Văn - Thầy Nguyễn Quang Tuyến - VAN-HOC DALAT

Văn  Thầy Nguyễn Quang Tuyến

TNQT
Bấm vào các link dưới đây

1. Gà Ống Tre
2. Hoa Đào Xứ Lạ
3. Lũ Chuột
4. Một Chút Gì Để Nhớ Đà-Lạt
5. Nhớ Mỳ Quảng Đà-lạt
6. Quê Nhà
7. Thầy ơi

Gà Ống Tre

Thầy Nguyễn Quang Tuyến


Bảng quảng cáo quán Gà Tre có lịch sử : Lão Khoát thu nhỏ chữ Ống to đùng xuống dần dần, rồi chữ Ống còn nhỏ tí để người ta chỉ còn thấy chữ Gà Tre, được coi như là chuyện thời sự ở cái làng nhỏ bên sông Trường Giang quê tôi. Con sông Trường mảnh khảnh bao mùa thiêm thiếp giữa hai bờ cát trắng và bóng thùy dương, chỉ chợt thức dậy kêu gào đáp ứng lời của biển trong mùa bão tố. Cái con sông Trường tội nghiệp kia, mỏng manh là vậy mà cứ phải bao năm chứng kiến, chờ đợi, nghe ngóng biết bao nhiêu chuyện râm ran của cái quán nhậu Gà Tre bên bờ: Chuyện Lão Khoát.

Lão tên thật là gì chẳng ai trong lứa tuổi chúng tôi biết; chỉ biết mang máng đã có một thời lão rời khỏi làng và nay sau chiến tranh, lão trở về. Lão từng làm việc đâu đó nơi một nông trường Tây Bắc, và có một sổ hưu đủ sống lây lất. Vốn là người từng trải đây đó cộng thêm tính chất trai xứ Quảng, nên miệng lão huyên thuyên, đã nói là không muốn ngừng, ngừng chỉ là nhịp nghỉ để tìm cơ hội nói tiếp. Lão tranh luận mọi thứ, hiểu biết mọi thứ và tất cả đều dựa vào cái đài lão đặt trên cái hòm gỗ đầu giường, đài cung cấp cho lão từ chuyện ngủ nên nằm nghiêng bên phải cho đến chuyện cái vũ trụ này đã tạo dựng nên từ mấy triệu năm và có một cái lỗ đen ghê gớm nó sẽ nuốt chửng căn nhà của lão lẫn bà Ba hàng xóm! Lão biết hết và lão sẳn sàng sùi bọt mép để tranh luận cho cái biết làng nhàng của lão. Lão thèm nói chuyện thời sự, lão mê hội họp, lão đi từ đầu làng đến cuối làng để luận bàn về mọi thứ. Ngày mới về hưu, lão trịnh trọng đeo cặp rết đi lên xuống xã để họp, để bàn, đóng góp ý kiến chung chung vào mọi vấn đề .

Lão Khoát mê lý luận đủ mọi thứ trên đời và lão thổi ngọn lửa chân lý làng nhàng đó cho bọn trẻ. Đàn ông xứ Quảng ngồi bên nhau là cãi lấy được về mọi thứ, nhưng nơi nào có mặt lão Khoát thì tranh cãi bao giờ cũng có đề tài, đủ các loại đề tài, mà phần thắng luôn thuộc về lão với nhiều lý do khác nhau. Chân lý dù trừu tượng đến mấy lão cũng vê tròn lại, giải thích, cho nhiều ví dụ cụ thể và cuối cùng thì bao giờ lão cũng phán :

- Đó, coi kìa, trên cơ sở đó nó rành rành, thấy không ?

Có lẽ chẳng ai thấy, nhưng đành nhường cho lão cái lẽ phải mà lão độc quyền ôm giữ. Việc gì rồi lão cũng lật qua lật lại vấn đề ở nhiều góc cạnh, và cũng tìm cho ra cách giải thích. Có thể điều hôm nay lão bênh vực sẽ trở thành điều ngày mai lão phản đối ,miễn là hợp với điều lão cần. Lão có cách giải thích kiểu của lão, và giải thích xong lão xem như đã giải quyết xong mọi việc. Để chứng minh chân lý của mình, nhiều khi lão thêm vào các con số, hoặc phần trăm, hoặc so sánh; theo lão dường như có thêm bao nhiêu số lẻ là sẽ gần chân lý bấy nhiêu. “ Cả xã mình nuôi hơn hai ngàn ba trăm con heo, so với trước là: … “ . Chẳng ai kiểm chứng điều đó được nhưng cứ nghe các con số nối nhau là có cảm giác đó là sự thật! Biết rằng con cô Bảy ở xóm trên bỏ học vì nhà quá túng quẫn, cô Bảy chạy gạo từng bửa bươn chải nuôi ba con, lão Khoát nhíu mày :

- Cái việc bỏ học là không được! Giáo dục là việc quan trọng, là chính sách của nhà nước! Rồi tương lai tụi nhỏ ra sao? Phải có tri thức, nhất định là phải có tri thức mới mong đóng góp công sức cho xã hội! Tri thức là chìa khóa vào đời, là chìa khóa mở cửa công nghệ hóa, hiện đại hóa… Còn khó khăn thì là cái chung của xã hội, phải vượt lên, phải phấn đấu. Làm cha làm mẹ là phải lo cho con cái có cơm, có chữ, phải không? Trên cơ sở đó thì con chị Bảy phải được đi học, nó rành rành ra đó, thấy không?

Sau khi lão vung tay, rướn mắt, văng nước bọt nói về chân lý “cái cơm, cái chữ ” là xem như cái chân lý ấy lão đã bao lại được, gói nó lại và xếp vào ngăn tủ thuộc loại “đã giải quyết xong!”. Còn chuyện cô Bảy tối nay có ôm bụng đói, khóc rấm rức vì con mình bỏ học, cho đi làm phụ hồ thì lão chẳng bao giờ lưu tâm. Lão không thích đi sâu vào từng trường hợp cụ thể, lão thích cái chung chung, lão gói kín mọi sự ném nó vào cái chung chung. Lão sẵn sàng sùi bọt mép tranh luận cho cái chung chung kiểu ấy. Lão thích tuông xổ cả đống danh từ thật kêu, thật giống “cái đài trên cột điện” – Bay nhảy ở đâu cũng được, miễn đừng bám vào thực tại là lão khoái!!

Tôi quen lão Khoát cũng đã lâu, từ ngày lão và hai thằng cháu dựng cái quán Gà Ống Tre ở bìa làng, bên cạnh sông Trường Giang nhạt nhòa bên đồi cát trắng. Trước đó, lão đã đi khắp xóm nói về kế hoạch nuôi gà của lão. Khu vườn hơn công đất nằm lẹm bên bờ sông được lão dựng chòi tranh, đan phên tre dựng quanh rào. Như mọi người đàn ông xứ Quảng, lão luôn nói to hơn âm thanh cần thiết để cho mọi người nghe :

- Nè, đâu có phải bởi tôi trồng một vạt rau quế mà tôi phải mở tiệm phở, rồi nói đó là phải kinh doanh từ A đến Z? Nói cái gì cũng phải có căn cơ, nuôi một bầy gà đâu phải là lý do mở quán? Tôi có bờ sông, tôi có gió nồm mát, tôi có lùm tre kót két trong gió trưa hè … Chừng đó cái có, cộng với con gà, cộng với bó rau răm … Hà, hà thêm chút sáng kiến kinh doanh là ra Quán thịt gà. Nhưng vấn đề là gà gì? Có đặc biệt không? Có lôi kéo sự tò mò của mọi người không? Đó, rành rành vậy đó mới là có kế hoạch! Kinh doanh mà không biết qui luật của nó là hỏng bét!Phải nắm bắt qui luật kinh tế thị trường chớ !! Trên cơ sở đó ta mới tiến hành… Trên cơ sở đó ta tiến hành …! Cứ thế … cứ thế …

Lão nghỉ hơi, ngắt ngang bài thuyết minh tràng giang bằng cách gỏ gỏ mấy ngón tay cáu gắt lên cái đầu bi ve hói, lưa thưa mấy sợi tóc . Càng lý luận, mắt lão ánh lên, khuôn mặt linh hoạt được chấm phá bởi hàm răng lộn xộn, ố vàng bờn bợn vì khói thuốc. Như những người Khu V, sống một thời gian dài ở đất Bắc, trong câu nói của lão bao giờ cũng chen vào mấy từ nhé, đấy … và vài ngữ âm phải bấm môi, cong lưỡi để có âm vờ, âm rờ . Mới đầu thì dân trong xóm thấy là lạ về cách nói của lão, lâu dần rồi cũng quen đi, và lâu dần lão cũng bớt xì xì, xù xù cái âm có tiếng gió!

- Kinh doanh đâu phải chuyện chơi, phải lô-gích, phải biết qui luật khách quan của nó, phải thấy như thằng Tây, thằng Mỹ nó đã thấy có lợi là nó vào ngon ơ … nó ăn chắc bẩm! Còn mình, chẳng chịu nghiên cứu kỹ. Cứ thấy ai làm có ăn là ào ào nhào vào bắt chước; rồi chất dồn đống, dồn khối! – Thấy chưa phải mở mang dân trí! Phải bám sát quy luật kinh tế chớ … Kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội là loại kinh tế trí thức mới, độc quyền của ta đó! Là kinh tế thị trường có tham dự quy hoạch của nhà nước; có tinh thần của qui luật bình đẳng, chống bất công, chống bóc lột, chống đặc lợi … Phải chống nhiều thứ mới là kinh tế thị trường công bằng. Phải không nà?

Quán thịt gà của lão một thời nổi tiếng cả huyện, nghe nói có tờ báo địa phương, có nhà Đài tới phỏng vấn cách làm ăn của lão nữa. Lần đầu tiên, tôi đến thăm lão Khoát là thời đó.

Ngày ấy, quán của lão trương một bản hiệu lớn viết rõ to bốn chữ : QUÁN GÀ ỐNG TRE. Dường như để nhấn mạnh, chữ Ống được viết to và đậm nét bên cạnh một con gà thịt vàng hườm, bóng mỡ, đang hoát mỏ lên trời , như đang cầu nguyện.

Tôi ngồi bên chỏng tre chờ món gà ống tre muối tiêu chanh nổi tiếng. Gió nồm riu riu từ dòng Trường Giang mơn man trong nắng chiều nhàn nhạt; từ nơi xa tít dòng sông như tan hòa trong màu mờ mờ của cát trắng và thùy dương. Chiều quê bao giờ cũng bải hoải buồn, vô cớ, không tên. Lão Khoát trờ tới, đon đả như quen nhau từ thời nào.

-Ảnh ở mô tới? Ngồi chờ thịt luộc hè? Lão quay về phía bếp cao giọng : Mấy đứa làm lẹ lên bay, đừng để ảnh chờ lâu!

Chữ “bay” rê dài và cao lên, đúng là giọng dân Quảng dọc bờ sông Trường Giang. Quán có lai rai vài người khách quê, ồn ào, rôm rả xen tiếng bánh tráng nướng bẻ lốp bốp. Lão Khoát chủ động bắt chuyện.

- Chú em biết không, thịt gà ống tre thực đặc biệt ngon, nó mềm mà không nhũn, nó béo mà không ngấy, nó có xương mà nhai như sụn! Có vậy Quán này mới nổi tiếng, mới lên Đài được chớ!!

Tôi tò mò hỏi sao lại gọi là gà ống tre, lão đưa cái bàn tay thô ráp, sần sùi lên đầu vê mấy sợi tóc bạc lưa thưa, láu lỉnh nhíu mắt, nói như đánh đố :

- Chiêu độc đó chú em! Thời kinh tế thị trường mà chú nấu không đặc biệt không khác người làm chi thắng được. Phàm, cạnh tranh là phải khác, phải lấn lướt hơn mới thắng được. Nhìn ra thế giới mà coi nè, đi rề rề thì tới khi mô mới bằng thằng Tây, thằng Mỹ. Phải đi trước, đi tắt đón đầu, phải láu cá một chút mới thắng được!! Kinh tế thị trường đâu phải dễ ăn, đâu phải cà rỡn!Còn chờ gà luộc chín hơi lâu , chú ra sau vườn xem cơ sở chăn nuôi của tôi.

Tôi theo lão ra sau vườn. Lão không còn là ông chủ quán nhà quê láu lỉnh, thăm dò từng động thái của mỗi khách hàng nữa; lão trở thành nhà kinh doanh khôn ngoan dày kinh nghiệm :

- Ai nói cái khó nó Bó cái khôn, nó Ló cái khôn đó chú em à. Rành rành ra đó. Đã làm phải làm cho trúng, làm cà lơ là chết, làm kinh doanh chứ phải chơi đâu! - Lão nhấp nháy ánh mắt tinh quái, đưa tay lên đầu vuốt tóc, rồi tiếp - Khởi kỳ thủy, tui nuôi gà công nghiệp, gà thả vườn, ở quê mình ai chẳng nuôi gà, có lễ tết tiệc tùng ai chẳng tự biên tự diển : gà nhà, bếp nhà, rau nhà … Thế là ế, tui bèn làm quán bán cháo gà, cơm gà, lòng gà … Người quê mình không đến, người ngoài phố không vào, bán cho ai? lại ế! Cái khó lại, thế là cái khôn lại ló ra! Mình phải tìm mưu, tìm chước: Tôi nuôi gà ống tre và quán bán đặc hiệu : Gà ống tre. Tôi học miếng nghề này nơi một lão nuôi gà đá ở chợ Được. Lần đầu thấy con gà nung núc thịt như đòn bánh tét, hai chân co rút, què quặt, túm lông đuôi, lông đầu lún phún tôi ghê ghê; vậy mà cầm đũa lên rồi, nhai xương như sụn cá nhám mới thấy là đặc biệt. Đúng là đặc biệt! Tôi học nghề nuôi gà ống tre. Chú thấy quán tôi phất lên như diều! Nhà Đài tới phỏng vấn về sáng kiến kinh doanh, về đặc sản … Hà, hà … người dưới phố kéo lên chật quán vì ham thích, tò mò và trong đó có tâm địa hơi độc ác một chút. - Lão cười khà và lại vuốt mấy sợi tóc bạc lưa thưa như để chấm câu.

- Sao vậy Chú? - tôi hỏi.

- Cái này nó lạ lắm chú em à. Có làm dâu trăm họ mới thấy rõ lòng người. Ai cũng nói việc làm lành, hành thiện vậy mà trong cái sự khoái khẩu vẫn cần có chút ác độc nó mới làm cho cái khoái đậm đà, một chút ác độc trong việc sát sanh nó như gia vị trong thực phẩm. Dù món ăn chay cũng ưa lấy trái chuối làm hình con cá trê, lấy hột đậu đen làm đôi mắt long lanh. Có vậy khi cắn ngập răng mới thấy cái ngon thêm phần khoái. Con cá, con chim, con ếch rô ti vàng mà không thấy mỏ nghếch lên, đôi cánh chập choạng gục xuống thì cái răng hờ hững việc cắn xé. Chú em thấy đúng không, rành rành ra đó mà! Nhìn con gà ống tre mum múp thịt đỏ hỏn, thân thể chật ních thịt như đòn bánh mà đôi chân tí xíu như chân chim câu: cái con vật dị tật, bất toàn kia gây cho kẻ thưởng thức sự khoái trá! Hà hà chú em không thấy chút ác ý đó nó như vị cay cay của gia vị sao? Để tạo ra một lớp gà mới, định hướng kinh doanh mới đâu phải dễ dàng chú em!!

Cái mà lão gọi là ác ý đó nó bày ra từng dãy trước mắt tôi: Ống tre loại lớn được cưa từng lóng, xếp từng hàng, có nhiều màu sơn khác nhau, nơi mỗi đầu ống một đầu gà mào đỏ, lông xù lú ra như đầu rùa ló khỏi mu. Thân hình gà nằm gọn trong ống tre, chỉ có đầu và một túm lông đuôi lưa thưa xỉa ra phía sau, phía cuối ống có khoét lỗ cho phân rơi xuống.

- Đây, chú em coi ống màu xanh là gà cho vào ống được 03 tháng, màu vàng nhạt là 02 tháng … màu nâu này là đã 06 tháng đến một năm, thịt chật ống như nêm, đưa ra chẻ ống được rồi. Nuôi gà tre thú khoái nhất là chẻ ống : chẻ trái dừa làm đôi thì mình biết chắc thịt dừa trắng, nước dừa trong; nhưng chẻ gà ống tre thì hoàn toàn khác! Cầm ống tre thấy nặng tay, lắc lắc không có cảm giác thịt chưa khít thành ống, thế là chẻ được rồi. Mỗi lần chẻ ra là một khám phá, khách hàng rất thích thú cảm giác này!

- Nhưng làm sao bỏ con gà vào ống tre để nuôi?

