Văn - Thầy Nguyễn Minh Diễm - VAN-HOC DALAT

Thầy  Nguyễn Minh Diễm

Thầy Nguyễn Minh Diễm  - (bấm hình xem thêm)
bấm vào các link dưới đây

1.Cuộc Chiến Đấu Của Tôi
2.Văn-Học

Cuộc Chiến Đấu Của Tôi

Thầy Nguyễn Minh Diễm

11 giờ sáng ngày thứ hai 7 tháng 5 năm 2007, Hồng Phạm-con trai lớn, gọi điện thoại:

-Trưa nay, Tèo ghé qua đây, rồi ba bố con đi uống cà phê. Tèo là tên gọi ở nhà của Hồng Cơ- con trai út, làm việc cách sở của bố chừng 5 phút đi bộ. Đây là lần đầu tiên có một cuộc “hội ngộ” vào buổi trưa như thế này. Có vẻ lạ, nhưng dẫu sao thì cũng vui, mặc dù thì giờ để hàn huyên chắc không nhiều.

-Bố có hẹn bác sĩ lúc 2 giờ chiều nay!

-Vậy mình sẽ ngồi ở quán nào gần đó, cũng liên quan đến cái hẹn của bố thôi!

-OK.

Một giờ trưa, ba bố con ngồi uống cà phê Starbucks ở gần khu Eden, cách văn phòng bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa Tôn Thất Hãn khoảng vài phút lái xe. Tuần trước, ông vừa làm nội soi thực quản và bao tử cho hai vợ chồng tôi. Bà hay có cảm giác cồn cào ở bụng lúc đói, nên bác sĩ gia đình đề nghị đi làm xét nghiệm thực quản và bao tử. Thấy tên gọi là lạ, tôi hỏi tôi có thể làm luôn được không, vì đàng nào thì tôi cũng đi cùng với nhà tôi đến bệnh viện. Ông nói mặc dù không có triệu chứng gì, nhưng đã trên 60 thì cũng nên thử nghiệm xem ra sao. Hôm nay tôi sẽ gặp lại bác sĩ Hãn để “nói chuyện” thêm về kết quả xét nghiệm.

-Sao con nói chuyện đi uống cà phê của mấy bố con có liên quan với cái hẹn bác sĩ Hãn?

-Thật ra- Phạm chậm rãi, có vẻ như muốn chọn từng lời từng chữ- tuần trước, sau khi làm nội soi cho bố mẹ xong, bác sĩ Hãn gọi về nhà, nói là mẹ thì không có vấn đề gì nhiều, chỉ có vài con pylori, uống một hai tuần trụ sinh là xong, nhưng bố thì có phần chắc là bị ung thư bao tử. Ông đã làm sinh thiết để gửi đi xét nghiệm, nhưng với kinh nghiệm của ông thì sự thể đúng là như thế. Hôm nay, ông sẽ gặp bố để bàn về phương cách chữa trị. Ông cũng nói rằng bệnh ung thư nay không còn là bất trị nữa. Con muốn bố đừng lo ngại quá…

Có cảm tưởng như bất ngờ bị đánh một cú vào ngực, tôi bỗng thấy khó thở và miệng thật khô. Trái tim đập thật mạnh rồi như trùng hẳn xuống. Tôi không nghe rõ những lời giải thích thêm của Phạm, mà thấy thật nhanh, như được soi sáng bởi một làn chớp, những chương trình và dự định còn đang thực hiện dở dang…Gần như một bản án tử hình vừa được phán quyết! Nhưng một tù nhân khi ra trước tòa để nhận bản án kết liễu đời mình, thì hẳn cũng đoán biết trước phần nào kết quả. Còn tôi thì không, hoàn tòan không. Bất ngờ quá! Mặc dù cố gắng tự kiềm chế, tôi vẫn phải cay đắng tự hỏi “tại sao lại là mình?”

