt tên tuổi, đời sống, nguyên nhân đi đến việc ly- dị, đôi mắt ông Kiên bắt đầu đỏ hoe. Người thông dịch viên đứng tuổi dịch rõ ràng và mạch lạc.

Cuối cùng vị chánh án hỏi Ông một lần chót:

- Ông Trần, ông đã suy nghĩ chính chắn chưa, có phải ông thật sự muốn ly-dị vợ hay không?

Khi nghe đến câu hỏi này bất chợt ông Kiên oà lên khóc nức nở, tiếng khóc của ông vang dội trong căn phòng yên lặng của toà án, mọi người hiện diện đều im lặng trong nỗi bàng hoàng thương xót, ông vẫn ôm mặt khóc vừa kể lễ và người thông dịch viên vẫn dịch và chúng tôi kể cả vị chánh án vẫn chăm chú lắng nghe … Tức khắc, ông Kiên chỉ tay về phía người chuyên viên xã hội và trả lời qua tiếng nấc:

- Ông Brinkmaler xui tôi ly-dị vợ, và giới-thiệu tôi, để cưới vợ khác… Cả phòng đều ồ lên, trong một thoáng suy nghĩ, vị chánh án đưa mắt nhìn người nhân-viên xã-hội nghiêm-khắc hỏi:

- Ông Brinkmaler, xin ông xác-nhận lời nói của ông Kiên và ông cho tôi biết tại sao???

Ông Brinkmaler với đôi mắt đỏ hoe, lúng-túng trong nỗi nigh-ngào trả lời:

- Không ai hiểu tôi bằng ông Kiên. Quý-vị có biết tôi cũng khổ biết dường nào hay không? Khi mỗi cuối tuần tôi lái xe đưa ông Kiên đi thăm vợ, vì tôi thương và cảm-động trước hoàn cảnh trái ngang của ông ấy ... tôi , tôi phải ngồi hàng giờ bên cạnh nghe và nhìn ông ấy tâm-sự với vợ trong tiếng khóc, tuy tôi không hiểu hết, nhưng tôi cảm nhận được nổi đớn đau trong lòng của người đàn ông Việt Nam này, nếu là người Đức chúng tôi, thì chắc sự việc này không xảy ra như ngày hôm nay. Tôi thấy mỗi ngày ông Trần càng tiều tụy hơn, các con ông thì còn qúa nhỏ dại, ông Trần cần có một người đàn bà chia xẻ với ông trong cuộc sống trên quê hương mới, đầy-dẫy xa lạ này.

Tại sao mình không suy nghĩ thực-tế, tại sao không suy nghĩ về tương lai bốn đứa con ông Trần ... Tại sao??? . Cho đến hôm nay 5 năm đã trôi qua ông Trần có giải quyết vấn đề này được không? Qúy vị có biết những lúc ông ấy đau ốm cũng tôi đưa ông ấy đi bác sĩ, tôi phải đi chợ và nấu cho cả gia đình ông ấy ăn… tôi rất vui và hạnh phúc khi làm việc đó, nhưng hơn 5 năm qua bà Trần vẫn không bình phục. Xin tất cả hiểu 6 cho tấm lòng tôi... ” Sau phiên toà hy hữu đó thì cuộc đời ông Kiên vẫn không thay đổi và vẫn làm thân gà trống nuôi con như ngày nào ... Duyên tụ nhân sinh, duyên sinh nhân biến, duyên biến nhân diệt… Vài tháng sau thì bà Kiên thật sự từ-giã cha con ông Kiên lặng-lẽ ra đi.. Ngày tang lễ của bà Kiên có rất đông bạn bè thân quen tham dự, tuy không nói ra nhưng chắc tất cả đều nghĩ trong lòng : “Như Thế Còn Hơn …….”