- Lựa ống tre mỏng cơm, dài cở hai gang tay, khoét lỗ tròn đầu lóng tre cho gà thò cổ ra mổ thức ăn, cắt phần cuối ống đan rọ tre chụp lại để gà mọc lông đuôi, lựa gà giò bỏ vào ống, trườn tới thì được mà quay đầu lui thì không. Cứ vậy, gà thò đầu ra mổ thức ăn, uống nước, lớn dần đến lúc đầu không rút vào trong ống được, càng mập ra thì thịt chật đầu, lông trong rụng hết chỉ còn ở chút đầu cổ, lơ thơ mấy sợi ở đuôi … Ban đầu gà còn kêu vì tù túng nhưng quen dần rồi thì thích thú vì khỏi bươn chải mà vẫn có cái ăn … Càng ăn, càng lớn, càng được bọc kín và hết đường xoay xở … Bao lâu nay chú gà giò quen bươn chải đó đây, đang khoái trá lớn trong tự nhiên… Nay thì từ giã tự do, từ giã cách sống thuận với đất trời. Nay chú gà nhỏ được xếp lớp trong tập thể, ăn đồng loạt, lớn đồng loạt và định hướng. Nghĩ cũng lạ, không còn tự do, thói quen nô lệ, thói quen làm theo lệnh cũng có hạnh phúc chớ!

Nhìn các dãy nhà tranh tiếp nối, mấy bầy gà thả vườn chạy đôn đáo tranh mồi bên đụn rơm, bên cạnh các dãy ống tre mấy chiếc đầu gà thòi ra lúc lắc, các cặp mắt thao láo. Thất thần và câm nín.

Lão Khoát với lấy một ống-tre-gà đưa tôi, tiếng ót ót như giọng thái giám trong cổ họng chú gà không làm tôi ngạc nhiên bằng cảm giác trĩu nặng, như bưng một khối thịt đặc cứng. Lão nhìn tôi như đo lường sự ngạc nhiên ngỡ ngàng của khán giả trước một trò xiếc ngoạn mục. Tôi thật sự kinh ngạc! Lão Khoát kéo tôi về phía sân sau bếp. Sân gạch nhỏ sau bếp vươn vãi mấy túm lông gà, mấy dúm ruột gà lầy nhầy o o tiếng nhặn xanh. Lão đặt ống tre dựng đứng, trụm lông đuôi lơ thơ nằm bẹp dí xuống sân lát gạch tàu, đầu con gà đỏ au trang trọng ngẩng cao nhìn thẳng trời xanh. Mào đỏ, mỏ cong, cặp mắt vẫn thao láo nghiêm trang. Lão Khoát dùng mác chẻ nhẹ ống tre trên nền gạch, ống tre toát đôi như vở òa ra bởi sức căng núc ních của khối thịt. Con gà lăn tròn trên nền, tiếng kêu ót ót, the thé. Con gà đáng thương! Nó nung núc thịt như đòn bánh, nhưng trông còn ghê hơn khi thấy đôi cánh rúm lại, đôi chân rút lại, mũm mĩm như đôi bàn tay và đôi chân em bé mơn mởn mấy tháng tuổi gắn vào một thân hình mập ú, mặt mũi râu ria xồm xồm! Mấy sợi lông tơ như lông thỏ trắng, óng vàng mượt mà trên lớp da đỏ bềnh bệch, đỏ như đám mẩn ngứa trên da người. Con gà cứ kêu on ót và lăn tròn, đôi chân và cánh lâu ngày không cử động như mấy cục bọt nhão gắn thừa thải vào thân. Hình ảnh chú gà ống tre lăn tròn, đám mòng xanh kêu o o, tiếng con gà như thảng thốt tắt nghẹn làm tôi cảm thấy lờm lợm. Tôi quay về chổ ngồi, một dĩa gà luộc vàng hườm bốc khói trên bàn làm tôi nghĩ đến cái tâm trạng ác độc mà lão Khoát vừa nói. Buổi chiều, gió biển xa lùa vào Trường Giang, gió nồm lăn tăn trên mặt sông như nếp gấp của khuôn mặt u sầu, khắc khổ.

Đã mấy năm qua rồi, bây giờ tôi trở lại, trên trán lão Khoát lăn tăn gợn sóng, quán xưa là GÀ ỐNG TRE, chữ Ống bây giờ teo tóp, nhỏ lại và thành tên quán Gà Tre. Khu chợ nhỏ bên sông giờ đây đã nhiều màu ngói đỏ, hàng quán đông đúc hơn, duy lão Khoát đã già đi. Tôi hỏi lão tại sao thu nhỏ chữ Ống lại để quán thành Gà Tre. Lão trầm ngâm :

- Cái thời thịt bắp, thịt giò, cứ cái con gì mập ú na, ú nú, thịt lắm mỡ nhiều là hấp dẫn, đã qua rồi! Đó là thời thiếu đói quán xá cứ khêu gợi thịt thà, mỡ màng là lôi kéo khách. Lúc ấy thì cái cục thịt nung núc, xương mềm, mỡ ngập của chú gà Ống Tre là chiêu hấp dẫn. Chỉ cần luộc chín, da óng vàng treo nghếch đầu lên trong tủ kính là cũng đủ làm lắm gã ngang qua quán, mắt liếc xéo, mà nước bọt nuốt đánh ực! Hà, hà. Cái thời ấy đã qua rồi chú em à; đùi, ức, phao câu mỡ màng chẳng lôi kéo được ai. Bây giờ người ta kêu gọi trở lại thời xưa, thời vườn rộng rào thưa, gà thả vườn, gà tre mới là món hấp dẫn. Tại sao à? Cũng phải thôi chú em à, trời cao đất rộng, cái gì quay về được thì nên quay lại cho hợp đạo trời đất. Con gà, con vịt, giun, dế đều tranh sống đều nuôi nhau sống chứ đâu có nằm ú nụ chờ sẵn để ăn! Tôi thấy cái lý ở đời vậy mà hay lắm chú em ơi! Nói cho to, kêu cho lớn là kinh tế thị trường của thằng Tây, thằng Mỹ, thật ra kinh tế thị trường chỉ là trở lại mua bán như thời xưa của cha ông mình: có gì cần bán thì bán, có gì cần mua thì mua. Nó chỉ đơn giản vậy thôi mà!! Bởi ta quen cấm đầu, cấm đuôi rồi coi kinh tế thị trường là lạ lẫm.

Lão kéo tay tôi vào vườn sau, mấy ống tre chẻ bỏ vươn vải bên xó bếp bầy gà bới mồi tốc bụi dưới gốc tre già.

- Đó, cái ngon của con gà bây giờ nó nằm ở cái lý giản đơn là đàn gà phải tìm cách sống, tranh sống. Phải bươn chải để kiếm mồi, phải biết lo rằng cái giun cái dế mình nhìn thấy đó nếu không nhanh tay, lẹ chân thì bị đối thủ chộp lấy. Đơn giản, quá đơn giản phải không chú em? Vậy mà người ta lại phải mất khá nhiều thời gian để tìm về cái đơn giản và lại tự hào là đã tìm ra cái mới lạ! Con gà ống tre, chú thấy đó, cái đầu, cái mỏ, cái mào ở ngoài ống thì phát triển bình thường; con mắt, cái đầu, nó thấy hết, nó hiểu hết, nhưng nó làm gì được với cái thân nặng nề, lê lếch trong ống. Khi đói nó phải ăn, khát phải uống; và làm sao nó cấm thịt mỡ nó phì ra? Cái vòng lẩn quẩn!! Cứ theo kế hoạch, chỉ tiêu mà cho vào ống. Càng ở ống lâu thì càng khó thay đổi. Giai đoạn đầu, để cứu đàn gà lỡ nuôi trong ống, tôi dừng cho ăn, chẻ ống và bán tháo mấy con đầy thịt. Có cố nuôi cũng không được, sống ngoắc ngoải, tội nghiệp! Chà, chú có thấy mới thương. Chẻ ống tre ra, bỏ đi cái vỏ bao bọc, nó như ốc mượn hồn bể vỏ, như rùa bể mu; đầu nó làm sao khiến được cái thân nặng nề, què quặt kia? Bỏ thức ăn trước mặt, đầu gà nhướn cổ nhìn mà cái thân đỏ hỏn, lăn lông lốc! Tội nghiệp! Cái đầu, cái cổ nó quen ngọ nguậy trong một cái lỗ định hình ở đầu ống tre; cái thân nó yên ổn đầy tự tin trong cái ống tre cứng cáp … Bây giờ nó làm sao bươn chải, tranh dành con giun, con dế? Chẻ ống tre ra rồi, thấy đôi mắt nó long lanh ướt, nặng nề xoay xở, nó thừa biết khó thể sống được trong cuộc tranh dành con giun con dế với đám gà thả rong. Tội nghiệp bầy gà ống tre của tôi nó làm sao sống dễ dàng khi trở lại với tự nhiên!! Bọn nó quen sống do mọi người cung phụng cho nó, nó có quyền được ăn, được to mập ú thịt để phục vụ cho ông chủ lớn. Nay ông chủ không cần thịt mà cần nó quay về sống tự nhiên như cũ, gọi là đổi mới triệt để cái ý tưởng sống nhờ ở đậu của nó. Làm sao cho nó quen với sự đổi mới ấy bấy giờ chú em?

Lão nói như muốn khóc, giọng lão thỉnh thoảng trầm xuống nghe như tiếng kẽo kẹt của hàng tre trong gió nồm thưa. Nghe lão Khoát khẽ khàn tâm sự, lão như lão nông tri điền ngồi bên sân nhà nhẩn nha nói chuyện với con bò nghé bên đụn rơm trong buổi chiều tà.

- Còn mấy con gà nuôi năm ba tháng trong ống, lão tiếp, mới rụng lớp lông tơ, lông ống vẫn còn, chân vẫn còn loạng choạng bước thấp, bước cao. Chẻ ống ra là nó đi như người say rượu, đầu nghểnh hướng tây, chân đá hướng đông. Bỏ thức ăn xuống đất, mà đầu nó cứ nghếch lên trời; phải một thời gian nó mới điều chỉnh được để có cái nhìn chính xác về vị trí. Và khi nó biết cách định hướng, biết tranh dành thức ăn thì cùng lúc chúng cứ tụm đầu vào nhau rỉa rói mấy sợi lông ống đen mềm nằm sát làn da hồng như con giun chỉ của các con gà ống tre khác. Thay vì phải đem sức đào bới kiếm ăn, chúng lại quay lại rỉa rói bươi móc nhau không thương tiếc. Vườn thì rộng, đàn gà vườn xôn xao chạy nhảy cào bới; chổ này mấy chú gà giò ríu rít đá nhau, chổ kia anh gà trống lẳng lơ túc túc gọi mái; chị mái già bới tung toé lá tre tìm ổ mối, la toáng lên như chỉ có chị ta là biết nuôi con mọn … Cuộc sống trong vườn sống động là vậy, mà chú em có biết không, đàn gà ống tre cứ đứng tụm đầu dồn ở góc vườn dương mắt chờ đợi … Chúng mổ nhau, những giọt máu đỏ chảy dài trên làn da, dính lông trên mỏ, các đôi mắt hoang dại, khiếp sợ …

Tội nghiệp mấy con gà ống tre của tôi. Chúng không biết tìm mồi mà chỉ biết tìm nhau để mổ vào các vết thương chưa lành, chưa kịp lành!! Chắc chúng chỉ mong ước trở lại cái thời cuộc sống đóng khung cái ăn, cái uống, đã có người khác bao biện cho hết rồi!

Lão chỉ cho tôi xem bề bộn sân chuồng nơi đây đã một thời là lò “đào tạo” lũ gà ống tre một thời “thành công nhất lịch sử … nay thì đìu hiu.. ngổn ngang mấy ống tre cưa từng khoanh ngắn treo lủng lẳng bên thùng lúa để ngang tầm mổ con gà:

Lão bùi ngùi, tiếc nuối một thời vàng son đã qua, nói như tiếng thở dài:

Để cứu lũ gà đã quen sống trong kế hoạch “gà ống tre” chúng tôi nghiệm ra cách này: anh biết không, thói quen dù tốt hay xấu, lâu ngày, trở thành nề nếp, thành bản tính tự nhiên của sinh vật. Chúng đã quen sống trong ống, chúng nó tồn tại và tự tin trong cái ống tre bao bọc, che chở cho chúng và cái mỏ cứ quen mổ ăn những gi có sẵn trước mắt theo “kế hoạch qui định” của nhà chăn nuôi; Nay bỏ ống tre đi, nó mất thói quen định hướng sẵn, nó phải bương chải tìm thức ăn để tồn tại… nó lảo đảo… ngay cả cho thức ăn trước mắt nó cũng không còn khả năng mổ và ăn như các con gà bình thường khác. Nó nhướng cổ, những đôi mắt lạc thần nhìn trời cao như trông chờ vào phép lạ… tương lai ngập tràn tươi sáng hạnh phúc !! Như thế này, chắc chúng điên và chết mất thôi, lũ gà ống tre của tôi! Rồi khi tôi lấy dây treo mấy mươi khoanh ống tre cưa ngắn quanh mấy rổ lúa, chúng thích thú sà vào đun đầu qua ống tre mổ vào rổ lúa để ăn. Chú thấy lạ không? Lão bùi ngùi thở dài nói tiếp:

Ôi thói quen của bao tháng ngày được dạy dỗ, lặp đi lặp lại cho cả một bày đàn gà như mất đi ý thức, chúng sống theo thói quen, 1 thứ bản năng thờ cúng. Đã làm chúng quen sống không có tự do nên chúng lo sợ choáng váng trước tự do. Đã lâu chúng sống và tồn tại theo sự sắp đặt như cái máy… nay chúng không có khả năng tự quyết lấy cách sống của mình. Chắc còn lâu lũ gà ống tre mới quen với đất rộng trời cao, quen với ý nghĩ rất đổi thân thuộc với mọi người: Đó là, có một thế giới mềm mại, tươi mát thuận với qui luật đất trời ngoài cái ống tre tròng vào cổ!!

Tôi nhìn lên mấy đọt tre nhún nhẩy êm nhẹ theo gió mồm từ dưới sông thổi lên, tiếng kọt kẹt đều đều êm ả như ru bé ngủ. Lão Khoát đăm đăm nhìn bầy gà nghểnh ngảng, thất thần, loạng quạng tới lui cách ống tre cưa cắt ngổn ngang. Bên khóe mắt chân chim rám nắng của lão hình như tứa ri ra một chút nước đắng cay. Lẽ nào lão khóc tiếc nuối cho những gì mất đi?
2003


Về đầu trang

Hoa Đào Xứ Lạ

Thầy Nguyễn Quang Tuyến


Tôi có người bạn thân, ông Lê Thiệp, sống trên đất Nhật,Mỹ...

Cứ mỗi độ mùa Xuân xa xứ khi ngập trời hoa anh-đào nở thì lại thiết tha nhớ về Đà-lạt Việt Nam, nhớ cả trời kỷ niệm những ngày tháng xưa cũ. Mấy năm trước ông gửi cho tôi 16 giống hoa đào khác nhau ở Mỹ, để tôi thử trồng ở Đà-lạt. Chúng tôi cùng ước mơ, ngày không xa anh-đào xứ xa sẽ rực trời Đà-lạt. Sau 4 năm lay lất, hơn trăm cây anh-đào xứ lạ (Mỹ, Nhật) tôi đem về trồng ở Đà-lạt , cuối cùng chỉ còn hơn 20 cây giống Cherry, bông đơn màu sáng hồng và cánh đều hơn đào hiện có ở Đà-lạt thì có thể phát triển và kết hoa. Các giống anh-đào hoa kép thì không thể phát tiển ở Đà-lạt được. Nhưng hoa vẫn chưa đổi được tập tính nở vào mùa xuân nơi sinh quán của giống hoa (tháng 3,4 dương-lịch hoa anh-đào nở ở Washington DC, Nhật), hoa bản địa Đà-lạt thì nở vào tháng 12 dương-lịch, khi khí lạnh kết nhựa chờ nắng xuân.

Tội nghiệp mấy cây anh-đào xa xứ, vào tháng 2, 3 hoa bắt đầu lấm tấm những búp như hạt gạo, mơn mỡn màu tím tím, vừa chớm mỉm cười thì đã khô quắt quéo trong nắng hạ. Đà-lạt bây giờ khí hậu đã khác xưa, trước Tết ta ngoài trời đã nắng nóng như Sài-gòn. Làm sao thay đổi được chu kỳ của hoa?

- Chỉ còn mong chờ anh-đào xứ lạ tập quen dần với thời tiết bản địa, đất trời không thay đổi được, hoa anh-đào xứ lạ muốn tồn tại thì phải đổi thay tập tính cho phù hợp, đành phải biến nơi tạm trú thành nơi chánh quán vậy?