Tôi nói với hai con trai rằng bố đã sống một cuộc sống bận rộn và không vô ích, rằng bố đã làm tất cả những gì có thể làm, và đã tạm yên lòng vì các con đã trưởng thành, đã có thể tự đi bằng đôi chân của chính mình, rằng bố biết rằng tất nhiên là có đến thì có đi, còn đi sớm đi trễ một vài năm cũng chẳng có gì đáng quan tâm cho lắm. Tôi nói như trăn trối. Tôi biết, và các con tôi chắc cũng biết là tôi nói hơi quá. Nhưng có hề chi!

Các con tôi đều hứa mọi sự sẽ êm đẹp và sẽ như ý tôi mong mỏi, và tôi cứ yên tâm dù có đi …hơi sớm!

Bác sĩ Tôn Thất Hãn gốc Huế, hơi đậm người, trắng trẻo và trẻ như một sinh viên. Ông nói nhỏ và dịu dàng, làm như chuyện ung thư bao tử là chuyện rất tầm thường, dễ chữa thôi. Ông cho biết ung thư đã lan ra đến 16 nút hạch bạch huyết, tức giai đoạn 4. Tôi sẽ phải giải phẫu để cắt bớt bao tử, tiếp sau là xạ trị, rồi hóa trị để diệt tận gốc tế bào ung thư. Ông cũng nói là việc chữa trị có nhiều hy vọng kéo dài thêm đời sống chừng vài năm, nhưng chuyện chữa cho dứt hẳn thì lại khác. Ông giới thiệu tôi đến bác sĩ chuyên khoa giải phẫu Kodama, người Nhật, để bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt. Tôi hỏi tại sao tôi không hề thấy một triệu chứng đau đớn hay khó chịu gì hết? Ông cười mà nói rằng ung thư vốn là một tên giết người thầm lặng, mà ung thư bao tử là tên kín tiếng nhất, nên chuyện nó “không lộ diện” cho đến khi bị phát hiện, thường là trễ, thì…cũng phải thôi!

Hai hôm sau, tôi đến gặp bác sĩ Kodama. Ông vẽ một sơ đồ bao tử, chỉ rõ chỗ có thể cắt bỏ, phương thức giải quyết để “nối liền những phần còn lại với nhau” cứ như là trẻ con vẽ hình chơi trên cát. Ông yêu cầu tôi đi làm một số xét nghiệm “tiền giải phẫu” và hẹn tuần sau gặp lại. Ngày mổ được ấn định là 17 tháng 5 năm 2007. Trưa 15, trong buổi họp thường lệ hàng tuần với toàn ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do RFA, tôi thông báo với mọi người về bệnh tình và kế hoạch chữa trị. Ai cũng ngỡ ngàng vì thấy tôi ăn uống phải phép dinh dưỡng, uống rượu theo “tiêu chuẩn,” hút thuốc vừa phải và có thể dục thường xuyên. Mấy nữ nhân viên đã vội rớm rớm nước mắt, còn mấy vị nam giới thì tuyên bố từ nay sẽ “ăn thoải mái, uống rượu thả dàn, hút thuốc như ống khói và quên chuyện thể dục để … khỏi bị ung thư bao tử!”

Xế chiều ngày 17 tháng 5, khi được đẩy ra khỏi phòng mổ, bao tử tôi chỉ còn gần một nửa. Lúc tỉnh dậy trong phòng hồi sức, tôi cảm được một không khí nồng ấm chung quanh và chìm ngập trong những ánh mắt thân thương của vợ con, bè bạn. Nét mặt ai cũng vẫn còn đậm nét âu lo, vì bao lâu mắt tôi chưa mở, thì bấy lâu vẫn chưa biết tôi sẽ ở hay đi. Tôi lưu lại bệnh viện INOVA FAIRFAX năm ngày, với hàng chục dây và ống nối để cung cấp sự sống cho cơ thể cũng như đo lường và kiểm soát mọi hoạt động của nó. Chỉ có lúc ho thì đau chỗ mổ, còn ngoài ra, ngay cả nhiều năm sau nữa, tôi chẳng bao giờ cảm thấy “đau bao tử,” vì ung thư hay vì đã cắt một phần bao tử cả.