Riêng người chuyên-viên xã-hội giàu lòng từ ái, ông Brinkmann thì sau đó cũng giã-từ chúng tôi ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, qua một căn bịnh thời-đại. Trong tấm lòng tri-ân, lẫn kính phục xóm tỵ-nạn chúng tôi buồn hiu hắt, như đã mất một người thân thương trong gia dình... “Cứ ngỡ sum vầy nơi đất khách, Nào ngờ ly-biệt cõi trăm năm Người đi thổn thức lòng son sắt Kẻ ở năm canh lạnh chỗ nằm”! (NVT) Thương bầy con dại, nhớ người vợ hiền, nên từ đó ông Kiên tự nguyện làm chiếc lá úa, đơn độc giữa dòng đời thăng trầm xuôi ngược. Con ông tìm được chổ học hành, việc làm ở đâu, ông dọn theo đến đó, ông thuê một căn phòng nho nhỏ sống một mình, để được gần cạnh con, mỗi ngày ông lụm cụm thương yêu chăm chút nấu cho con những món ăn tươm tất ngon lành, giặt ủi cho con từng manh quần tấm áo, lo lắng, săn sóc cho con khi ốm đau, an ủi con khi chúng vấp ngã trên đường đời vạn nẻo... Niềm hạnh phúc vô vàn và duy nhất của cuộc đời ông Kiên trên xứ người là buổi chiều mấy cha con quây quần bên mâm cơm bốc khói vừa ăn cơm vừa nói chuyện trong tình cha con thương yêu đầm ấm và nhắc nhở đến bà mẹ hiền, người vợ đảm đang... Nhưng những chú gà con mồ côi mẹ năm xưa gìờ này đã đủ lông đủ cánh, thích bay nhảy với cuộc đời đầy quyến rũ, nên ông Kiên thường ôm hình vợ trong tay, chờ đợi con về, bên mâm cơm, trong căn nhà hiu quạnh mà đôi lúc tưởng chừng như mình mòn mỏi sắp hóa đá.

Ngày tháng qua đi... Từ ngày ông Kiên xa rời chốn cũ chúng tôi không còn gặp gỡ Ông thường xuyên nữa. Thỉnh thoảng ông mới quay về thăm lại nơi cất giữ kỹ niệm một quãng đời sum vầy êm ấm. Ông Kiên ra đi đã để lại cho chúng tôi một mảnh trăng rằm vằng-vặc trong sáng, đó là:

"Đức Hy Sinh và Lòng Thủy Chung Cao Qúy".

Về đầu trang


Tưởng Niệm Cô Vi Khuê

Hiệu Trưởng Trường Trung Học Tư Thục Đệ Nhị Cấp Văn Khoa Dalat

Phạm Thị Bích Thủy


Khi tôi viết những dòng chữ này thì Cô Vi Khuê đã về an trú dưới chân Đức Phật A Di Đà.

Thời gian trước khi Cô ra đi, như có một linh cảm nào đó làm tôi nghĩ đến Cô nhiều hơn bao giờ hết. Tôi nhớ về những kỷ niệm thật đẹp của ngày xưa, khi mình còn là học sinh trường Hiếu Học, Văn Học Đà Lạt; rồi miên man với những lời giáo huấn của Thầy Cô năm nào...Tôi hứa với lòng mình, tháng tư sang năm sẽ hẹn em Bích Đào đi thăm Cô Vi Khuê, khi mùa Hoa Anh Đào rộ nở tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Nhưng dự tính của tôi không thành nữa, khi nhận được tin từ Huyền Ma Soeur, cô nữ sinh phụ trách trang nhà Văn Học: "Cô Hiệu Trưởng Vi Khuê Trần Trinh Thuận đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 25.09.2018 tại Virginia, hưởng thọ 88 tuổi."

Vẫn biết rằng có sinh có tử, có hợp có tan, đó là lẽ vô thường của tạo hóa, nhưng mà sao lòng tôi vẫn thấy xúc động, xót xa.

Như một khúc phim từ dĩ vãng hiện về, tôi hồi tưởng lại nhân duyên là học trò của Thầy Chử Bá Anh và Cô Vi Khuê những ngày tháng cũ...

Tôi được sinh ra trong một gia đình đông con, thuở nhỏ cha mẹ tôi phải đầu tắt mặt tối mới nuôi được đàn con dại. Tuổi thơ của chị em chúng tôi trải qua muôn ngàn khó khăn, nhưng chúng tôi biết yêu thương, đùm bọc nhau và luôn nhớ lời ba tôi thường căn dặn: "Giấy rách phải giữ lấy lề."