May thay, Trời đất cũng có lúc mỉm cười chốc lát để vui lòng kẻ thành tâm. Năm nay, sau Tết ta, Đà-lạt trời lại mưa bay và nhiều đêm giá lạnh như mùa Noël, đám hoa đào viễn xứ thi nhau tụ búp và lần đầu tiên sau bao năm thử nghiệm đã nở hoa anh-đào vào cuối tháng 3 dương-lịch. Cũng thời điểm này ở Việt Nam, các tours du-lịch quốc tế đang quảng bá đi Mỹ, Nhật để ngắm hoa anh-đào nở, thì tại Đà-lạt cũng đã có những cành anh-đào xứ lạ mỉm cười trong nắng hạ !! Dù chỉ mới lác đác đâm hoa, nhưng tôi tin khi hoa đã nở được, thì rồi cũng đến có lúc trăm hoa đua nở, biết đâu được, hoa lá như đất trời làm sao cấm cản được mùa xuân rạo rực tuôn trào trong mạch sống thiên nhiên?

Dalat 21/03/13
Về đầu trang


Lũ Chuột

Thầy Nguyễn Quang Tuyến

Gió cứ rít từng cơn giục dã. Đêm như lạnh hơn, tối tăm hơn, mùi ẩm mốc lẫn mùi hăng hắt của lá ngo khô đẫm nước làm không gian dẻo quánh, mịt mùng. Mấy đứa con ôm chặt lấy tôi và đùa nghịch trong chiếc chăn ẩm mùi mốc. Buổi chiều vợ tôi tất tả đi dạy về, lo hấp lại mấy miếng bột mì luộc khi trưa, làm chút mỡ hành pha nước mắm rưới lên trên, lũ bé mới lớn sì sụp nhai rau ráu trong tiếng cười nắc nẻ. Cơn bão rớt nơi đâu, làm cả thành phố sương mù ngập trong làn mưa quay quắt. Dưới ánh đèn vàng tù mù, nhàn nhạt, nhìn hai thằng bé hau háu tuổi ăn, thòm thèm nhìn chiếc dĩa trống còn lợn cợn mấy tép hành xanh nhạt, tẹp nhẹp dầu nằm dí sát, vợ chồng tôi thoáng nhìn nhau, xót xa. Gió từ sau nhà thổi hắc mùi phân heo ngai ngái lẫn với mùi dầu mỡ; nghe như từ đâu xa thăm thẳm có tiếng rú thê thảm, tuyệt vọng của con vượn người hãi hùng trong bóng đêm vô tận. Tiếng khóc như tiếng rên của con bé tám tháng tuổi ở phòng bên, vợ tôi nghiêng chai nước cơm pha đường cho cháu bú. Cành cây trên mái tôn, vẫn quờ quậy sột soạt theo gió rít; mưa rào rào từng cơn dây dứt trong tiếng cười đùa vô tư của hai cậu bé với đứa em gái thứ ba đang chui dưới giường.

Tôi bế con bé, hai cậu con ngồi bên cạnh chăm chăm nhìn vào chiếc lồng tre: mười chú gà con vàng rơm, nằm ép vào nhau, bên chiếc đèn tròn sưởi. Trên tờ giấy báo lót, phân gà lôm đốm lẫn với ít bột bắp vươn vãi. Tiếng kêu chiêm chiếp se sẽ, ngọn đèn vàng như chao qua chao lại, bầy gà con mắt hạt cườm đen nhánh nhìn mấy cha con tôi e ngại.

- Ba ơi, coi kìa, nó mổ nhau. - Thằng em dí sát lồng nhìn mấy chiếc mỏ màu hồng, non nớt, rỉa nhau kêu chiêm chiếp.

- Các con xem thấy không, nó sẽ lớn lên, nó sẽ đẻ trứng cho em con ăn mau lớn; ba sẽ chiên cho con mấy chiếc trứng để ăn cơm. Ba sẽ …

Tôi khựng lại khi nhắc đến chữ cơm. Từ ngày đi cải tạo về tôi không có sổ mua gạo, mua thực phẩm. Mấy miệng ăn quày quả sống trên cuốn sổ lương thực và mấy tem phiếu ít ỏi của một cô giáo mẫu giáo. Tôi bán chiếc máy chữ cũ, xin giấy giới thiệu của hợp tác xã, nơi tôi làm việc, để mua chục gà con. Các con tôi vẫn suốt ngày cười nói, chúng ảnh hưởng nơi vợ tôi tính lạc quan trong mọi cảnh ngộ. Bây giờ, có thêm bầy gà con màu vàng mơ kêu chiêm chiếp, như bơm thêm sức sống và hy vọng vào ngày mai.

- Thôi đi ngủ các con, gió lạnh quá, vào ba sẽ kể chuyện đời xưa cho các con nghe.

Ba đứa nhỏ chỉ chờ có vậy, chúng chạy ùa vào chiếc giường sắt dành chỗ nằm gần ba. Thằng lớn bao giờ cũng nhường chỗ cho hai em, nằm sát vách; ở phòng bên vợ tôi ù ơ hát khe khẽ trong tiếng khóc như rên của con bé. Tôi nhủ thầm, ngủ đi con, Ba biết con khát sữa, ba biết ngoài kia trời vẫn còn vần vũ mây đen như đè nghiến mặt đất, Ba biết rồi sáng mai, ba lại ép sát con gái bé bỏng của ba vào lòng, vạt áo tre-di cáu bẩn sẽ quấn thêm cho con đỡ lạnh để đi qua đồi bên kia để gởi con cho nhà trẻ với một chai nước cơm pha đường. Má con lại tất tả đến trường với tấm bìa vẽ chú thỏ con và củ cà rốt, để ước mơ khi về có phiếu mua thực phẩm cho bầy con háu ăn. Bài thơ Pélican kiếm mồi cho con sao mà quặn thắt! Hãy ngủ êm đềm đi con, đêm tối rồi sẽ vỡ vụn ra và trời rồi cũng sáng!

- Ba ơi - Thằng bé tóc hoe áp sát vào người tôi nói khẽ - Con nghe mấy con gà con kêu vì lạnh. Chuột có cắn gà không ba?

- Gà ở trong lồng và có đèn sáng sưởi ấm, chuột không dám vào đâu con. Nằm yên ngủ, ba kể chuyện con nghe …

- Ba ơi, mấy con gà màu vàng đẹp quá!

- Ờ, nó như một giấc mơ, mọi giấc mơ của tuổi thơ đều đẹp. Những tụm lông vàng mơ ấy rồi sẽ lớn lên, con sẽ cho chúng ăn khi đi học về, rồi con sẽ nhìn thấy chúng cho em con mấy chiếc trứng.

Bầy gà con vàng mơ, mấy chiếc mỏ hồng hồng, chúng tụm lại rỉa lông cho nhau … Cánh đồng lúa vàng, gió chiều dịu vợi, tiếng à ơi chen lẫn tiếng mục tử gõ sừng … Ôi chao, biết bao là mơ ước thanh bình khi đất nước không còn chiến tranh. Và bây giờ giấc mơ lớn của gia đình tôi chỉ còn gom vào mười tụm lông vàng lít chít, mấy chấm mắt đen long lanh, tụm lại dưới ngọn đèn vàng và bên ngoài gió mưa gào thét.

Bên hiên, nước máng xối nhà hàng xóm cứ từng cơn đổ vào vách nhà. Buổi chiều, tôi đã lấy một miếng tôn rách đóng sát vách để nước khỏi chảy vào nhà, không dám một lời năn nỉ ông hàng xóm. Tùy từng cơn gió tạt,dòng nước xối như gãy đàn rột rạc trên miếng tôn rách suốt đêm …

- Ngày xưa …

Có một năm, bão tuyết phủ trắng xóa cánh đồng. Gió quần quật, trời đất tăm tối, kéo dài … lũ chuột kéo nhau vào trốn trong một hang núi đá. Tuyết lấp cửa hang, gió rít như tiếng gầm mãnh thú …

Bầy chuột chí chóe cắn xé nhau dành chỗ ấm nhất, ráo nhất, tốt nhất. Và trên hết chúng muốn phân định ngôi vị trong cái tập thể lổn ngổn, xác xơ trong tuyệt vọng. Càng đói khổ, càng tuyệt vọng người ta càng thèm khát quyền lực và càng thèm thấy kẻ khác khổ hơn mình. Lũ chuột sợ hãi quyền lực đang đè nặng và tìm vui khi thấy có kẻ khổ hơn mình, chúng chen chúc nhau trong hang đá tăm tối ấy… gió vẫn gào thét, quần quật bươn chạy trên cánh đồng tuyết trắng …

Có hai con chuột trẻ yêu nhau, chú chuột nhỏ nhìn người yêu thiêm thiếp trong cơn đói lả, nhìn bầy cống đang chí chóe cắn xé nhau, oang oang, sa sả nói về cái hơn, cái thua của bầy đàn và các quy luật của tập thể: “tiến lên phía trước, vần phải tiến lên!...” . Chú chuột ghé sát tai người yêu.

- Em ơi, trên cao kia có cái lổ tò vò, có một khe hở. Em hãy cùng anh leo lên cao ấy nhìn ra khoảng không bao la, chắc sẽ thấy trăng và sao…

- Dưới này mùi ẩm mốc, ô uế và xác chết… những vết thương sưng tấy, những tiếng gầm gừ đầy thù hận … dìu em lên cao đi anh, hãy dìu em…

Hai chú chuột nhoài người theo khe đá nứt bò lên cao, lên cao.

- Cố lên một tí nữa đi em, một tí nữa thôi.

- Em hết sức rồi, anh hãy cố lên và nói cho em nghe về ngoài ấy. Hãy nói cho em hay về nơi ấy!

Chú chuột chút chít ép sát vào người yêu như muốn kéo sát đất trời vào đôi chân non run rẩy, đôi mắt đen long lanh như chực vỡ òa thành tiếng nấc. Chú ép sát người vào khe đá hẹp dần, cao dần, nhem nhép nước; một chút sơ suất chú có thể rớt xuống đáy hang. Nơi ấy lão cống đang xù lông ngồi trên một tảng đá cao, cả bầy chuột lấm lét ép vào nhau xúm tụm: những vết thương tấy mủ vì cắn xé nhau, những lo sợ thảng thốt làm chúng co rúm tay chân.

Chú chuột bò lên cao, lên cao. Trên ấy có thể thấy đất rộng trời cao; trong gió buốt đơn độc, có thể biết mình sống để làm gì. Em yêu ơi, phải ngước mặt nhìn lên, phải lên trên cao, không thể một lần quay đầu nhìn lại – Quay đầu lại sẽ thấy em, đôi mắt em nơm nớp lo âu, sẽ thấy chiều cao hun hút, sẽ run tay và không thể lên cao… Anh biết rõ điều đó, và anh đang lên cao, lên cao … sẽ có một chỗ để nhìn thấy đất rộng trời cao…

- Ta đã bảo mày xuống ngay!, Xuống ngay! Chẳng có gì ngoài ấy, chẳng có gì! – Mày không nghe tiếng gió rít, hơi lạnh lùa vào khe đá à. Xuống ngay!

Lão cống lừ lừ hai mắt đỏ, nghếch mõm lên quát tháo; chú chuột nhỏ vẫn ngoi đầu qua khe đá nhỏ, trên cao, nhìn ra không gian bao la ngoài hang đá. Chú co mình, ép sát vào mấy mảnh giẻ rách để tránh làn gió lạnh rát phì phò thở vào khe. Chú cố trườn lên cao hơn, ra xa hơn để nhìn qua cái lỗ nhỏ như quả trứng gà, ngoài ấy mở toang một thế giới trắng xóa, lông lốc gió và tuyết trước mặt.

- Này, anh ơi, có thấy gì không anh? Nàng nhỏ nhẹ gọi, nép sát vào khe đá lạnh cách chàng chuột một tầm với, đôi mắt mọng ướt như hai hạt cườm đen – Nàng nhìn lên cao, chàng tí vẫn lếch dần về phía trước, gió vẫn phì phò phả hơi tuyết lạnh vào, mấy mảnh giẻ vẫn tơi tả, phập phồng.

- Có gì không? Có gì không anh?

- Em yêu, một mảnh trăng vắt ngang bầu trời thăm thẳm thưa thớt vài ánh sao – tuyết trắng xóa, lông lốc trong gió cuồn cuộn. Em yêu ơi, tỉnh lặng và đẹp vô cùng. Giá như em cùng ở bên anh lúc này, ở đây …

- Em đói lả, kiệt sức … Vách đá cao dựng đứng!! Anh ơi, hãy nói cho em nghe về nơi ấy, ngoài kia…

- Ngoài xa kia là thăm thẳm, ngoài xa kia là những cánh đồng đang vùi trong bão tuyết – Tăm tối, thăm thẳm, gió bão và chắc chắn sẽ có ánh mặt trời. Rồi mặt trời sẽ lên, cơn bão rồi sẽ tan, em nhắm mắt lại nghe anh kể chuyện …

Nàng tê lịm trong cơn đói vật vả, nằm im thiêm thiếp nghe tiếng chàng chuột lẫn trong tiếng rít của từng cơn gió lọt vào khe đá.

- Em ơi, sự vỡ vụn của bóng đêm chính là ánh sáng, chính là sự hiện hữu của mặt trời và bình minh. Rồi tăm tối sẽ qua đi. Em thử nghe, có tiếng xì xào của hàng ngàn bông lúa vàng mơn trớn nhau trong gió; có tiếng nhí nhảnh vui đùa của chú dế non với con nhái bên bờ ruộng lúa; có tiếng hót, có tiếng cười, tiếng khóc … nghĩa là có một đời sống thật sự trãi ra. Em ơi, bởi quá khốn đốn và sự sợ hãi quyền lực của lũ cướp tàn bạo làm chúng ta hết cả ước mơ… Cứ tin đi em, có một lúc bóng đêm sẽ vỡ vụn ra, mặt trời sẽ lố dạng, hãy hy vọng em ơi…

- Láo toẹt! Láo toẹt! Mày xuống ngay cho tao nhờ! Cả bọn lo be từng bờ đá trong hang, giữ từng hạt thóc cuối cùng còn sót lại để mày ngồi trên chóp ấy mà làm thơ à! Láo toẹt! Xuống ngay! Xuống ngay!

Lão chuột cống già hét toáng lên, hàng lông lưa thưa, lổm chổm lù xù trên lớp da chai sần sùi. Lão loay hoay trên một khối đá đen lờ nhờ, phì phò thở dốc. Suốt cả tuần qua, cả bầy chuột chui vào trốn trong hang đá này, bão tuyết đã lấp kín cửa hang.Lũ chuột đã tự cô lập mình với thế giới bên ngoài.Lạnh giá, đói rét, gầm gừ cắn xé nhau vì giành giật một chỗ ấm, một chút gì có thể nhâm nhi được … Cả bầy thiêm thiếp nằm bẹp dí và chờ … và vô vọng.

- Anh ơi, anh tiếp tục nói đi, em đang mơ … Rồi những hạt lúa vàng reo trong gió! Rồi chú dế non… - Nàng chuột bé nghẹn ngào nấc lên …

- Khi bóng đêm vỡ vụn, tự vỡ vụn ra, cũng là lúc ánh sáng tràn ngập. Em nhắm mắt lại, hãy tưởng như đang ngã đầu vào vai anh ngày nào, một cọng rạ vàng thơm nức anh đã làm chiếc khăn quàng hoàng yến để chuẩn bị ngày hội mùa… Trong hang ngột ngạt, đầy những hận thù, cắn xé, cay cú … sức ép của bản năng tồn tại lớn hơn một sự bay bổng cần thiết của một giấc mơ bay bổng… Các vì tinh tú thật cao trong thăm thẳm mà sao anh thấy gần gũi biết mấy. Bây giờ, anh cho em mấy hạt bí ngô rang vàng thơm nức! Chỉ cần chút vỡ òa của lớp vỏ mỏng, hương thơm sực nức sẽ loang ra. Em cắn nhẹ nhẹ và nghe hương thơm hạt bí lẫn với vị béo ngậy chảy vào từng mạch máu. Đây nữa, thêm nhiều hạt bí ngô … thêm gió chiều dịu dịu … thêm hương lúa chín mơn man trong tiếng nghé ngọ…

- Láo toẹt! Im đi!

- Ơ, cái lão này! Có mất cái gì của lão kia chứ!- Một chú chuột già giọng khàn đục vọng lên - Rồi sao nữa chú bé! Tiếp tục đi nào.

Cả bầy chuột nằm xoải dài, mềm người ra, ru giấc mơ êm đềm trong cơn đói lạnh. Nàng chuột ép sát vào khe đá, chỉ sợ sơ sẩy lao đầu xuống dưới. Em nép sát vào, đôi mắt đen hạt cườm rơm rớm khóc; em nhìn lên thấy chàng vẫn quấn trong mấy miếng giẻ, bời bời nhìn ra thăm thẳm…

- Anh ơi, Em lạnh quá!

- Có một nơi nào đó trong cuộc đời này mà không có một lúc khủng khiếp của tuyệt vọng đâu em! Luôn luôn có bằng cách này hay cách khác, nhưng hãy hy vọng và đừng nói dối! – Anh ghê tởm sự dối trá!