Ngày xuất viện, một bác sĩ chuyên khoa ung thư đã chờ sẵn để nói chuyện. Ông cho biết bắt đầu từ tuần tới, tôi sẽ phải làm 20 lần xạ trị tuần năm lần, mỗi lần kéo dài khoảng hai phút ở bệnh viện. Sau đó, sẽ bắt đầu chương trình hóa trị tại văn phòng một tổ hợp bác sĩ chuyên khoa ung thư và huyết học. Thời gian xạ trị không gây đau đớn và cũng không có tác dụng phụ nào đáng kể (hay đáng nhớ!), nhưng khi bắt đầu làm hóa trị thì khác. Tôi đã phải nhập viện bốn lần, trong đó hai lần phải cấp cứu và nằm trong phòng săn sóc đặc biệt, mỗi lần cả tuần. Lần nào gia đình cũng tưởng là sẽ đi…Nguyên nhân chính có lẽ là vì không biết hết cách thức đối phó hiệu quả với những tác dụng phụ ấy ngay khi chúng bắt đầu xuất hiện. Sẽ xin nói thêm về những tác dụng phụ ấy cùng những kinh nghiệm đã đúc kết được.

Tế bào ung thư là những kẻ nội thù. Chúng đã xây hào đắp lũy trong cơ thể của chúng ta để tiêu diệt chính chúng ta. Vì ta không đủ sức chống lại chúng, cho nên chúng mới phát tác. Vậy một khi chúng bắt đầu xuất đầu lộ diện để gây hại, thì ta phải phát động một cuộc chiến toàn diện để chống lại. Cuộc chiến ấy, theo tôi, gồm những mặt sau đây:

1.Thứ nhất là phúc đức, số mệnh, và sự hỗ trợ của các vị thần thánh, ông bà tổ tiên. Nếu là nghiệp thì phải chịu theo quy luật nhân quả, nhưng hình như vẫn có thể cầu xin sự hỗ trợ siêu nhiên để được tăng viện. Cách thức ra sao thì tùy theo tôn giáo và tín ngưỡng, nên xin không bàn đến.

2. Thứ hai là ngoại kích, tức là thuốc và các phương cách chữa trị như giải phẫu, xạ trị hay hóa trị. Xin nói ngay là tôi hoàn toàn tin tưởng ở khả năng của tây y, và coi đó là nỗ lực chính trong cuộc chiến chống ung thư. Cũng phải nói là có khi bác sĩ chẩn đoán lầm hay “không tới” và phải thay thuốc, thay cách điều trị. Không ít bệnh nhân đã phải sớm “bỏ cuộc chiến” vì lý do đó!

3. Thứ ba, là tăng cường nội công. Quan trọng hàng đầu là một tinh thần vững mạnh và hiểu biết. Vững mạnh để không sợ hãi. Hiểu biết để tin rằng mình được chữa trị bằng những thứ thuốc mạnh nhất, bằng các phương pháp hiệu quả nhất. Do đó, nếu không thành công, thì phải chấp nhận, vì trình độ y khoa hiện đại chỉ đến thế thôi! Vả lại, có đến thì có đi. Buồn cũng phải đi, mà khóc cũng phải đi; vậy hãy vui mà đi, thoải mái mà đi (nếu phải đi, tất nhiên)… Một phần không nhỏ của tinh thần này được hình thành và phát triển nhờ người thân như vợ con, bè bạn. Đó chính là cái nôi nuôi dưỡng sức mạnh của ta. Hãy tận hưởng môi trường yêu thương ấy và bạn sẽ thấy đó một một nguồn lực vô tận. Phải nhấn mạnh là chưa bao giờ tôi thấy một bệnh nhân bi quan, yếm thế, thất vọng và đau buồn vì “bản án tử hình ung thư” thoát được cái định mệnh khắc nghiệt mà chính bản thân họ không muốn thoát ra.