Ba tôi không được diễm phúc như người đời thường hay ví von:

"Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành. "

Trong chiến tranh, ông bà Nội mất sớm, ba tôi phải bỏ học, lưu lạc khắp nơi tự lập thân. Định mệnh đã đưa đẩy ba trôi dạt vào Huế, gặp mẹ tôi, một thiếu nữ xuất thân từ một gia đình trung lưu nề nếp. Mẹ thương Ba, chàng thanh niên xứ Quảng đơn độc nghèo nàn, cần cù chất phác nên kết duyên chồng vợ. Thuở đó xứ Huế với nhiều thành kiến hẹp hòi, khắt khe, phân chia giai cấp, đã làm bao nhiêu cuộc tình phải đau khổ trái ngang. Một ngày cuối thu, không chịu nổi đời sống tinh thần ngột ngạt ấy, ba tôi quyết định dắt díu vợ con lên Đà Lạt gầy dựng lại cuộc đời với nghề tài xế lái xe vận tải. Mẹ thương chồng, thương con nên đành phải cắn răng rời bỏ cuộc sống nệm ấm, chăn êm miền quê ngoại...

Tại Đà Lạt, gia đình chúng tôi thuê một căn nhà gỗ nhỏ xíu trên đường Trần Bình Trọng, sát cạnh khu rừng nở đầy hoa sim tím. Mỗi đêm khi những cơn gió lạnh buốt chen vào khe gỗ, chị em chúng tôi phải nằm ôm chặt lấy nhau để sưởi ấm suốt đêm dài. Những đêm khuya canh vắng, trong tiếng thở dài của mẹ cha, nước mắt tôi âm thầm đẫm ướt khi nhớ về nơi chôn nhau cắt rún: nhớ hàng chè tàu xanh mướt, vương vương những sợi tơ vàng lấp lánh; nhớ giọng hò Nam Ai não nuột trên dòng Hương Giang; nhớ ông bà ngoại, các cậu, các dì.

Rồi thì, khi đời sống đã tạm ổn định, mẹ dắt tôi đi tìm trường học.

Mẹ con tôi tới trường Trường Trí Đức, rồi trường Việt Anh, hai trường có lớp học và sân chơi rộng rãi nhưng không biết tại sao tôi đều lắc đầu từ chối. Chợt có chú bán cà rem đứng bên đường chỉ: "O ơi. ở đường Hai Bà Trưng có một trường học. "

Mẹ con tôi tìm tới đó.

Ngôi trường nho nhỏ có hai tầng, sân chơi thì hạn hẹp. Đối diện trường là một ngọn đồi thoai thoải, có những loài hoa dại đủ màu nghiêng mình bên cạnh những cây thông già đang vi vu trước gió. Bên trái của trường là một mảnh vườn rộng trồng bắp sú, chen lẫn vài hàng cây Mimosa có những nụ hoa vàng óng ả. Thoang thoảng đâu đó mùi thơm của hoa đồng cỏ nội...

Tôi như bị lôi cuốn trước vẻ đẹp mộc mạc của thiên nhiên và khi nhìn lên tên trường "Hiếu Học", nỗi xúc động dâng trào trong lòng, tôi nói như reo:
"Mạ ơi, con muốn học trường này, con sẽ là học sinh hiếu học."
Mẹ xoa đầu tôi, mỉm cười mãn nguyện.

Thế là tôi trở thành học sinh trường Hiếu Học do Thầy Chử Bá Anh làm hiệu trưởng.

Ngày đầu tiên Thầy gọi tôi vào văn phòng, dặn dò về những nội quy của trường. Thầy nói giọng Bắc vi vu, tôi không hiểu hết, chỉ biết gật đầu vâng dạ.

Vài tháng sau Mẹ đến đóng học phí, tình cờ mẹ gặp lại một người đẹp mà mẹ vẫn hằng thương mến và ái mộ: Cô Trần Trinh Thuận, Nữ Xướng Ngôn Viên đài Phát Thanh Huế.