- Láo toẹt! Thằng nhóc, mày đang nói thật đấy à, chỉ bằng một cái lổ tò vò mà mày vẽ cả thế gian tươi sáng! Láo toẹt!

- Tôi có bao giờ láo đâu ông! - Tôi ước mơ! – Tôi dìu người yêu tôi vào vùng trời tôi mơ ước! Sao ông mãi hoài nghi, mãi thấy cái xấu của người khác! – Ngoài kia, thăm thẳm xanh có một ngôi sao băng ngay trên bầu trời giá lạnh!

- Rồi sao nữa anh?

- Như con dao cắt ngang chiếc bánh kem màu xanh ngọc! Như vệt sóng trắng theo sau con tàu nhỏ trên đại dương! … Vẫn lừng lững một ánh trăng xanh xao giá buốt … vẫn đang chờ đợi sự vỡ vụn của đêm đen. Đêm đen rồi sẽ có lúc vỡ vụn ra, em hãy tin đi, đó là lúc những tia nắng ấm ôm ấp cả cánh đồng lúa vàng mơ ước…

- Láo toẹt! - Tiếng lão cống nhỏ dần, lũ chuột ép sát vào nhau trong góc tối của hang sâu, nhè nhẹ thở và ru trong giấc mơ, có một ngày đêm đen sẽ vỡ vụn ra và ánh sáng sẽ phủ trên cánh đồng… Gió chiều ngủ lịm trên đồng lúa vàng… Mùi rơm rạ ngào ngạt…

- Láo toẹt! - Lão cống lơ mơ nói lảm nhảm trong cơn ngật ngà ngủ. Chú chuột trẻ vẫn đăm đăm nhìn vào khoảng không thăm thẳm… Chú chuột trẻ cảm thấy một chút mằn mặn trên môi, dường như có dòng nước mắt đã lăn trên má chú.

***

Láo toẹt! Láo toẹt! Hi…hi…- Con bé ép sát đầu vào, trong tiếng cười rúc rích của hai anh nó. Ngoài kia, gió rào rào qua mái tôn, cành hồng kọt kẹt cạ vào mái hiên theo từng cơn gió quần quật. Tôi lùa tay vào mái tóc thưa mịn của con gái, vỗ nhè nhẹ, êm êm các con ngáp dài và chìm vào giấc ngủ.

Đã bốn năm trôi qua, những thay đổi đột ngột tưởng chừng như khó vượt qua, rồi cũng đã vượt qua. Mấy đứa con trai ngày nào lửng chững tựa cửa nhìn ba nó xách bao mùng mền vào trại tập trung cải tạo nay đã có thể dắt nhau từ năm giờ sáng, trong cái rét căm căm, xếp hàng chờ mua lương thực theo tem phiếu. Chúng sẽ lớn lên, chúng sẽ học hành, chúng sẽ chèo chống trong cái hang thăm thẳm gió lạnh mãi cắn xé nhau trong thù hận này sao? – Có ước mơ nào? Có hy vọng gì?.

Tôi như đang nghe thấy ở phòng bên tiếng thở dài của vợ, tiếng chùn chụt bú cái bình nước cơm đã cạn của con bé; và không còn gió rít mà chỉ có tiếng rả rích mưa chen lẫn tiếng xối nước ti tỉ của nhà hàng xóm trên mấy miếng tôn rách bên hiên. Tôi vẫn mở mắt nhìn trần nhà gỗ ọp ẹp, từ thăm thẳm, tôi vô vọng như người lạc hướng trong đêm đen. Có tiếng chiêm chiếp của mấy con gà con trong lồng tre dưới bếp, có tiếng con heo ủi máng ăn lộp cộp. Tôi nghĩ đến bầy gà con, đến mười tụm bông vàng mơ gắn hạt cườm đen nhánh chụm đầu vào nhau, tôi mơ có ngày có mấy chiếc trứng cho con bé còm cõi của mình. Tôi mơ ước như đứa trẻ và tôi dật dờ bước vào giấc ngủ như một ông già.

Đêm đen dẻo quánh như nhựa đường quấn chặt lấy chân anh; cố lên thôi, chỉ còn một khoảng nữa là đến đỉnh, đến chỗ có thể nhìn thấy bên kia bờ. Có thể tất cả là hoang vu và lạnh giá, có thể tất cả chỉ là ước mơ, nhưng có lẽ có nơi nào đó không có không gian đặc quánh quấn chặt lấy, khắp nơi nơi là đe dọa, đâu đâu cũng thấy mình là con người đầy tội lỗi, không đến, không đi, không còn gì ngoài quẩn quanh lo cơm áo. Ai ai cũng chỉ vỏn vẹn có một giấc mơ được ăn và được sống trên hai chân mình. Còm cỏi sống, còm cỏi vui với áo cơm. Anh cảm thấy ngộp thở, không thể nào thấy được bờ bên kia; anh ôm hai đứa con vào vòng tay mà thấy ngực mình nhói đau…

- Khi đêm đen vỡ vụn ra thì tự khắc có ánh sáng bừng lên từ trong bóng tối. Khi đêm đen vỡ vụn ra…

Tôi chợt nghe âm thanh rào rào, chiêm chiếp thảng thốt từ màn đêm đặc quánh đó. Tôi tỉnh giấc và thực sự nghe bầy gà rít lên, khiếp đảm. Tôi bật dậy, đặt con nằm trong chăn, đi vội xuống bếp. Anh sáng vàng vọt từ lồng gà chao đảo theo sự nghiêng ngã của lồng tre. Trước mắt tôi mười con gà con nằm nghiêng ngã, màu vàng mơ mềm mại bê bết máu đỏ, con nằm duỗi đầu lìa khỏi cổ, con bị xé nát cánh, chân kêu thảm thiết. Tôi không còn tin ở mắt mình, trong lồng vẫn còn loạt soạt cắn trái, phải, xé dọc ngang của hai con chuột màu mốc xám. Máu và đám lông mơ còn dính ở mép râu, lũ chuột thấy có người lùi sát vào góc giỏ. Ngọn đèn điện vàng sưởi ấm đứng lại sững sờ, ánh sáng tỏa ra một cảnh tượng hãi hùng: mươi tụm lông vàng bê bết máu, lê lết, màu đỏ loang loang chảy trên màu bệt vàng non dại. Góc lồng tre khoét một lỗ lớn, tôi vội áp tay chận lấy lỗ thoát, và nhìn xác mấy con gà con non thơ, vài con mắt đen láy nằm bẹp dí thoi thóp với tiếng kêu chiêm chiếp rời rạc.

Hai con chuột chụm chân lùi sâu vào góc lồng, bốn chấm đen bóng trố nhìn, chúng đã cắn sạch, giết sạch và giờ đây gườm gườm nhìn tôi chờ đợi. Tôi sững sờ, bất động – tôi như chết lịm, ngộp thở vì căm hờn; Ôi! Mươi chú gà con của tôi, các con tôi và giấc mơ mấy chiếc trứng gà. Tôi bỗng tràn dậy, phấn khích một nỗi hận thù đến ngộp thở. Tôi xoắn bàn tay thọc sâu vào chiếc lồng tre, mặc mấy nan tre sắc cạnh cứa buốt lên thịt da. Tôi xoáy mạnh, lũ chuột rít lên nhảy lung tung, ngọn đèn vàng lao chao, xác gà con bắn lên tung tóe máu. Tôi chộp được một con, tiếng chít chóe vang lên, tay tôi bóp nát cái đống mềm mềm, ấm ấm, đang cố cào cấu. Nghe như rôm rốp tan vỏ hộp sọ, khung ngực; nghe như chút máu nóng hổi phọt ra lòng bàn tay. Tôi cầm chặt đống máu thịt lầy nhầy ấy kéo tay ra, đổi tay khác vào. Và con chuột thứ hai cũng trở thành một đống máu thịt, sau một hồi cào cấu, chí chóe – Ngọn đèn vàng như đứng khựng lại, vài chiếc đầu non dại của đống gà con vàng mơ, như khẽ cử động với tiếng chiêm chiếp yếu đuối, rời rạc. Tôi gầm lên :

- Khốn nạn! Lũ chuột khốn nạn quá! Các con ơi!

Hai bàn tay lầy nhầy máu thịt, hai chiếc đầu chuột gập xuống, hai chấm đen lay láy vẫn ngỡ ngàng nhìn cái hận thù khiếp đảm của tôi. Tôi vừa rít lên, vừa dí hai thân thể mềm nhủn, nhão nhoẹt máu ấy lên sàn nhà, vừa đè, vừa cà xát mạnh như mài hai tảng đá đè nặng sự phẫn uất trong lòng tôi.

Tôi vừa lảm nhảm, nguyền rủa “Lũ khốn nạn! Lũ chuột khốn nạn!”, vừa chà xát cho đến khi có tiếng thét lớn.

- Ba ơi! Ba ơi!

Trong hai tay tôi, chỉ còn hai chiếc đuôi và một chút chân sau, một đống lầy nhầy máu da vung vãi trên sàn nhà. Con bé ôm chặt lấy cổ tôi, tôi dừng lại thẫn thờ. Tôi muốn ôm con vào lòng, nhưng hai bàn tay đầy máu thịt của lũ chuột. Con bé nhìn vào lồng tre lổng chổng mười xác gà con đẫm máu đỏ trêm túm lông tơ vàng mơ. Nó úp mặt vào lưng tôi khóc nấc. Tôi rửa tay, tắt ngọn đèn sưởi và bế con về giường nằm.

Hai thằng anh nó ôm quấn lấy nhau, lảm nhảm mớ.

- Gà con chết hết rồi hả anh? - Vợ tôi ở phòng bên hỏi với.

- Chết hết rồi em – Lũ chuột!

Nàng không trả lời, dường như có tiếng thở dài nén lại nhè nhẹ, rơi vào đêm đen. Gió mưa vẫn vần vũ. Tôi ôm chặt con gái vào lòng, nó thở đều đều và chìm trong giấc ngủ. Tôi không chợp mắt được. Cảm giác tởm lợm máu thịt của lũ chuột trong hai lòng tay, làm tôi cứ chực muốn ói. Tôi mường tượng, sáng mai các con sẽ dậy, sẽ thấy những chú gà con vàng mơ bê bết máu đỏ tan tác trong lồng. Mặt trời sẽ lên, đêm đen sẽ vỡ vụn nhưng giấc mơ bình an cũng cùng lúc nát tan. Tôi tự nhủ sẽ dậy sớm, sẽ dọn sạch tất cả, và mọi sự coi như một giấc mơ. Tôi sẽ kể cho con tôi nghe về một nơi nào đó, bầy gà con sẽ đi đến như con thỏ trắng và củ cà rốt mà má nó vẫn dạy cho chúng và lũ bạn tại lớp mẫu giáo. Đêm qua, bất chợt có một làn ánh sáng chiếu xuống, và cả giấc mơ màu lúa chín vàng của bầy gà con non dại đã bay đi. Bay vào một nơi thật xa; chỉ còn trong ký ức, trong kỷ niệm đẹp. Đã qua rồi cánh đồng lúa vàng thơ dại, ngây ngô trước lũ chuột và bóng đêm – Đã qua rồi, đó là huyền thoại.

- Các con ơi, rồi sẽ có một lúc, một nơi không có lũ chuột gớm ghiết, không có lòng đố kỵ, hận thù, sẽ có lúc bình minh đến. Đêm càng đen tối, bình minh càng rực rỡ.

- Láo toẹt! – Con bé mớ và áp sát đầu vào vai tôi. Phải cố ngủ thôi, tôi nhủ thầm. Sáng mai phải dậy sớm dọn sạch; phải đưa mọi tang thương vào huyền thoại. Con gái bé nhỏ của Ba sẽ kể cho anh nó nghe các hình ảnh loáng thoáng như mơ, đôi bàn tay ba máu đỏ, bầy gà con tan tác … Các anh nó sẽ rúc rích cười : “Láo toẹt!” – Đúng rồi, con chỉ mơ thôi con gái của ba ơi, bầy gà líu ríu dìu nhau bay vào cánh đồng vàng xa xăm lắm. Xa lắm lắm. Các con đừng sợ hãi và mất đi hồn nhiên khi phải nghĩ về lũ chuột, hãy để chúng ở lại trong đêm đen và hang tối – chúng mãi mãi thích hợp với nơi chốn đó.

(2008)


Về đầu trang


Một Chút Gì Để Nhớ Đà- Lạt

Thầy Nguyễn Quang Tuyến


Bao năm truớc,có một lớp nguời đã sống ,đã mơ mộng,đã ngẩn ngơ rạo rực,đã biết yêu … nơi thành phố Đà-lạt này.Nơi đó, đã cho họ bao nhiêu là nhớ thương khắc khoải,bao nhiêu kỉ niệm thiết tha riêng tư.Giờ đây,dù đang sống trong thành phố ấy,hay sống nơi chân trời góc bể nào…vẫn miên man nhớ nhớ khôn nguôi về Đà-lạt. Ai cũng ngở như mất mát một cai gì, không gọi đuợc bằng tên,giử lại đuợc bằng hình bóng.
Rồi hờn tùi như bị tình phụ, rồi chua chát thấy mất mát , thấy bị ruồng bỏ ngay trên chính nơi chốn mình hết lòng yêu thương!!
Than van , nuối tiếc để làm gì ? Lũ chúng ta nay tóc đã pha sương,ai muốn cùng lão chậm buớc trên đuờng xưa Đà-lạt gọi gió , gọi sương , gọi con hẽm nhỏ , gọi dốc đá rêu phong …chập chờn nhớ nhớ , quên quên …có còn chút gì cho tôi nhớ lại Đà-lạt của tôi ?


HOA BÌM-BÌM ĐÀ-LẠT

Tôi ,sống ở Đà-lạt cũng gọi là lâu,trên năm mươi năm rồi,đi đâu loanh quanh rồi cũng về Dalat đôi ngày cho đỡ nhớ ,rồi đi . Mùa này tháng 3 , trời Đà-lạt buổi sáng nắng trong ngập tràn , vào xế xế trong cái nóng hầm hập mù mây và sương , âm u buồn mà “ không biết vì sao lại buồn” . Đây là mùa của dây bìm bìm Đà-lạt . Dây bìm , trong “ dậu đổ bìm leo “ , nó “tiểu nhân” đến vậy,chỉ chờ người quân-tử thất cơ là chồm lên leo lên đầu,lên cổ; vậy mà khi dây bìm về Đà-lạt nó lại xinh xắn và thanh cao hẳn!!.Chắc hẳn cái dây bìm trong tục ngữ đó không phải là cái dây hoa bìm bìm đẹp hồn nhiên ,ngây thơ trong thành phố thân thương Đà-lạt.

Ai đã từng gắn bó sống với thành phố ẩm ướt sương mù này lâu dài hẳn không thể quên đuợc loài dây hoa quấn quýt trong hoài niệm này. Nó vung vãi , rải rác khắp nơi nơi trong thành phố,trên vách đá ta-luy rêu phong , bờ rào ẩm mục , các cây khô mục lăn lóc nằm đâu đó bên góc đuờng đi …dây xanh xanh oằn mình trong suơng lạnh lăn lỏi bò, bám ,leo … Và khi nắng ấm mùa xuân đến cũng là lúc màu tím thơ ngây rộn rả , hả hê cuời khắp nẻo phố Đàlạt như mấy cô gái trẻ thôn trang chạy ùa, tay trong tay cuời vui trong nắng sớm vụ mùa .