Yếu tố thứ nhì là các dược liệu hỗ trợ để tăng cường sức mạnh cho hệ phòng vệ (immune system). Đừng tin tưởng hoàn toàn vào các thông tin phổ biến trên internet vì chúng rất nhiều và rất khó đánh giá, mặc dù chúng có thể được loan truyền bởi những người đầy thiện chí muốn giúp đời. Bản thân tôi chỉ dùng một số dược liệu từng được biết đến, trong đó có Nấm linh chi, hồng sâm và Fucoidan chiết xuất từ rong biển nâu. Những dược liệu này giúp giảm bớt tác dụng phụ và giúp thêm sức cho cơ thể.

Về các tác dụng phụ, thì dù mức độ và thời gian có thể khác nhau, nhưng nói chung, thì thuốc chống tế bào ung thư nào cũng tác hại đến tóc (khiến rụng tóc), máu (thiếu hồng cầu thì làm mệt, thiếu tiểu cầu thì dễ chảy máu, mà thiếu bạch cầu thì cơ thể thiếu sức phòng vệ, dễ dàng nhiễm bệnh, nhiễm trùng), ruột (khiến dễ táo bón hay đi cầu) và niêm mạc miệng (khiến dễ bị lở miệng hay cuống họng). Tác dụng phụ nào cũng được ghi trong các tập tài liệu đưa cho bệnh nhân khi bắt đầu trị liệu, và tác dụng phụ nào thì cũng có cách trị cả. Vấn đề chỉ là phải quan tâm theo dõi để khi nào chúng “manh nha” thì trị ngay, trước khi chúng có thể gây đau đớn thôi.

Xin được nói về hai loại tác dụng phụ mà tôi thấy chữa trị bằng “phương thuốc dân gian” rất có hiệu quả. Thứ nhất là lở miệng: Uống lá dấp cá xay pha với mật ong. Sau khi để trong tủ lạnh chừng một giờ, ly nước xay có mùi thơm như nước trái bơ, rất dễ uống và uống rất hiệu quả. Thứ hai là táo bón: Nên ăn canh rau mùng tơi nấu với mướp và đậu bắp đều đặn, thì chuyện “thông thương” sẽ trở thành giản dị. Sáu năm sau khi bắt đầu giải phẫu cắt bỏ một phần bao tử, vào cuối năm 2012, tôi bị chẩn đoán ung thư phổi, cũng thời kỳ thứ tư. Bác sĩ Edelman thuộc bệnh viện đại học y khoa Maryland nói là chuyện một người có hai loại ung thư cũng chẳng có gì hiếm hoi. Điều quan trọng là ung thư bao tử đã nằm yên, và nay thì phải tập trung sức mạnh để chữa ung thư phổi thôi. Không giải phẫu được, và cũng không xạ trị được, tôi bắt đầu chương trình chữa bằng hóa trị kéo dài sáu kỳ, mỗi kỳ cách nhau 3 tuần. Cuộc chiến chống ung thư của tôi lại bắt đầu lại, lần này với một kẻ thù tai quái hơn và mạnh hơn, nguy hiểm hơn. Cách thức của tôi không thay đổi, nhưng lần này tôi có kinh nghiệm nhiều hơn, và tinh thần tôi cũng thoải mái hơn, nghĩa là vững mạnh hơn. Tôi sống trong môi trường yêu thương của vợ con bè bạn và bắt đầu cuộc chiến đấu mới. Tôi tin là sẽ chiến thắng, nhưng cũng sẵn sàng chấp nhận nếu thua. Kết quả sau sáu tháng chữa trị: Hiện không có một tế bào ung thư nào đang hoạt động ở bất cứ chỗ nào trong cơ thể. Đó là một phần thưởng, một thành quả đạt được của tôi, với sự hỗ trợ của y khoa tân tiến, của tình thương yêu của vợ con bè bạn và sự phù hộ của tổ tiên ông bà. Tuy nhiên, về tương lai:

Ai biết?