Thuở ấy phương tiện giải trí hay thông tin duy nhất chỉ có đài phát thanh, nhà ai dù nghèo cũng phải ráng mua một cái Radio làm của. Mỗi ngày tiếng nói dịu dàng, thánh thót của Cô Trinh Thuận vang lên khắp nơi từ thành thị cho đến thôn quê. Tiếng nói nhỏ nhẹ của Cô chính là niềm vui tinh thần cho dân Huế, từ giới bình dân cho đến giai cấp thượng lưu trí thức.

Mẹ tôi kể lại rằng, thời đó giọng nói và khuôn mặt khả ái của Cô đã làm xao xuyến không biết bao nhiêu chàng trai xứ Huế, nhưng cuối cùng, trái tim của Cô chỉ dành gửi gấm cho một chàng trai Bắc thông minh, siêng năng và chung thủy, Thầy Chử Bá Anh.

Theo thời gian, tình cảm thầy trò chúng tôi càng thêm gắn bó, cô hay khuyến khích và hỏi thăm tôi về việc học hành, thỉnh thoảng tôi xuống nhà dưới thăm Cô, để được nghe Cô đọc những vần thơ mà cô sáng tác.

Mùa hè năm 1963, cô Vi Khuê báo tin sẽ ra Nha Trang thi Tú Tài 1, tôi nghe mà lòng khâm phục vô cùng, khi nghĩ rằng một người phụ nữ nhỏ bé như cô phải gánh vác trên vai bao nhiêu là trách nhiệm:
- công chức Ty Thông Tin Đà Lạt;
- chăm sóc đàn con nhỏ bốn đứa;
- phụ với chồng, Thầy Hiệu Trưởng, điều hành những công việc của trường;
- dạy thế giờ Pháp Văn hay Việt Văn khi có thầy cô ốm đau;
- nhân viên Đài Phát Thanh Đà Lạt;
- phụng dưỡng mẹ già và đàn em ở quê nhà.

Với trách nhiệm nặng nề như thế, không hiểu sức mạnh nào đã giúp cô chu toàn bổn phận, mà lại còn có chí vươn lên học hành. Có phải chăng trái tim của Cô quá bao la nên đã không từ chối một điều gì, dù đó là gian nan hay an lạc của cuộc đời?

Những ngày Cô đi thi, lòng tôi vô cùng hồi hộp, cứ cầu mong cho cô thi đậu để không uổng công đèn sách.

Khoảng hai tuần sau cô báo tin: Cô đã thi đậu Tú Tài 1 hạng cao. Trên khuôn mặt khả ái của Cô, rạng rỡ niềm vui. Cô kể chuyện kỳ thi ở Nha Trang có thầy Trương Văn Hoàn và Thầy Nguyễn Văn Thành làm Thư ký Hội Đồng Giám Khảo. Ngồi bên cạnh cô là những anh Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa bạc màu áo trận. Trước khi vào thi, các anh ôn cho cô môn toán còn cô thì chỉ cho các anh môn Việt Văn và Pháp Văn.

Cô cười hóm hỉnh và bảo:
"Con biết không, chưa bao giờ "tình quân dân cá nước" được thể hiện đậm đà, thắm thiết như kỳ thi vừa qua."

Thế là dòng đời vẫn tiếp tục trôi qua, Cô Vi Khuê của tôi vẫn toàn vẹn trong thiên chức làm vợ, làm mẹ; vẫn miệt mài đèn sách và vui cùng văn chương thi phú.

Năm 1971, cô đã đạt được bằng cấp Cử Nhân Văn Chương và Hán Ngữ tại Viện Đại Học Đà Lạt.

Tôi vô cùng vui mừng và thán phục trước thành quả đèn sách của Cô. Tôi còn nhớ, đã mua một tờ giấy thật đẹp và đã nắn nót viết thư chúc mừng Cô :

"Thưa Cô, tinh thần hiếu học và ý chí cầu tiến của Cô sẽ là gương sáng cho con ngày mai khi bước vào đời."

Năm 1972 Cô trở thành Hiệu Trưởng Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Văn Khoa Đà Lạt do chính Thầy Cô xây dựng...

Hồi tưởng lại, khi tôi đỗ bằng Trung Học thì tình hình chiến sự mỗi ngày một khốc liệt hơn, người dân Miền Nam phải thường xuyên sống trong nỗi lo âu, sợ hãi.