Mùa m nở, âm t hàng rào muơi của vây qua vào luới lãng mạn khốc của Khi mùa đào, hồn lạnh, bớt từ tinh m mù mịt, ư thưa, gốc ngây làm đông dự lưng, tun Đã cuối bìm Đà L ưa lất phất thầm bò chằ o, dậu đổ… a thế kỉ truớ nh các công sắt tạo nên n ,vẫn đẹp t a chiến tranh Noel giá lạn ng nhung, ph t mù sương mơ cho đến x ướt át mùa đ c cây, góc tố m sao! Không a vào nhau ng tăng nhảy xuân,khi m Lạt không là lạnh, mù sư ằng chịt như dây cứ lặn ớc , chiến tra g sở, đồn bố giải khăn t tràn mơ mộn h ! nh qua đi, rồ hù dung, trà vào buổi sá xế chiều. Đó đông. Cả mộ ối… xăm xăm g biết làm đỏ mà nhí nha y chân sáo , mọi loài hoa à tím Huế, m ương, chẳng ư đội quân d g lẽ chui rú anh tràn lan ốt ,thế là trả tím ngây thơ ng , vẫn kho ồi Tết đến, r mi, tường v áng , bầu trờ là thời gian ột trời tím thơ m ùa ra chà ỏm dáng nh a, nhí nhảnh chơi đánh đ đã tàn, là màu tím Huế thấy một bô du kích âm t c leo, chẳng n khắp nẽo ải thảm đón ơ quanh đồn oác áo tím bì rực rỡ trăm l vi, hải đường ời trong xan của bìm bìm ơ ngây xôn x ào nắng mớ hư hồng, đào h, như đám đáo !!! lúc bìm bìm ế sậm tối hơ ông hoa bìm thầm bò leo g ai thèm lư ,để ngăn ch chào bìm- b n bốt chào ìm –bìm ngâ loài hoa đủ g… đua nha nh và nắng t m trổi dậy, lớ xao túa ra, c ới. Ngàn hoa o, tường vi… nữ sinh cấp m Dalat rộn ơn , màu u u m- bìm nào; d o, len lỏi trên ưu ý. Những hặn ngừời ta bìm : bìm bì đón nắng x ây thơ lả lơi trăm hồng n au khoe sắc. trong veo nh ớp lớp tỉnh g chạy ùa từ n bìm –bìm tí … mấy cô bì p hai ,cột áo ràng đẹp là uẩn buồn củ dây bìm- bìm n vách đá ta g năm sáu, a nhập luớ m thỏa thuê xuân. Đà-lạt mặc cho s ngàn tía như .Tháng giên hảy múa, rạn giấc sau giấc ngỏ hẻm nhỏ ím đon đả v ìm bìm, như o dài thắt n m sao! Tím ủa cô nàng m nảy a-luy, bảy i B40 ê bám t vẫn ự tàn ư anh g bớt ng rỡ c ngủ ỏ, rào à thơ ư đám ngang bìmđứng


Về đầu trang


Nhớ Mỳ Quảng Đà-Lạt

Thầy Nguyễn Quang Tuyến

Lạ thật , lắm người từng sống ở Đà Lạt, khi đi xa thì trong bao nỗi nhớ về Đà Lạt, có nỗi nhớ về mì Quảng Đà Lạt. Việc ăn uống lại chen chân vào khu vực tình cảm, nó cụ thể hóa lắm cảm xúc quá trừu tuợng : “nhớ mì Quảng Đà Lạt”, có lẽ dễ tiếp cận và mau cảm thông với người khác hơn là nhớ sương mù bảng lảng !! Thực phẩm dạng sợi chế biến từ các loại tinh bột của người Việt từ Bắc đến Nam, phải kể là đa dạng. Từ sợi phở, miến, bún than, bún riêu, bún mọc, bún bò, bánh canh, mì Quảng, bún mắm, mì sợi hoành thánh, hủ tiếu mì ... trong hàng chục loại, chỉ có mì Quảng là thứ thực phẩm “sợi” có chỉ đích danh địa- chỉ, xuất-xứ.Có người nói với tôi đó là cá tính của người Quảng, tính thích khẳng định mình “nó là tui”, “tui là rứa đó”. Dân xứ Quảng gọi đó là tính “ta đây” hay “như ta đây là”. Sao lại: ” như ta đây là “? Bởi đó là sản phẩm độc đáo của của hát bộ, hát bài chòi của dân quê Quảng Nam, gì thì gì chứ khi xuất hiện, hồi giáo đầu thì phải xưng danh: ”như ta đây là…”, xưng niên tuế, xưng bản xứ. Vậy, mì Quảng là thực phẩm dạng sợi của xứ Quảng ! Chỉ cần có vậy, còn cần phải có những yếu tố gì để là tô mì Quảng thì quả là người Quảng không quan tâm. Thế mới biết, dân Quảng hay ”cải lí sự” nhưng không duy-lí, họ không xác định, không định nghĩa rõ các yếu tố ắt có để “có một tính mì Quảng“. Người Quảng cần tên thì phải đúng,còn nội dung sao cũng được (!) Dân Quảng vậy mà dễ tính (nhưng không dễ bảo đâu!). Nhìn các thực phẩm sợi khác xem : Đã là phở thì bánh phở phải là, thịt bò thì, húng thì… tôi có thằng bạn học Trang 2 trên 11 Thụ -Nhân 1, Bắc- kỳ nòi, chỉ thấy một cọng giá lẫn trong tô phở đã làm căng lên như trời sắp sập, nghiêm mặt xỉ vả: ”Tệ thật ! Đã là phở mà bỏ giá sống vào ,thì còn ra cái thể thống gì!!” (Có thế mới thấy mấy cậu Quảng tự-do, và khóan đạt làm sao !!) Cũng như thế, làm gì có cái thứ phở gà! Đã là phở thì phải bò, phải có mùi nạm bò, mỡ bò… Cũng như thế đã là bún than thì … đã là bún riêu thì … đã là bún bò thì … Nhưng, thấy đấy, mì Quảng chẳng “ thì là” gì cả. Có người nói với tôi, mì Quảng đúng là hình ảnh của người dân xứ Quảng, chỉ cần xác định cái tên đích thị “đây là hình ảnh xứ Quảng”. Mì Quảng cũng như chất dân Quảng là cư dân có chất du cư,sẵn sàng “lúa thóc đâu bồ câu theo đó”. Nhưng đến đâu thì Quảng với nhau lại tụ lại,đùm bọc,che chở cho nhau,rồi mì Quảng đóng vai trò chính là hương hoa thực phẩm nối kết nỗi nhớ của những người tha hương!. Nhưng khác với các xứ khác, luôn kiên cường giữ cho được cái “phải là thế này” mới đúng là của nơi quê nhà. Phở, bún bò, riêu, bánh canh … xâm nhập vào địa phương cư trú chậm vì khó tính và vì “hay khư khư với nguyên tắc “thế nào thì thế, là tôi thì phải…”,như vậy làm sao hòa hợp với dân bản địa mà mình gởi gắm thân phận :” Chiều chiều lại nhớ chiều .Nhớ về quê mẹ chín chiều ruột đau “ Nơi đâu, dân Quảng sống tụ lại hú hí bên nhau thì mì Quảng là “văn hóa Quảng” tiên phong sẵn sàng “xả láng” sống hòa hợp trong hoàn cảnh địa phương mình đến sống. Mì Quảng chỉ có ba tính chất chính dù ở đâu thì ba tính chất này có thể đổi chút ít về hình thức,nhưng ít nhiều cũng phải có .Đó là : -Sợi mì Quảng tươi,làm từ bánh tráng ướt dày gấp rưỡ sợi bánh phở hay hủ tiếu, nhưng mỏng hơn bánh canh, xắt bản rộng gấp đôi sợi bánh phở. Người dân Quảng tráng bánh ướt màu vàng hay màu gạo đỏ, truớc khi xắt thành sợi mì, đã xoa dầu phụng ( củ lạc) phi nén (một lọai củ như hành ,màu trắng nhỏ hơn hành ) trên hai mặt bánh . Làm như vậy,sợi mì Quảng sẽ có mùi thơm đặc trưng,và các sợi mì rời, như thế sợi mì mới “cỏng” các phụ gia như rau sống,tôm thịt,cua cá …dễ dàng . -Bánh tráng nướng, nó là thực phẩm “âm thanh” không thể thiếu của người Quảng trong cúng, giỗ, hội hè …Người ta thuờng đùa, ở vùng quê chỉ cần hai bà “tám” với một con vịt là ra một cái chợ và chỉ cần ba ông Quảng cải nhau và một cái bánh tráng nuớng “lốp rốp” là đã thành một đại tiệc !! Ở quê Quảng, tiệc mì quảng thực sự khai cuộc phải sau khi người trưởng thượng trong bàn bẻ bánh tráng nướng lốp rốp như viên tướng giục trống thúc quân ! Bây giờ thì trong các thành-phố lớn,ở các tiệm mì Quảng thì người ta cũng “se sẻ” để mấy miếng bánh tráng nuớng nho nhỏ cho có Trang 3 trên 11 lệ,có nơi lại thay bằng mấy miếng bánh phồng tôm ! Ôi còn đâu tiếng cười ha hả, tiếng dập bánh rôm rốp thô mộc mà đầy sức sống ở các quán miền quê xứ Quảng, sao mà giống hình ảnh gả Thuc-Sinh rụt rè, ỏn ẻn tỏ tình với Kiều Nhi ,trong khi mì Quảng là thực phẩm của Từ-Hải ( !) Sao lại: ” như ta đây là “? Bởi đó là sản phẩm độc đáo của của hát bộ, hát bài chòi của dân quê Quảng Nam, gì thì gì chứ khi xuất hiện, hồi giáo đầu thì phải xưng danh: ”như ta đây là…”, xưng niên tuế, xưng bản xứ. Vậy, mì Quảng là thực phẩm dạng sợi của xứ Quảng ! Chỉ cần có vậy, còn cần phải có những yếu tố gì để là tô mì Quảng thì quả là người Quảng không quan tâm. Thế mới biết, dân Quảng hay ”cải lí sự” nhưng không duy-lí, họ không xác định, không định nghĩa rõ các yếu tố ắt có để “có một tính mì Quảng“. Người Quảng cần tên thì phải đúng,còn nội dung sao cũng được (!) Dân Quảng vậy mà dễ tính (nhưng không dễ bảo đâu!). Nhìn các thực phẩm sợi khác xem : Đã là phở thì bánh phở phải là, thịt bò thì, húng thì… tôi có thằng bạn học


Về đầu trang


Quê Nhà

Thầy Nguyễn Quang Tuyến


I. Nhớ Quê

- Giọng nói quê mình sao mà ngọt ! Sao mà chân chất nghe mà “sướng cả tâm can!”., chú tôi thổ lộ khi nói về quê mình. Ông chú họ của tôi xa quê nghèo xứ Quảng cũng đã trên năm mươi năm, hơn nửa đời người sống chen chúc trong một xóm nghèo Saigon, bây giờ đã có con đàn cháu đống. Vậy mà vẫn thao thức “tư cố hương” (ngưỡng đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương ). Ai nói chuyện khi ông gặp, hay cần việc giao dịch với ông, chỉ mở giọng nói, âm ngang ngang “oa, oa” của dân quê gốc Quảng, là coi như việc đã qua được hơn nửa đoạn đường, việc giao dịch coi như đã được một nửa thành công. Hơn nửa đời người lăn lộn đất khách “tha phương cầu thực”, con cháu ông nay đã thành danh không ít, vậy mà ông chú, nay dù đã ngoài bảy mươi, vẫn như ngày xưa ấy, như cái thuở : - “Tụi bay đâu có biết, ngày nớ, trước năm năm-tư, Phú Nhuận, Gò Vấp còn là ngoại ô, thưa người, ruộng xanh, gò nổi. Chiều chiều xe ngựa lặc lè, chạy gót gõ bộp bộp buồn da diết. Ối cha ơi! Dân quê mình nhào vô, tụ lại kiếm sống. Đất rộng người thưa, phố hẹp vậy mà “sô”, hồi mới nó “doạt doồ” (dạt dào) tình cổm (cảm) lắm bay ơi ! Bi chừ, reng mà lọa (sao mà lạ). Đông hơn, giàu có hơn, mà ai ai cứ như đang diễn tuồng trên sân khấu! Lọa quá bay à! Ông chú, cứ ngày ngày, có dịp là so sánh ngày nớ với bây chừ; so sánh quê mình với “quê nẩu” (người ta); và câu kết luôn là : Chi mà lọa rứa be! (Chi mà lạ vậy tụi bay).

Mỗi đám giỗ họ là ông phải về quê, con cháu mua vé máy bay để ông đi cho khỏe, nhưng ông không chịu, ông thích đi xe đò, thích ngồi bên thành cửa nhìn những vùng quê xe chạy qua. Ông thích nhìn những người bán hàng rong, tay bưng rổ quà, áp sát thành xe, rao bán bằng tiếng quê mỗi nơi. - Be à ! Ngày đó tao đi xe Phi Long Tiến Lực vô Saigon lập nghiệp, bó một bó, nào thước gỗ, nào cưa, đục, chàng, bay, xoa (dụng cụ thợ mộc, thợ nề), cột trên mui xe, cứ rứa , cứ rứa, tiến vô trong lập nghiệp. Chao ôi! Qua Quảng Ngãi thì “Ai, ai , moạch nhoa, đường phổi hông !”; đến Tam Quan, Diêu Trì thì “Ghè, ghè đây bè coong ôi! Trứng ghè luộc !, trứng ghè luộc ! …”. Ôi, chỗ mô, có giọng đó, có hàng hóa đó, có nước da ngăm ngăm, có mùi muối, mùi biển, mùi gió cát …chỗ đó. Chao ôi, ngồi bên thành cửa lột cái bánh ít lá gai, hay củ khoai từ chợ Được, chợ Bà Rén…., chất bột dẻo quánh dính trên ngón tay, đen thủi. Cặp mắt con bé bán khoai ngơ ngơ, ngáo ngáo, như cầu xin thương xót… Sao mà thương quá à ! Bi chừ thì khác xa, người bán, người mua chạy ào ào, la lối, nói cười ngả ngớn (ngả nghiêng?) ! Lâu lâu có con nhỏ vừa bán hàng, vừa lủng lẳng dây nghe nhạc bên tai, hay điện thoại di dộng a-lô liên hồi. Bi chừ khác lắm bay à! Cái ăn uống tiêu xài đã khác, của cải tiêu dùng đã khác, bánh trái có giấy bọc đỏ đỏ, xanh xanh…cũng khác trước! Tau nhớ củ khoai từ, mấy nuột khoai mì trằng thon thon, mấy củ môn sáp vàng óng ăn với đường phổi…, tau nhớ đĩa cơm ở Tam Quan trắng hồng lúa quê trên có đùi gà ram vàng, tau nhớ những tiếng rao tha thiết “ Ơ trứng ghè luộc ơ…”. Tau nhớ tiếng rao cộc lốc của người Chăm khi ngang qua Cà Ná “Bánh Khảo mè nê!” …Cái từ nê, nê kéo dài phất phơ đâu đó trên cái thúng đội đầu…Cái áo dài Thổ Cẩm màu vàng đỏ ….Ôi tau nhớ… Tau nhớ….

Tuổi càng già, ông chú lại càng không muốn về thăm quê nữa. Ông ít buồn nói về quê mình, mỗi lần về thăm quê, trở lại Saigon, ông bần thần thở dài suốt mấy tháng. Con cháu gạn hỏi, ông thẫn thờ : - Ngoài nớ bi chừ chỉ còn mồ mả ông bà, và còn cái nền nhà nơi chôn nhau cắt rún. Làng quê bi chừ không như xưa nữa. Bọn trẻ lớn lên học có chữ thì bỏ đi phương khác làm ăn… không có học thì kéo nhau đi lao động xa quê… Bi chừ vùng quê chỉ còn những người già nghễnh ngãng ngồi ngoài hiên ngắm cảnh đồng trống quạnh hiu, ngóng chờ con cái đi xa về thăm. Mấy con trâu bò quanh quẩn buồn hiu. Còn xóm chợ nào cũng mở quán ăn nhậu, rượu chè…Chiều chạng vạng là nghe “Zô, Zô” râm ran đầu ngõ, cuối xóm. Bi chừ đâu còn như xưa, mấy đứa trẻ nhìn tau hỏi xách mé: “Nè, ông gìà, chừ ông tìm ai rứa cà?” Tau đi đầu làng cuối xóm, có ai biết tau đâu.

Hẻm nhỏ ở quê cũ giờ đã đúc bê-tông, dây điện chạy vào đến chân núi, nhà cửa rập rang mái ngói đỏ… Có nhìn kỹ, thấy thiếu bóng người, thiếu bóng sự sống với nụ cười khoái hoạt, mà chỉ còn lại tiếng zô, zô rộn ràng. Trâu bò lưa thưa, đồng ruộng vắng hoe ,không vóc dáng tráng đinh… . Có vài lão ông, lão bà chống cuốc nhìn bóng chiều trĩu nặng cuối dãy Trường Sơn…

Ông chú già ít buồn nhắc tới chuyện về thăm thú quê hương. Cứ chắc lưỡi, mắt nhập nhèm, đăm đăm: “Còn chi mô đâu bay!”

Vài tháng một lần, ông gọi thằng cháu nội chở ông lên ngã tư Bảy Hiền, đi chợ Bà Hoa, trệu trạo nhai tô mì Quảng, rồi trở về. Con cháu hỏi ông, xe cộ đông đúc, sao ông lại chịu khó chen lấn từ Thủ Đức, về đến Tân Bình mà ăn tô Mì Quảng, ông khẻ khàn:

- Bay đâu có biết chi về quê nhà xứ mình như tau mà nói hè ! Tau vô chợ bà Hoa đâu phải để mua chi . Mà tau thấy cái bát đường đen; thấy con cá chuồn thính lấm tấm, lớ thính màu vàng đậu trên màu xanh bạc của thân cá; thấy cái bánh tét,bánh rò, bánh thuẫn, nỡ toét cười, quê mùa, mộc mạc; thấy quả dưa gang muối vàng ươm, sọc xanh xếp lớp nghe như dòn tan trong kẽ răng.