Xin được coi bài viết này như một lời cảm tạ chân thành đến tất cả. Những lời cảm tạ mà trong đời sống không dễ dàng gì nói với nhau. Cũng xin coi đó là lời chúc lành cho tất cả những ai đang còn trong cuộc chiến với kẻ nội thù ung thư, mà “nhất định không chịu buông tay khi tay còn có thể giơ lên.”


Virginia, Tháng Sáu 2013

Về đầu trang


Văn-Học

Thầy Nguyễn Minh Diễm




Dù áo thư sinh đã bạc màu
Cuối trời phiêu lãng vẫn tìm nhau

(thơ Ngọc Hoài Phương)

Tháng 5 năm 2013: Nhất Anh báo tin trang Web Mái Ấm Văn Học vừa được thành lập để làm điểm tái ngộ cho thầy trò Văn Học Văn Khoa của “Đà Lạt ngày tháng cũ.” Những con người ấy hơn 40 năm trước, khi tóc còn xanh, và tim còn sôi nổi mộng đời gần như ngày nào cũng gặp nhau để đắp nền cho tương lai cả riêng lẫn chung. Biến cố tháng 4 năm 1975 như một cú big bang khiến sẩy đàn tan nghé! Mỗi thành viên của Văn Học Văn Khoa trong cơn đổi đời ấy bị cuốn theo con đường nổi trôi chung của đất nước và định mệnh có khi rất khắc nghiệt của chính mình. Ai đã có nghề thì bỏ nghề hoặc làm nghề theo cách khác; ai chưa có nghề thì phải xếp đặt lại mọi dự định tương lai đã từng chuẩn bị và hy vọng… Trời Đà Lạt bỗng dưng lạnh hơn.

Người Đà Lạt “dè chừng” nhau, xa lạ với nhau, nghi ngại nhau, nói với nhau bằng một thứ khẩu ngữ khác, và người Đà Lạt rách, và người Đà Lạt đói! Hồ Xuân Hương “cau mặt với tang thương!” Khu Hòa Bình “như quen mà xa lạ.” Lang thang trong mưa phùn, chợt thấm hình ảnh “không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ!” –Thơ Trần Dần- Tìm lại những người quen cũ, thì kẻ đi người ở, kẻ mất người còn. Chưa bao giờ từ “tan tác” mang một ý nghĩa cụ thể và sinh động đến thế! Nhưng đó là chuyện 38 năm trước! Bây giờ là “Mực Tím Lá Vàng!”

Lao vào trang web kiểm từng tên, xem từng hình, nghe từng ca khúc và đọc từng câu thơ, và Đà Lạt lại hiện về toàn vẹn như xưa. Vẫn là Đà Lạt của những ngày hoa mộng giữa thập niên 1960! Đà Lạt của thuở hoa niên! Đà Lạt như một thành phần của đời ta! Những ngày tháng và những khung cảnh cũ bỗng cùng kéo nhau trở về. Hóa ra chúng không mất, mà chỉ tạm núp ở trong một ngăn kéo nào đó của ký ức, chờ cơ hội tái đầu thai, và cơ hội này nay đã đến!

Tháng 6 năm 2013 / Thư của Huyền Ma Soeur:

Thầy Diễm quý mến

“Đây là Huyền, hay Huyền ma soeur (biệt danh con trai Văn Học và Trần Hưng Đạo đặt cho em khi bản nhạc ‘Em Hiền Như Ma Soeur’ ra đời...)”

“Trong chương trình Hội ngộ tháng 7 này, sẽ có phần đọc những lời nhắn nhủ của quý Thầy cô, mà nếu không có của thầy Diễm thì sẽ như thiếu thiếu một điều gì to lớn! Vậy thầy viết cho em vài câu nhe, không cần dài.”

Nhắn Nhủ?