Bấy giờ, tuổi thơ của tôi đã thật sự được chứng kiến những nỗi đau của sinh ly tử biệt: những chiếc hòm gỗ phủ cờ vàng của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa được quàn trong chùa, nhà thờ hay nơi công cộng của Thị Xã Đà Lạt; Hình ảnh của những thiếu phụ trẻ, những đứa bé thơ vô tội đầu chít khăn tang; ánh hỏa châu vụt sáng trong màn đêm yên tĩnh hay những tràng súng liên tiếp vọng về từ chốn xa xôi. Chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt làm người dân hiền lành vô tội cũng phải vương hệ lụy qua những trận pháo kích lén lút, đắp mô, đặt mìn của người Cộng Sản.

Mỗi lần ba tôi đi làm xa, lòng tôi lại lo sợ không biết ba có được sống sót trở về hay không? Từ những trăn trở đó, tôi không muốn là gánh nặng cho gia đình đang sa sút của mình.

Một hôm nọ, tôi đánh bạo xin Thầy Cô cho tôi nghỉ học để đi làm, phụ thêm cha mẹ nuôi các em. Thầy lắc đầu không cho. Cô thì nhẹ nhàng, khuyên nhủ:

"Con nên cố gắng vượt qua hoàn cảnh này, khi học hành thành tài thì sự báo hiếu mới có ý nghĩa và trọn vẹn."

Ngày hôm sau, Thầy Cô nhắn mẹ tôi lên và cho biết quyết định miễn học phí cho tôi, với điều kiện là phải chăm chỉ học hành.

Niềm vui mừng vỡ ào trong lòng đứa con gái nhỏ, tôi không kịp cám ơn Thầy Cô, chạy vào một lớp học trống òa khóc, tưởng chừng như cuộc đời mình chưa bao giờ được khóc...

Xuân qua, hạ đến, thu tàn, đông sang tôi trở nên tự tin hơn, bớt suy tư hơn và tìm được niềm vui tuyệt vời trên đường học vấn.

Tôi đã đậu tú tài 1 ban B và tú tài 2 ban A.

Nhớ đến công ơn Thầy Chử Bá Anh và Cô Vi Khuê đã hướng dẫn mình nên người, tôi quyết định ghi tên học Sư Phạm Công Giáo tại Viện Đại Học Đà Lạt. Thuở đó tâm hồn thơ dại của tôi chỉ mơ ước mai đây khi tốt nghiệp Sư Phạm, tôi sẽ có cơ hội nối tiếp lý tưởng cao đẹp của quý Thầy Cô, truyền đạt đến thế hệ con cháu mình những kiến thức học đường, những điều hay lẽ phải.

Nhưng ước mơ nhỏ bé trong cuộc đời của tôi đã không thành sự thật. Với biệt nghiệp của định mạng, với cộng nghiệp của Quê Hương, tôi đã bị cuốn trôi theo dòng đời muôn ngả...

Ngày 6 tháng 10 năm 2018 vừa qua, tang lễ của Cô Vi Khuê được tổ chức theo nghi lễ truyền thống Phật Giáo, trang nghiêm, thanh tịnh và giản dị. Có rất đông Thân Hữu trong giới Văn Đàn và Giáo Chức, các anh chị em trẻ thuộc Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam Vùng Hoa Thịnh Đốn, cũng như học trò từ các nơi về thăm viếng và tiễn Cô Vi Khuê ra đi.

Tôi gặp một thầy giáo trường Văn Học cũ, nguyên là giáo sư Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Thầy tâm sự:

"Tôi và nhiều người bạn, nhớ ơn Anh Chị Chử Bá Anh vô cùng. Thuở ấy lương tiền của một quân nhân rất hạn hẹp, Anh Chị hiểu tình cảnh, đã giúp anh em chúng tôi bằng cách sắp đặt giờ dạy để có thêm tiền lo cho vợ con"

Nhìn Cô nằm sau lưng bàn thờ với nét mặt nhẹ nhàng, thanh thản. Chắc Cô đang vui khi biết mình ra đi nhưng đã để lại cho đời những tình cảm bao la.