Tròi ơi, bay đâu biết, cả rổ ớt xanh xứ Quảng, thơm cay, mà cay không hổn? Từng hũ mắm cái cá cơm, cá nục nằm trong lọ như sần sật cười nói huyên náo trong thúng trét chai ở chợ vùng ngoài ấy…Tau đi tìm quê nhà nơi chợ xứ xa. Ôi! Ngôi chợ ni đâu có thiếu thứ gì của chợ ngoài quê mình, tau cầm lọn rau húng nhũi, húng quế mà đã ngầy ngật như say ngất ngây những ngày tháng cũ. Tau không có mua chi mô, thằng cháu nội theo sau tau, nhìn thấy tau cứ lập cập đi lượm từng chút tình quê trong hẻm chợ. Cháu thấy tau cầm củ nghệ, củ gừng lóng cóng trong tay, chợt hỏi : - “Ở nhà, cháu thấy mẹ cháu mua gừng, nghệ củ to, ưa nhìn lắm, nội ơi.” Tau nói với cháu như lẩm bẩm nói với chính mình : “Mấy củ nghệ, củ gừng to mập, nó tròn trịa mà sao so được với củ nghệ, gừng ngoài quê mình. cháu ơi…!” -Thuở ông còn nhỏ, giúp cha mẹ xới đất trồng gừng nghệ trên đám thổ đất cát pha sét, trời xứ quê “ nắng nóng như nung gió thổi như bung.” mấy nhánh lá gừng, nghệ đương đầu chống chỏi để tồn tại, hơn sáu tháng, từ đông qua cuối hạ năm sau. Vạt củ nghệ, gừng trụi lá, cuốc xới lên rồi bươi, cào, phủi đất, thu lượm được những củ khẳng khiu như thế này, ốm o, gày gò, quả là tội nghiệp cho “thân củ hao gầy trong nắng gió khắc nghiệt” Nhưng cái kết quả cao nhất là “củ gừng cay và thơm” và “Củ nghệ đỏ vàng và mùi nồng nàn”. hơn gừng, nghệ ở mọi miền. Nghệ ấy mà giã ra, ướp ruột già heo hay dồi trường heo, xào hay nướng; ướp cá đồng hay cá biển mà kho với chuối chát. Ngon biết mấy! Củ gừng ấy mà làm mứt ngày Tết, uống trà nóng ngày đầu năm, ôi thấy nồng ấm cả năm. Những củ nghệ, củ gừng này tượng trưng cho dân quê xứ Quảng là đúng nhất. Chúng mọc lên trong nắng gió, cằn cỗi cố tồn tại và phát triển, giống như những người dân quê xứ Quảng, sống trong cơ cực mà có được ý chí và tâm hồn thơm thảo qua mọi cảnh ngộ.

- Cháu biết không, bây giờ ngoài quê mình, người ta trồng nghệ và trồng gừng trong chậu hay trong bao nylon có phân hỗn hợp trộn sẵn, xếp lớp lớp trên dàn nước phun ; sau bốn tháng thu hoạch hàng chục tấn để xuất khẩu qua Hàn Quốc làm Kim Chi hoặc cho vào máy xắt lát mỏng, trăm lát như một, làm mứt gừng ngày Tết….Gừng nghệ mập ú xuất khẩu như gái quê tỉa tót qua làm vợ xứ Kim Chi, thì còn đâu hương gừng nghệ khẳng khiu mà nồng đậm như ở quê nhà nữa đâu cháu. -

Cháu biết rồi, ông giống như củ nghệ, củ gừng ông đang cầm.

Bà bán rau quả xứ quê, già móm mém, trầu đỏ kẻ chỉ ngang môi cười nhìn ông già :

-Lại một Ông già Quảng nhớ quê !

Ông chú già bỏ mấy củ gừng nghệ vào thúng tre ở hàng tạp hóa, đi với đứa cháu qua đường Đồng Đen vào quán, ngồi nhai lẫm nhẩm, trệu trạo tô mì quảng . Quán ồn ào, dù chỉ có hơn mười người vừa nói vừa vung tay, vừa bẻ bánh tráng rôm rốp:

- Cháu à, nghe giọng nói rộn rả nơi này là ông như đã thấy quê mình . Khi nghe giọng nói của người mỗi miền, ta biết ngay nơi họ sinh ra, và lớn lên trong hoàn cảnh môi trường sống nơi ấy ra sao. Giọng nói mỗi nơi đã là một nửa quê hương.

- Giọng nói địa phương là một nửa quê hương sao ông?

- Lắm khi là cả quê hương, cháu à .Ông nghe giọng Huế , thấy như người nơi ấy lúc nào cũng trĩu nặng vai với quá khứ . Giọng Quảng thì bương bả , chống chỏi với tai ương …sấn về ngày mai.

II.Hồi Cung Khóc

Phi trường Huế phải ngưng hoạt động sáu tháng để tu sửa. Đường băng được kéo dài theo chuẩn phi trường Quốc tế để máy bay lớn, lên xuống đón lượng du khách số đông đến du lịch cố đô Huế. Trong thời gian tu sửa này, khách Saigon hay nơi khác đến và đi khỏi Huế, đều phải ghé qua phi trường Đà Nẵng. Khách nơi khác đi Huế, hay từ Huế bay đi nơi khác đều có xe trung chuyển riêng của hảng Hàng Không. Tôi là tài xế xe du lịch trung chuyển khách ở phi-trường Đà Nẵng, sáng đưa, chiều đón khách đi về Đà Nẵng-Huế; và sáng nay tôi phải đón khách ở Huế vào Đà Nẵng cho kịp chuyến bay 11 giờ 30 và chuyến bay đầu giờ chiều. Đó là cơ duyên tôi được đón và gặp bà Hồi- Cung, ở khu vườn Kim Long. Tôi lái xe qua các khách sạn, nhà ở, đón khách theo từng địa chỉ, theo chỉ định của hãng Hàng Không. Cả tây lẫn ta gồm tám người, khách của hai chuyến bay lúc 11 giờ và 13 giờ 30. Hồi Cung là khách của chuyến bay13 giờ 30. Tôi gọi điện thoại báo đến đón, bên kia đầu máy một giọng nói cao sang và đĩnh đạc của một bà:

– Cô Hồi- Cung đang chờ, cháu đến ngay vườn cây cảnh Trúc Ty, hỏi ai cũng biết. Cô chờ..

Tôi chỉ được biết đi đón một khách nữ, bay chuyến 13 giờ 30 là Thân thị Ngọc Hồi. Thân thị Ngọc Hồi chính là cô Hồi Cung, ngụ tại khu vườn có tên là Trúc Ty, trên đường Vạn Xuân, khu Kim Long. Qua cầu Kim Long rẽ vào đường Vạn Xuân, vườn cây xanh tiếp nối, tĩnh lặng và khép nép bên nhánh tẻ của sông Hương. Xe dừng từ ngoài lộ, nhìn hai hàng chè tàu thẳng tắp, tỉa tót, đi sâu vào trong cổng vườn Trúc Ty, hàng trúc xanh óng mượt bên cổng cao, vừa hè mở. Cả đoàn năm bảy người, rộn rã, cười nói, một chiếc váy xòe màu hoàng yến đi giữa, khăn lụa hồng cánh sen quàng quanh cổ người đàn bà thanh thanh, bước đi ung dung. – O nì, đi xa mà gọn nhẹ và thong dong quá. Chỉ có từng ni thôi o ?. – Rựa là nhiều rồi. Cọ cần chi mô. Cô cháu đi sau kéo va-li nhỏ gọn, một cô khác thì cầm chiếc dù nghiêng nghiêng che nắng sớm ban mai trong lành đang nhảy nhót trên hàng lá xanh. Nhìn mấy O, mấy cô son phấn nhẹ, líu ríu nói cười làm mình chợt nghĩ đến Hồng Lâu Mộng. – Mời cô lên xe cho kịp chuyến bay cho khách bay 11 giờ 30. - Tôi cười mời chào - Dạ cô là cô Hồi bay chuyến 13 giờ 30? Người dàn bà mặc váy hoàng yến, tóc bới cao, chiếc cổ trắng xanh ngẩng lên ngập ngừng nhìn tôi – Mô.. ô ! Cô là Hồi- Cung nì! Bà quay về mấy người bạn gái hay bà con đưa tiễn, với tiếng cười trong trẻo tự nhiên “– Nì, thôi Ai da hồi- cung nhe các phi”. Cả đám các bà ngoài ngũ tuần cười rộ lên. – Cháu à, o không thể ngồi đằng sau được, o không quen mùi tạp, ngộp thở lắm nì Một mình o ngồi phía trước cháu nha!. Bà muốn, bà khẳng định, bà giao hành lỳ cho tôi sắp xếp và bước đến cửa trước đứng chờ. Khuôn mặt thanh thanh, phấn nụ dưới tia nắng sớm mai chéo ngang làm nổi rõ những vết chân chim mà thời gian làm nhàu đi nước lụa đã một thời óng ả. Người này hẳn đã có một thời làm bao kẻ si tình chao đảo ! Bà đứng yên bên cánh cửa, trong khi trên xe đã có một ông khách lớn tuổi đang ngồi, Bà thản nhiên đứng đợi, thản nhiên một cách tự tin chính đáng vào yêu cầu của mình. Tôi năn nỉ bà: – Ghế trước có người rồi. Cô lên băng sau lẹ để cháu chạy cho kịp. Có nhiều khách bay chuyến mười-một giờ ba mươi. O nhỏ nhẹ, nói chuyện với mấy người đàn bà tiễn đưa. Bà khách quay lại nhìn băng ghế bên tài xế, nói nhẹ nhàng khoan thai : – O đã nói, o muốn ngồi một mình băng trước. O không chịu được cái mùi tạp của đám đông. Cháu giúp o mà. Giọng Huế thành Nội nhẹ và mượt mà, bà nói và bàn tay khoa lên, các ngón tay hất nhẹ, chiếc khăn lụa màu cánh sen bay phất phơ trong gió. Tôi không dám nói với người khách lớn tuổi đang ngồi trên xe, ông ta cười hiền tự mở cửa, xách cặp bước xuống ghế sau. Cả đám các bà thi nhau nói cám ơn, bà khách từ từ, yểu điệu, bước lên xe rồi quay xuống nói với mấy người bạn: – Nè, tụi mi biết Hồi- Cung xưa ni mong chi được nấy hỉ! Thôi Hồi- Cung đi nha. Ai da đi nha ! Tôi vội lên xe ra khỏi khu Kim Long chạy về cầu Dã Viên, cây cầu mới xây cao và đẹp, che án cả cầu xe hỏa Bạch Hổ ngày nào. Bà Hồi Cung để xách tay xuống ghế, lấy chiếc gương nhỏ trong xắc ra, làm dáng chím môi, liếc qua lại, và bắt đầu “Câu chuyện của nàng” qua điện thoại di động. Bà bấm số, vì tuổi cao, tai lãng nên bà nói lớn và đầu kia, lời đáp lại cũng vang vang. – “Ơ! Ơ! Tịnh Tâm phại hôn? Quỵ mô! Mi nhớ, nhớ chưa nào? Nghe giọng có nhớ ra chưa nì?” – “Ai rứa, ai rứa, tui chẳng nhớ ra, đã hơn sáu mươi rồi, nói lớn lên hè” . – “Ơ , ơ, tui đi mà, Tịnh Tâm không nhớ răng!” – “Cái con mắt híp hỉ! Cái con khi xưa đi học ở Hàm Nghi, mi dấu trái thị trong khăn tay cho thơm, bị cô Thà phạt cấm túc mà khóc sưng mắt!” – “Ơ mi không nhớ tau sao Tịnh Tâm?” –“ Đồ quỷ, mấy mươi mụ già trong lớp, chừ tao biết nhớ mụ mô? – “Ưà, ưà, rưá có chán không hỉ?” – “Tau là Hồi, Thân- thị -Hồi, người đẹp Hồi- Cung đây, sao mi không nhận ra, mi không sợ ai -da phạt sao hè?” – “Ồ, Ô ! Mi, mi con Hồi, cái con Hồi chuyên làm điệu , làm dáng, đi thì nhún nhảy như cung tần, quý phi …. Hử ! Mi ở mô rứa , Hồi ơ ? Cả xe im thin thít, nghe giọng nói lúc cao, lúc thấp, của bà Hồi- Cung kể lể vạn điều… – Chao ôi tau nói mi nghe…. Hồi- Cung đây nì! Chao ôi mấy mươi năm rồi. Tụi mình bi chừ là “mama lục thập” rồi chứ nì…. Ờ Hồi- Cung bi chừ ở Mỹ, ở với con gái … tau mi cùng tuổi, sáu ba …ờ…ờ. Cô Hồi vừa nói xong với người bạn Tịnh Tâm là quay qua Hải Đường, Hương Lan, Nguyệt Quế….khi nghe những tên gọi này là thấy ngay vẻ đẹp, thấy thơ phú của thời xa xưa, thuở mà tôi chưa ra đời. Thỉnh thoảng cô ngừng thở, ngừng nói, rồi lại trào lên những dòng dĩ vãng chảy mãi, chảy mãi… Cô quay sang tôi : – Cháu ơi, đây là ni mô? – Dạ vừa qua Truồi, sắp qua đèo Phú Gia. “…Ờ, ờ…Mi còn nhớ Truồi không nì, nhớ bòn bon ngọt sớt, nhớ ổi sẻ.Xe tau chạy qua Truồi, chao ôi chi mà lạ! Chao ôi, về có hai tuần, mà nào bên nội, bên ngoại, bên chồng, bên họ….tau thèm gặp hết tụi mi, mà răng gặp được. Yến Phi ơi, tau qua chuyến ni rồi chẳng biết khi mô về thăm lại quê… Ờ, ờ…tau sẽ gọi cho con Hồng ăn-hàng , thăm nó …răng nó không có chồng con chi à? Răng mi nói chi, tu tại gia à? Mi cho tau số điện thoại của con Hồng.” Cô thẫn thờ tắt máy ngồi yên. Khi cô ngưng nói, cả xe bỗng im lặng. Xe chạy ngang qua Phú Lộc, cuối dãy sau, hai người Pháp khe khẽ nói và chụp hình Phá Tam Giang mênh mông nươc, đìu hiu, mấy chú cò trắng soi bóng chờ tép tôm. Cô sụt sùi lấy khăn lau mũi, chẳng biết cô nghĩ gì khi kéo khăn giải lụa, vuốt nhẹ cho nền lụa khép nép bên màu hoàng yến của chiếc váy có hoa văn đuôi phụng. Tôi ít khi thấy người đàn bà nào lớn tuổi hơn mẹ mình mà đẹp cao sang như vậy. Tôi khẽ hỏi : – Cô ơi, cô là Việt Kiều? Cô về Huế lâu chưa cô ? – Ô, xưa kia cô ở Huế, sau Mậu Thân, cô vào Saigòn cùng gia đình; bây giờ cô ở Mỹ với con. Cháu à, hơn bốn mươi năm cô mới trở lại Huế, Chao ôi chỉ có mươi lăm ngày làm răng mà gói cho hết tháng ngày cũ, cháu ơi! – Dạ, mười lăm ngày thì ít quá. Cô đăm đăm nhìn những thùng phuy đặt trên bờ đất bốc khói dọc bên đường : – Chi rứa cháu hè? Cô hỏi tôi. – Đó là bà con đang chưng cất dầu tràm. Cô thấy mấy chai nước xanh xanh bên cạnh, là dầu tràm đó cô. Những ông già, bà già lam lũ, ném từng bó củi cành nhánh vào lò, khói ùn ùn lên bầu trời xám xịt vào những ngay chớm thu. Bầu trời, khói xám và Phá Tam Giang giăng lên một khung màu rã rời của ngày vào thu xứ Huế.Trời cuối thu Huế luôn âm u buồn , màu mây xám phủ mênh mông đến cuối chân trời . Cô Hồi -Cung lại lấy khăn giấy lau mắt, vẫn giọng Huế thanh và trong trẻo, tiếp tục điện đàm :

“– Ơ Hồng phải không? Ôi chao, mệ còn nhớ tui không, cái mệ tổ ăn hàng ở lớp mười-A-chín (10A9) trường Hàm Nghi, năm sáu-tám hè . Không nhớ tau sao Hồng? Hồi -Cung đây. Hồi điệu đây mà… A, mi nhớ ra rồi! Mi răng đó Hồng ?”.