Tôi bắt đầu lên Đà Lạt hồi tháng 5/1968 và bắt đầu dậy ở trường Văn Học từ niên khóa 68-69. Khi ấy, tôi dậy môn Luận lý học lớp đệ nhất và Việt Văn lớp đệ tứ và đệ tam. Năm ấy tôi 25 tuổi. Vậy là thầy trò hơn kém nhau trung bình từ 7 đến 9 tuổi. Năm học cuối trước khi tôi rời khỏi Đà Lạt (để đi lính) và sau đó, “tan tác” luôn, là niên khóa 73-74, năm đầu tiên và cũng là năm cuối của Tú tài trắc nghiệm IBM. Năm ấy tôi vừa 30 tuổi. Ông thầy 30 tuổi nhắn nhủ các cô cậu học trò 18, 20 thì có thể và có lý, chứ bây giờ, ông già 70 muốn “nhắn nhủ” với những ông/ bà tuổi tròm trèm 60 thì sẽ nói gì đây? Nhiều ông/ bà ấy ngày nay về kiến thức thì đã vượt ông thầy xa lắc! Còn về kinh nghiệm sống, thì không ít người có khi lại đã từng bị đầy đọa, ma chiết gấp nhiều lần ông thầy trong gió bụi của cuộc dâu biển đổi đời mấy chục năm qua! “Nhắn nhủ” nhau vào lúc này thì liệu có đôi phần lố bịch chăng? Đà Lạt đối với tôi từng là ”thiên đường mơ ước,” nhất là khi tôi mới 25 tuổi, mới lập gia đình được 7 tháng và sống “những tháng ngày diễm mộng” ở đó. Bốn đứa con yêu thương của vợ chồng tôi đều được sinh ra ở Đà Lạt. Trước năm 1975, những năm tôi ở Đà Lạt cũng là những năm tôi dậy ở Văn Học, rồi Văn Khoa, được làm việc trong một môi trường ấm cúng thân tình như giữa anh em ruột thịt. Đó là những năm êm đềm nhất trong đời tôi. Đó cũng là những năm hạnh phúc nhất trong đời tôi.

Gần 40 năm sau, trí nhớ đã trở nên hoang vu và đầy khói! Khi hăm hở lục tìm trang web, có lúc tôi đã phải khựng lại, lặng người khi nhìn những khuôn mặt “cũ mà mới,” những cái tên và những đôi mắt “như quen mà xa lạ,” những hình ảnh và những nơi chốn “nếu không nói thì không thể ngờ.” Tôi thực tình xấu hổ mà thấy mình chỉ nhớ được một vài tên và khuôn mặt trong số mấy chục cánh chim vừa bay về với “Mái ấm Văn Học.” Có nhiều tấm hình, ngay cả khi đã biết tên, tôi cũng chỉ thấy “quen quen,” như một sự nhận biết trừu tượng và khách quan, chứ không phải sợi dây gắn bó tình cảm cụ thể và sống động như đã nghĩ.

Cái khó là làm thế nào có thể nói những lời tâm tình, và khơi dậy những tình cảm thân thương -vốn là những gì rất cụ thể- với những người mà ta chỉ nhớ và thương một cách chung chung vì chúng gắn liền với một đoạn đời đẹp đẽ của ta? Nếu không làm được như thế, thì nói chi cũng chỉ là sáo rỗng và giả dối thôi. Liệu ta có đủ can đảm để nói những lời ấy không?

Tuy nhiên, tình xưa nghĩa cũ vẫn còn đó, và nếu không dám “nhắn nhủ,” mà cũng không thể nói những lời thương mến chung chung (mà ai cũng nói được), thì vẫn bày tỏ được lòng thâm tạ và nỗi xúc động chân thành vì đã bao năm qua, với bao nhiêu biển dâu, bao nhiêu “nước chẩy qua cầu,” mà vẫn còn nhớ đến nhau. Những trái tim ấy vẫn còn mang đậm dấu vết của một nền giáo dục và văn hóa thấm đẫm tình người. Những con người ấy xứng đáng để được thương quý. Trong tinh thần ấy, xin chúc tất cả mọi sự lành và hẹn tái ngộ.

Về đầu trang

Powered by SmugMug Log In