Nhớ lại ngày Cô còn sinh tiền, yểu điệu đài các; ngắm Cô nằm đây dịu dàng an nhiên, nhưng có lẽ ít ai biết được rằng cuộc đời của Cô đã trải qua nhiều khổ đau chồng chất.

Năm 1947 khi Cô lên 16 tuổi, thân phụ của cô qua đời trong một hoàn cảnh đau buồn. Bất hạnh vì mồ côi cha sớm, thương mẹ yếu đuối, bôn ba tần tảo giữa chợ đời; xót các em trai còn thơ dại; Cô đã khai thêm tuổi để đi làm phụ giúp gia đình. Cuộc đời của Cô là một hành trình tranh đấu để sống còn, để vươn lên trong muôn vàn gian khó...

Khách đến tham dự tang lễ, cảm động khi thấy ngoài các em, con, cháu, chắt thọ tang cho người quá cố, còn có các cậu, em trai của cô Vi Khuê; các cô chú, em của Thầy Chử Bá Anh, đều hết lòng, tận tụy giúp đỡ các cháu lo việc hậu sự cho Cô với tất cả lòng thương mến. Các cô chú cũng để tang cho Cô, người chị dâu hiền hòa đáng kính. Thầy ra đi đã 22 năm, nhưng tình cảm trong gia đình vẫn luôn gắn bó.

Nơi an nghỉ cuối cùng của Cô tọa lạc trên một ngọn đồi chan hòa nắng ấm, cỏ cây xanh mướt. Cô nằm bên cạnh Thầy, bố mẹ chồng (hai cụ Chử Ngọc Liễn) và người con trai thứ ba, mà Cô rất mực yêu thương: Chử Tam Anh. Ngay sát mộ phần của gia đình là "Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân biến cố ngày 9 tháng 11 năm 2011" với lá cờ Hoa Kỳ tung bay lộng gió bốn phương.

Tôi nghĩ rằng, phải chăng lúc còn sinh tiền, Thầy Cô luôn dành cả tâm huyết để phụng sự cộng đồng, xã hội, nên khi ra đi Thầy Cô được thuận duyên nằm cạnh Đài Tưởng Niệm, mà ai đi qua cũng phải dừng chân lại, dành vài phút suy tư.

Sáng thứ Hai, ngày 8 tháng 10 năm 2018, tôi tháp tùng hai cô con gái của Cô Vi Khuê, Nhất Anh và Tứ Anh đến cúng hương linh cho Cô theo truyền thống Việt Nam.Trong không gian yên tĩnh của nghĩa trang, tôi thắp một nén hương thơm trên mộ phần Thầy Cô, đọc thầm bài "Kinh Vãng Sanh". Nhắm mắt lại, tôi nghe thoang thoảng đâu đây giọng nói nhẹ nhàng thân mến của cô, khuyến khích những học trò hiếu học; lời khiển trách đầy thương yêu của Thầy với những đứa học trò lười học, ham vui!

Tôi bùi ngùi từ giã, nói với lòng:

Kính thưa quý Thầy Cô,
Những hạt mầm non mà Thầy Cô đã gieo trồng năm xưa ở miền đất hiền hòa Đà Lạt, giờ đây đã đâm hoa, kết trái khắp nơi trên trái đất. Những bài học Công Dân Giáo Dục, những kiến thức tại học đường mà Thầy Cô trao truyền cho chúng con năm nào, giờ đây đã có cơ hội gửi lại cho con cháu, với ước mong thế hệ mai sau sẽ trở thành lớp người hữu dụng trên những miền đất tạm dung hay trên Quê Hương Việt Nam, tự do công bình nhân ái, của một ngày mai không xa.

Công đức của quý Thầy Cô để lại cho đời, chúng con xin ghi tạc với lòng tri ân.

Sống Khôn Thác Thiêng, xin Thầy Cô phù hộ cho chúng con.


Đức Quốc ngày 09 tháng 10, 2018
Cựu học sinh Hiếu Học và Văn-Học
Phạm Thị Bích Thuỷ
Về đầu trang

Bấm vào hình để mở lớn

Powered by SmugMug Log In