Giọng cô Hồi nhỏ dần, cô cúi xuống, ít tóc xoăn trước trán gió thổi thốc lên, để lộ lưa thưa chòm sói. Cô lí nhí nói :

“– Chồng mi bị giết , xác chôn ở La Chữ hỉ? Đồ khốn,răng mà tụi nó ác , nghe nói anh ấy dạy tiểu học, tính hiền khô mà. Rồi mi có mấy cháu? Tội nghiệp mi, chồng bị giết, con không có mà ở rứa hơn bốn mươi năm trời nuôi mẹ chồng. Chao ôi, tau nhớ… tau nhớ…ờ, nhà mi bên kia Cầu Đá, Vĩ Dạ ,vô ngả An Viên, ờ, tau nhớ bốn đứa mình nghịch như quỷ, ngồi bên thúng bánh nậm o Chi mà vừa ăn vừa rít sìm sịp nước mắm ngọt cay. Ôi chu choa răng mà ngon nức nở mi hỉ! Mi hỏi răng? Ồ, Hồi- Cung đi với ba mệ cùng lớp 11 xuống đường Chi Lăng vô quán mụ Đỏ, bọn tau thời hai mâm nào bánh bột lọc, bánh bèo, chả tôm, bánh nậm, bánh khoái … mỗi thứ vài cái mà mấy mệ đã đứt hơi! Ờ…ờ, mi nói đúng, bi chừ đâu có ngon như xưa. Cửa hàng to lớn, sạch sẽ, khang trang hơn, nhưng bánh nậm mụ Đỏ sao bằng cái thúng của mấy o bưng đi, áo dài phất phơ trong hẻm, tiếng rao như chim cu gáy hót cầm chừng trong buổi chiều tĩnh mịch “Ai… ai…nậm …hôn!”, “Ai… ai…lọc …hôn!” Rồi mi nhớ cái gáo xinh xinh bằng trái mù u bỏ trong hũ nước mắm ớt chua ngọt? Mi nhớ tụi mình tự múc, tự chan, húp sì sụp trong nắng trổ hoa cà dưới tán cây khế nhà mi… Ôi chao, mới đó mà Hồi- Cung sắp vào viện dưỡng lão ở Mỹ…”. Cô sùi sụt khóc nói như mếu : “– …mới đó mà đã hơn nửa đời người, mi thì bi chừ thui thủi giữ bình hương khói người chồng chết trẻ, thui thủi một mình tu tại gia, tau thì…Chao ôi răng khổ rứa Hồng ? Ôi, chao ôi!” Giọng cô Hồi lắng dần như tiếng nấc nhỏ…Tôi thấy cô cúi đầu và nghẹn giọng: “– Qua bển rứa được hơn mười năm thì chồng tau lấy vợ khác, tau sống với con gái, nó có chồng người Canada làm kỹ sư, tau có thằng cháu ngoại đã hơn mười lăm, cả hai vợ chồng nó đi làm từ mờ sáng, tối mịt mới về. Chỉ có ngày thứ bẩy là shopping, dọn nhà,…ngồi cơm chung một bữa, Bi chừ chúng nó đã nói xa, nói gần… khi tau già không còn tự lo được nữa thì chúng sẽ đưa tau vô dưỡng lão. Biết làm sao được, con nó thương mình mà nó làm gì được cho một bà già.... Bên nớ phải rứa thôi Hồng ơi, họ thương mình mới bảo vệ cho những người già không tự lực được phải vô viện dưỡng lão. Họ thương mình lắm nên nhốt mình vô đó mi ơi!! Vô đó nằm chờ chết. Giọng cô buồn vời vợi như bầu trời xám xịt trên khu Cầu Hai tiếp giáp Lăng Cô, cô lấy khăn giấy thấm mắt, bớt sụt sùi, rồi lại lấy ví ra lục sổ điện thoại, lại bấm máy:… “– Dạ… dạ thưa…Em hỏi thày Hải. Dạ… ồ, cháu cho cô gặp ông.” Cô quay qua nói chuyện với tôi khi chờ máy : – Cháu nè, đó là thày dạy cô hơn bốn mươi năm trước. Thày đã qua bẩy mươi tuổi rồi… “– Dạ, dạ… Em chào thày.” Có tiếng lí nhí, o..o.. ở trong máy… Cô Hồi lại la lớn: “– Dạ…dạ.. thày nghe rõ! Dạ em là Hồi Cung, học trò thày lớp 11A2 trường Hàm Nghi. Dạ, lúc thày về trường được một năm…Dạ..dạ chị Liên- Trì cho em số điện thoại của thày. Dạ...dạ.. Thày nhớ đúng rồi, em là Hồi -Cung, dạ không có mô thày. Em nhớ thày dạy môn lý cực hay, thày hay vẽ, thày luôn luôn vẽ trên bảng đen, chỉ là định luật Newton về sưc hút mà thày vẽ quả táo rơi như có ai ném từ cành cây xuống đất . Chao ôi, tụi em mê cái hình hí họa thầy vẽ cái ông già ngồi trên ghế gỗ nhìn táo rơi,em mê cái hình hơn cả định luật sức hút của trái đất đó thày ”. Cô chợt im lặng, như cố nghe ông thày già thều thào nói như hết hơi bên kia đầu máy. “– Dạ… dạ, bị Alzeimer nhẹ có thể phục hồi được thày à. Thày nhớ tới cô Thanh -Xuân dạy văn không , em kể thày nghe, tụi em mấy đứa các lớp Hàm Nghi ngày ấy, có vào viện dưỡng lão Kim -Sen ở Seatlle thăm cô Xuân, tội nghiệp lắm thầy ơi! Ngày ấy cô Thanh Xuân đáng yêu là như vậy. Tụi em có bao giờ quên cái khăn quàng màu tím và đôi mắt thăm thẳm buồn của cô giáo dạy văn hay nhất trường ngày ấy. Bây giờ nhìn cô ngồi xe lăn, tóc bạc phơ, miệng móm, da nhăn… Thấy tụi em vào, cô gượng dướn người lên nhìn và nói như nói với khoảng không..“Các em à, sao lâu lắm con trai cô không vào thăm?Cũng lâu lắm rồi cô không thấy nó vào thăm cô!” Cô không còn nhớ gì nhiều , cô chỉ có một ước mơ mong chờ cậu con trai vào thăm … Thầy ơi ngoài khung cửa dưỡng lão Kim- Sen, rừng cây xanh và tuyết trắng, mắt cô hom hem nhìn vào khoảng không… Chắc cô cũng chẳng còn nhớ đến Huế đâu thày? Em…Em.. Cô nức nở thút thít khóc vá dán sát tai vào điện thoại nghe giọng thều thào của một ông già Alzeimer bên kia. Rồi cô chợt reo lên : “– Thầy nghỉ hưu ở Đà Nẵng? Dạ…dạ,, em có nghe sau khi đi quân dịch, thày được chuyển về dạy ở Phan Chu Trinh Đà nẵng, rồi thày có gia đình và ở đó. Dạ… dạ ..em có ba giờ rảnh ở phi trường Đà Nẵng, chờ chuyến bay 13 giờ 30, …dạ…dạ…em sẽ ghé thăm thầy. Dạ…dạ.. em đến Đà Nẵng em sẽ gọi báo tin thầy hay.” Rồi cô tắt máy, cô lẩm bẩm khi cả xe nhìn cô trong im lặng. Cô như diễn viên Opéra, cúi chào và lẩm bẩm lời cám ơn… trong cảm xúc, sau giờ diễn còn đọng một giọt nước mắt bên khóe mi. Tự dưng tôi như đứa cháu thấy thương bà cô già lóng cóng lục lọi trong mớ sách vở cũ, gặp lại những trang giấy ố vàng với vài dòng chữ nhợt nhạt, vừa lẩm bẩm đọc, vừa khóc thương cho sự quái ác của thời gian. Cô lại bấm máy điện thoại nói như thầm thì: “ – Nè, mi, Liên Trì ơi, tau mới diện thoại cho thày Hải. ôi chao, tội nghiệp mi ơi! Thày bi Alzeimer nhẹ nên nói lắp bắp khó nghe. Thày nhớ đến tụi mình, nhớ đến tên mi, tên con Bùi thị Phỉ- Thúy … Mi biết không, tau xúc động biết bao khi thày nhắc đến cuộc pinic ở Lăng Gia -Long vào dịp hè khi tụi mình học lớp 11. Cả lớp đi, có mời thày và mấy cô giáo … Mi nhớ không, trời mưa giông bất ngờ, cả đám tụi mình cùng thày Hải núp mưa trong nhà bát giác bên hồ sen, tau nói khát nước quá vì buổi trưa ăn bánh nổ…hì, hì thày nhắc tau: “Em, Hồi, có nhớ thày mượn chiếc nón lá trắng mướt của em, chồm qua lan can nhà bát giác, hứng dòng nước mưa mát lạnh từ trên nóc nhà đổ xuống hồ sen. Thày đưa cho em bảo uống đi, thày nhớ em uống mà tóc em xòa trên vành nón trắng …nước trong veo, mắt em cười trong veo” Chao ôi, mi ơi, ông già bẩy-mươi –lăm mà lập bập nói … còn nhớ mắt em trong veo. Chao ôi, mi ơi! Răng?…Răng? …mi nói bậy…tau đâu có mê thày..” Xe qua đèo Hải Vân, trong bóng tối nhờ nhờ, tôi thấy cô Hồi Cung vẫn còn sụt sịt trong niềm vui của cô thiếu nữ mắt trong veo đang sống trong một bà già lụp chụp lần từng sơi tơ mong manh quá khứ, ngất ngây. Cả xe im lặng, màu ánh sáng vàng đục nhờ nhờ của hầm xuyên qua đèo Hải Vân, tiếng sụt sùi khe khẽ của cô Hồi Cung, làm tôi xốn xang như khi nghe tiếng thở dài của người cung phi già trong Cung Oán ngày xưa, tỉnh mịch, rêu phong của khúc ngâm ai oán. Xe qua hầm, bỏ Huế lại sau lưng, âu sầu với mây trời đầy sắc xám từ phá Tam- Giang, qua Cầu Hai đến tận Lăng Cô. Bây giờ trước mắt là gió và nắng hừng hực sức sống của đất trời xứ Quảng. Tôi ái ngại hỏi khẽ cô Hồi: – Cô hẹn thày ở đâu, cháu ghé qua cho cô đến tiện hơn là lên phi trường rồi lại quay về phố. – Thày hẹn cô ở quán Thúy đường Tản Đà. – Vậy là rất tiện, nơi ấy kế bên đường xe mình về phi trường Đà Nẵng . – Không đâu, cháu cứ cho cô về phi trường để check-in xong rồi hẳn hay. Cô Hồi- Cung dứt khoát. Tôi im lặng đồng thuận. Tôi nghĩ sao cô không ghé quán Thúy thăm thày xong bắt taxi ra phi trường, bây giờ còn gần bốn giờ nữa cô ra phi trường làm gì. – Cháu ơi, - Cô hỏi - bây giờ đến 12 giờ trưa cháu làm gì? – Cháu chở khách vào rồi chờ chuyến bay 13 giờ ở Saigon ra, đón khách đưa về Huế như thường lệ. – Vậy cháu chờ cô một tí, cô check-in xong, cháu chở cô về phố Tản- Đà, Đà Nẵng được không? – Dạ được cháu giúp cô, cô cho cháu thêm tí tiền xăng là được. – Vậy chờ cô vào, ra ngay. Còn hơn giờ nữa cô mới gặp thăm thày. Tôi đưa khách vào phi trường Đà- Nẵng . Cô Hồi- Cung ung dung kéo va-li và túi du lịch đi vào trong, giải khăn lụa màu cánh sen phất phơ bay. Một mình cô vụng về kéo, mang, tự dưng tôi thấy ái ngại cho một người lớn tuổi lẻ loi về thăm quê hương. Gần một giờ sau, cô Hồi Cung trở ra, đàn bà sao giống cỏ cây và trời đất, chỉ có một tí mưa xuân mà cỏ cây đã như bừng sức sống. Vẫn khăn quàng màu hồng cánh sen dịu dàng ôm cái cổ cao cao và nước da trắng xanh cốt cách, cô đã vén tóc lên để lộ thoáng một chút phấn hồng, chút son nhạt, tôi thấy cô khác hẳn lúc trước. Tôi nhìn cô mỉm cười thân thiện : – Sao lâu vậy cô? Trời, cô mới trang điểm, đã thấy trẻ đi mười tuổi. – M..ô..ô ..! Năm ni o đã sáu mươi ba rồi đó con à.Cháu biết không, dù là bà lão già vẫn mong người ta khen mình trẻ đẹp như hồi bà lão còn là con gái! Cô phải sửa soạn chút mới gặp thày, cháu à. Khi nãy nếu cô nghe cháu ghé quán Thúy, thì đâu đã sửa soạn được chi , lại ngồi gần một giờ để chờ thày thì răng được cháu. Con gái khi mô, cũng phải đến chậm hơn để người ta đợi mới hợp lẽ cháu à. Bi chừ thày đến đợi quá mươi phút là được, mà cô cũng chấm tí phấn hồng cho đỡ nhợt nhạt vì tuổi tác. Cháu vào với cô ăn chút chi đi nghe cháu? – Thôi cô à, cô cứ vào, cháu chờ ngoài xe, nghe nhạc. Cô nhớ mình phải đến phi trường trước 12 giờ 30, để khỏi trễ chuyến bay cô ạ. Cô vội vàng bước xuống xe, quán Thúy nằm dưới hàng cây phượng vĩ khép tán trên đoạn đường nhánh của bờ sông Bạch Đằng. Một ông cụ đĩnh đạc, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây sậm, đầu nón phớt sậm màu, mang kính mát chờ bên gốc cây. Tôi thoáng nhìn thấy hàng ria mép bạc màu, như mấp máy khi cô Hồi Cung vừa bước tới. Nhìn hai thày trò vào quán giữa tiếng ve râm ran tiếc nuối một hè muộn đã qua. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tôi lim dim nghe nhạc Trịnh, trong cái dịu mát của máy lạnh và không gian yên ắng bơ phờ của nắng miền Trung. Tôi định mười phút nữa sẽ vào gọi cô Hồi để đưa về phi trường, thì thấy cô đã ra khỏi quán với người thày già tóc đã bạc phơ. – Dạ cám ơn thày đã cho em thăm thày, dạ…dạ Em chào thày. – Nì, em Hồi cho thày gửi lời thăm Liên- Trì và bạn cùng lớp, Thày chẳng biết bao giờ mới được gặp lại các em! – Dạ, thày đi trước, em lên xe về phi trường.Ông bịn rịn, rồi lấy khăn trong túi ra chấm mắt, người già thật dễ mủi lòng. – Dạ…dạ… Thày ơi, em đi đây. Cô Hồi lên xe, tôi đẩy cửa và cúi đầu chào ông già, ông đang từng bước đi thật chậm, hơi xiêu xiêu, rồi ngừng chân quay lại, đôi mắt đỏ hoe nhìn lên xe. – Cháu thấy thời của mấy cô, mấy ông đa cảm quá. Tôi mở lời. Cô Hồi sụt sùi cúi xuống che dòng nước mắt , se sua chiếc điện thoại trên tay, không trả lời. Xe chạy một đoạn cô mới nhỏ nhẹ : – Tội nghiệp thày của cô, ngày ấy thế mà nay … Cháu biết không, thày nhớ tên từng đứa học trò, nhớ cả chỗ ngồi của cô trong lớp, nhớ cả cái tật của cô Liên Trì là hay xốc mớ tóc dài lên bờm xờm như đuôi ngựa khi vào lớp, thày nhợ,.. thày nhợ. .. Nay thì thày thui thủi sống với người con trai út và mấy cháu,vợ thày đã mất mười năm rồi … cứ sáng sáng thày khập khễnh đi bộ xuống bờ sông Hàn ngắm cây cầu quay mới xây cắt ngang tầm nhìn về hướng Huế… – Tuổi già được sống bên con cháu, được chậm rãi đi trên lối mòn của ngày xưa thì còn gì bằng cô… Tôi nói. – Ồ ...ồ, đúng đó cháu, ở bên ấy lắm khi con cháu cả nhà đi làm hết, cô ra vào ngó qua khung cửa , cô chỉ mơ giá như mình được đi chầm chậm bên bờ Thương Bạc, sông Hương mà ngắm một con đò …để nhớ những ngày vén áo dài đi qua đò ngang ..nhợ…nhợ… Cô lại bấm máy gọi “– Liên Trì ơi, mệ đang mần chi rựa ? Tau mới ghé thăm thày Hải, ờ..ờ .. Thày nói nhà của đứa con trai út ở sâu trong hẻm khó tìm, nên hẹn tau ngoài quán bún chả cá nhỏ ngoài lộ. Ơ…ơ.. chẳng có chi, tau mời thày ăn bún, uống nước nói đủ thứ chuyện. Tội quạ mi ơi! Tụi mình nhớ ngày thày mới về trường phong độ là vậy, giọng Huế thành-nội mượt mà là vậy. Mà nay, tóc ria bạc phơ, bị tai biến nhẹ, nên tau thấy bên trái miệng, mắt thày hơi lệch, khi nói thì mắt và môi giật giật nhẹ, trước khi phát âm mi à . Tội quạ mi ơi! Bàn tay ngày xưa hào hoa là vậy, mà bi chừ run run khi cầm chiếc muỗng đưa bún vào miệng. Tội quạ mi ơi! Thày hỏi mi : « Nè em, cọ gặp Liên Trì không? Cô ấy hay dùng khăn tay cột xốc mái tóc như bờm ngựa! » Tội nghiệp quá mệ Trì ơi! Bi chừ mệ không chịu sửa soạn, con cháu một bầy vây quanh,vậy mà cũng còn có người xưa nhắc cô Liên-Trì tóc đuôi ngựa. “Rựa… rựa...Em Hồi cọ còn làm thơ không? Thày nhợ bài thơ của em trên báo tường của lớp”. Chao ôi! Tội quạ mi ơi!. Cô Hồi ngồi yên, áp sát máy điện thoại vào tai, tay trái rút khăn giấy ra thấm mấy giọt nước mắt chực trào ra. “– Ơ…ờ.. tao kể cho thày nghe chuyện tụi tau thăm cô Thanh Xuân tại nhà dưỡng lão Kim Sen ở Seattle, mi ơi, thày nghẹn lời. Người già vậy mà dễ khóc! Tau nói với thày: “Như thày, như các bạn già em gặp, ở bên ni ri mà sượng có con, có cháu, có cỏ cây, đường xá quen thuộc…giọng nói quen, tiếng rao đầu ngõ cũng quen…Còn thày ơi bên nớ buồn không chịu nội mô . Thày ơi, em về thăm quê chuyến này, rồi về lại với con gái và thằng rể Canada, rồi vài ba năm nữa, chúng nó sẽ đưa em vào viện dưỡng lão Santa ở San José. Chúng có thương cha mẹ đứt ruột cũng phải đưa vào đó thôi. Em không lo cho mình thì ai lo cho em? Vào dưỡng lão có tất cả mọi thứ thày ạ,y-tế, chăm sóc, ăn mặc, giải trí… Nhưng lòng mình buồn khổ lắm thày ơi. Đành rằng ai cũng chết, nhưng vào đó không phải sống mà mình thấy rõ là mình nằm chờ chết. Ngồi xe lăn nhìn chung quanh, nhìn ra cửa sổ …Ôi thày ơi. Mình như con chim sơn- ca bị vặt hết lông nằm trong lồng quên tiếng hót… không quá khứ, không tương lai, không có chút gì nối liền với cõi đời, trừ sự cùng cực của cô đơn! Rồi em cũng sẽ phải khổ như cô Xuân rựa thày ơi!”. Ôi tội nghiệp quạ mi ơi! Khi tau cúi xuống , chầm chậm ăn và nói với thày tau đâu cọ để ỵ mô ! Khi tau ngước lên, thày ngừng ăn khi nào, hai giòng nước mắt nhập nhòe bên khóe mắt chân chim, thày lập cập: “ Thôi em, thôi Hồi, đừng nọi nữa em” Có một điều tau đau lòng nhất là chi mi biết chi không Liên Trì ?” Tôi ngừng xe mua phiếu qua trạm vào phi trường. Xe chầm chậm lăn bánh. Cô Hồi tiếp tục: “– Thày lập cập tay múc từng muỗng bún ăn chầm chậm. Một cọng bún ngắn nằm vắt trên ria mép thày, phía bên trái bên bị tê liệt nhẹ, tau mấy lần định nói mà không dám. Thày chậm rãi nói nhiều từ thều thào nghe không rõ; mắt tao vẫn trân trân nhìn cọng bún trên ria mép thày . Ôi! Tội quạ mi ơi! Tau muốn đưa khăn lau cho thày, muốn múc bún chăm sóc cho thày ăn như tụi mình giúp cha già ngày trở bệnh. Rồi khi chào thày lên xe, ông thày già tội nghiệp đứng đó nhìn theo, chân tay lập cập vì Alzeimer, bước theo cô học trò gần nửa thế kỷ trước, và Liên trì ơi, Tội quạ mi ơi! Tau vẫn thấy cọng bún ngắn trên ria thày mà không dám nói gì! Mi thậy không tội nghiệp quạ mi ơi! Liên Trì ơi, tau thấy răng mà người Huệ mình quặn đau lòng dạ với dĩ vãng quá mi ơi! Ôi cại nghiệp chi mà khộ!” Rồi cô thút thít khóc .Tôi mở cửa xe, đỡ cô Hồi Cung bước xuống. Cô như muốn quỵ xuống, khi tì sát vào tay tôi, dù điện thoại đã tắt máy mà cô vẫn lẩm bẩm như trong mơ: “ Tội nghiệp…tội nghiệp quạ mi ơi!!” .

Bây giờ tôi không còn thấy người đàn bà cao sang, với ta khăn lụa màu cánh sen phất phơ trong hẻm giữa hai hàng chè tàu cắt tỉa vườn Kim Long lúc sáng nữa. Giờ đây, chỉ còn có một bà già xứ Huế cột chặt quá khứ vào tuổi tác và cô đơn. Cô rối rít cám ơn, tôi cầm đôi tay khô đét của cô mà nhớ đến mẹ mình trong những ngày cuối đời.

– Cháu ơi , Ôi chao cại nghiệp chi mà khộ” Cô Hồi Cung vẫn thút thít khóc khi chầm chậm bước vào lối kiểm soát an ninh phi trường.

Tôi lẩm bẩm một mình khi ra xe chờ khách về Huế : “Răng người Huệ mình nặng với dĩ vãng quá mi ơi! Ôi cại nghiệp chi mà khộ”.

III.Lý Đỗ Cười

Từ ngày có khu kinh tế mới Dung Quất, nằm giáp ranh giữa Quảng Ngãi với Quảng Nam, thì phi trường Chu Lai được hồi sinh. Trước bẩy-mươi-lăm, Chu Lai là căn cứ quân sự Mỹ, chỉ có phi trường quân sự. Bên những đụn cát đùn lên cao làm chiến hào, công sự phòng chống du kích xâm nhập, phi đạo như dấu phẩy nhỏ nằm giữa trang giấy trắng, là trảng cát kéo dài từ biên Quảng Ngãi đến gần cầu An Tân của tỉnh Quảng-Nam. Dân Quảng phía nam nôn nao chờ đón vì muốn tỉnh mình cũng có sân bay; nhưng rồi thời gian trôi qua, lòng bồn chồn theo ngày tháng thờ ơ đi, vì sự thích thú không thắng được tính cách cần kiệm của dân xứ nghèo. Mỗi tuần hai chuyến máy bay cánh quạt ATR sức chứa bảy-mươi khách bao giờ cũng lưng lửng đầy một nửa. Ngoài mấy kỹ sư chuyên viên khu lọc dầu Dung Quất, vài Việt Kiều gốc Quảng về thăm quê hương, vài doanh nhân , quan chức địa phương hay năm ba người dân vào Saigon có việc gấp,còn dân thường thì vẫn di chuyển bằng xe đò . Tôi đi trong chuyến bay trưa thứ bảy vào mùa hè. Phi trường Chu Lai tiếp giáp với biển và cảng Kỳ Hà, từ cảng hướng chạy về phía bắc là giòng sông Trường Giang chạy song song quốc lộ bắc-nam, suốt dãy xương sống tỉnh Quảng Nam ra đến tận Hội An. Ngã ba nước chẻ hai, chẻ ba Tam-Anh, Tam Quan, Tam Hải là vùng cá tôm nổi tiếng cả miền Trung. Sông Trường Giang dài trên bảy mươi cây số ngăn cách với biển bởi một lưỡi đất cát dài như con thuồng luồng uốn éo gánh bớt cái hung hãn của biển khơi. Trường Giang vừa dịu dàng vừa nhu nhã, vừa kiên cường ôm gọn đám cư dân nghèo trong cánh tay nuột nà cát trắng. Tại phi trường Chu Lai, tôi được gặp ông Lý Đỗ trong một cảnh ngộ thật trớ trêu,phi-cảng như chiếc hộp diêm nằm giữa trảng cát nóng, ngập ánh nắng chói chang. Hơn vài chục hành khách đã làm thủ tục, xúm xít quanh mấy dãy ghế, nhìn ra cát trắng chen lẫn những lùm cây lù xù như đám nhím xỉa lông thi gan cùng gió cát. “ Quảng Nam hay cãi”, bây giờ hình như người Quảng đã bớt cãi nhau, mà cái nhu cầu nói, nói nhiều, nói lớn được thỏa mãn với chiếc điện thoại di động ( họ gọi là cái a-lô). Điện thoại cầm tay đến với người Quảng như “cửu hạn phùng cam vũ” (nắng hạn lâu ngày gặp mưa sa). Xưa nay dân Quảng gặp nhau, ngồi với nhau mới khởi đầu tranh cãi, để“ăn to, nói lớn” , thì bây giờ chỉ cần một người Quảng với cái “a-lô” là họ có thể cười hả hê, nói huyên thuyên, vung tay, trợn mắt… rộn ràng mà chẳng cần có ai bên cạnh mình. Cái “a-lô” đã thay đổi phong cách của người dân xứ Quảng, như vũ khí thay đổi thì cách đánh của chiến binh đã khác và chiến tranh cũng khác! Cái tính hay nói, hay nói to, hay có những câu hỏi tò mò vào đời sống cá nhân người khác đã được thay thế bằng niềm vui “mi mi, tau tau với cái a-lô”. Cũng như tính“tám” của các bà, các cô mà gặp “chat”, gặp Face Book. Ôi lắm nàng ôm cái Ipad hoặc cái điện thoại Android như ôm người tình,rỉ rả tâm tình suốt ngày đêm không biết chán. Một thời buổi mới đã chuyển biến tính chất của người địa phương, của xã hội… Phòng chờ ngợp trong cái nắng nóng thì ít hơn cái ồn ào của quá ba mươi vị Quảng và bằng chừng ấy cái “a-lô” cùng giọng nói ồm ồm và chát chúa. Một ông già ngồi bên tôi là ngoại lệ, ông trố mắt nhìn hết người này, người nọ. Ông như luống cuống trong chiếc áo bà ba bốn túi mới tinh màu trắng và chiếc nón phớt ny-lon màu vỏ trứng . Khuôn mặt ông đen nâu, những vết nhăn cày xới trên nếp da mờ dấu thời gian của tuổi tác, tóc hoe hoe nâu đen… đúng là dân miền biển cát xứ Quảng. Càng rõ hơn, ông đúng là người dân chài, khi nhìn đôi bàn tay đen rám, các đầu ngón tay khắc sần các vết khứa nát màu đen. Đó là vết cứa của các sợi cước câu, lưới vây , khi bàn tay quần quật níu kéo nhọc nhằn mưu sinh trên biển sóng. Đôi mắt lão đen và sáng tinh ranh, tò mò đảo qua lại, giữa mọi tiếng ồn ào kêu réo từ “các cái a-lô” chung quanh, như lão thày bói già, dẫu chẳng thấy gì, vẫn ngoảnh tai về hướng nơi có lời qua lại liên hồi… Chợt lão quay qua tôi: – Nè anh ở mô rứa? Đi mô hè?. – Ô, tôi dân Diêm Phổ. Bác đi Saigon chơi? – Thấm chi Saigon! Đi Mỹ chớ. Hai đứa ni là con gái tui nè. Anh ở Cây -Trâm, Diêm- Phổ, chu choa! Chỗ nứ có mì quảng với cua coớm rôm vàng ngon hỉ, già như tui mà mần hai boát lớn! ( cua lột ram vàng ngon,già như tôi mà cũng ăn được hai tô lớn) Lão nói như hét lớn giữa cái chợ âm thanh the thé bên trái, bên phải. Cô gái ngồi bên cạnh tôi hình như là sinh viên cười lớn với cái “a-lô”: “– Reng, mi núa reng! Tối qua tau từ giã ảnh rồi, chu choa, mùi hết biết!”… Anh thanh niên tay xách cặp, đứng bên khung kính nhìn ra phi đạo hừng hực nóng, tay áp sát với cái “a-lô” nói như nạt nộ với ai: “– Tau đỏa núa! Dứt khoát ! Dứt khoát, hợp đồng đỏa ký, cứ rứa mà thi hành! Đã núa không thêm, không bớt! Đã núa… Đã núa…Phaải chẹt chẽ! Phaải lồm cho uy tín!”.(Tôi đã nói dứt khoát, hợp đồng đã kí ,cứ thế mà thi hành.Đã nói,phải chặc chẽ,phải làm cho có uy-tín) Phía sau lưng, đằng trước mặt, một chợ âm thanh rộn rã, nói như cãi, nói như chửi, tay chân vung vẩy… Tôi thích thú, bởi được tắm đẩm trong âm thanh quê hương quen thuộc thuở ấu thơ, nhắm mắt mơ màng nhớ đến những đêm hát bội ở đình làng quê xưa, tiếng trống, tiếng hát, tiếng ồn ào che lấp tất cả mọi ý nghĩa của câu hát tiếng hò. Ờ, mà cần gì hiểu nghĩa cho lắm đâu,đối đầu với sóng gió biển khơi gào thét, phía xa xa là rừng thẳm núi cao… mấy trăm năm cũ, ông cố, ông sơ người Quảng phải nói to, hét lớn để hợp quần chống chỏi bao nghịch cảnh và chống chỏi cả lòng sợ hãi của chính mình.Từ thời dựng nước , hơn bốn năm trăm năm trước , sau lưng là Hán gian và quan quân xua đuổi , trước mặt là người Cham quyết tử bảo vệ biên cương , người Việt-Quảng Nam có vũ khí nào hơn hợp quần ,hét lớn nói to giữa trùng trùng gầm thét của thiên nhiên lạ lẩm . Tôi dựa lưng vào ghế, nhắm mắt nghe như xôn xao giữa chợ làng quê xứ Quảng ba mươi tết. – Reng, anh mệt lém soau?.Ông lão bên tôi lên tiếng hỏi . – Dạ, không cháu đang nghe…Bác ở đâu miệt biển . – Tui dân Tam- Hải, qua đò An- Hòa. Tới gành Bàn- Than hỏi ai mà không biết tui , Lý Đỗ, cứ nói Đỗ- nục là ai cũng biết. – Sao gọi bác là Đỗ nục? – Chu choa anh biết reng không? Biển xứ mình hết cá chuồn tháng ba là đến mùa cá cơm than, gần cuối tháng bảy là qua mùa cá nục. Tui mà nhìn con nước, ngửi gìó biển là biết chỗ mô bủa lưới vây cá nục. Đả lắm anh ơi! Ghe boạn(ghe bạn) thấy tôi cho ghe đi đâu là theo, en chét (ăn chắc). trúng lớn. Nẩu núa (họ nói): “Cứ theo ông Đỗ nục là trúng, mà thiệt”. Nước biển xanh lớp lớp, cá nục bay túa lên, khép vòng lưới, ôi trời ơi, ngàn vạn con cá xanh óng mướt dưới ánh néng (nắng) đẹp lắm anh ui! (anh ơi) Mắt lão lim dim thả hồn về làn nước biển xanh đầy cá chuồn, cá cơm, cá nục…. – Chao ui! Nồm vừa đổi qua, bấc thổi về, ở trong bờ, sóng lớn bao nhiêu, thì ngoài, nhiều cá bấy nhiêu. Tôi là Đỗ nục mà, thấy dờn dợn sóng nhấp nhô, là biết ngay choóc nục boạc ngoàn sa số là nục anh nề (ngay chóc cá nục bạc ngàn sa số là cá nục anh à). Hai chị em con gái ông Lý Đỗ ngồi ở hang ghế đối diện bên kia lối đi, cô chị tóc nhuộm màu nâu vàng, son phấn kỹ, cô em ốm và đôi mắt thất thần, lạc lõng . – Choa nề (cha này), reng có mệt không choa. Cô em lo âu hỏi. – Ui.. ui.. giòa rùi, reng biết được mi hè! (già rồi làm sao biết được). Nó lên cơn khi mô ai biết nè. Lão đưa tay đen đúa đè lên khung sườn ngực lép cúi xuống vờ như mệt rồi khề khà: – Anh biết không nề, dân biển tụi tui lâu lâu không đi biển nhớ chịu không nổi nề, chiều chiều ra biển ngóng chờ ghe về nhớ chết được nè! . Có tiếng o o xen vào cái chợ rôm rả, ồn ào của hàng chục người khọt khẹt cười, thút thít khóc bên cái”a-lô”, ngoài khung trời hừng hực đổ lửa, chiếc ATR hai cánh quạt quay vào sân đậu. Hơn hai mươi khách đi như chạy vào phòng đợi lãnh hàng, để tránh cái nóng như nung. Lão Đỗ rút đôi chân gầy đen, như que củi ra khỏi đôi dép nhựa, ngồi chồm hổm trên đó,trên ghế người vẹo nghiêng như đang mệt… . – Cha ri liệu có đi được không cha? Người con gái lớn đứng dậy, đến gần hỏi. – Chi núa chi lọa hè (Chị nói chi lạ hè). Choa khỏe hơn chị em mình nữa nì. Phải không choa? Đứa em cũng lại gần. Khi có hai đứa con gái đến bên cạnh, cầm đôi tay đen nẻ, xướt như vết đen tưa trên ngón tay. Lão Đỗ lim dim đôi mắt, thở như mệt nhọc: – Giòa! Giòa rồi , biết reng, núa trước được chi. Yên tâm choa khỏe mà. Hai đứa con gái về chỗ ngồi. Lý Đỗ hấp háy đôi mắt tinh quái nhìn chiếc máy bay phập phò thở trong nắng rát. Hơn ba mươi hành khách xếp hàng, hành ly xách tay của dân quê, thôi thì, lủ khủ gói, cột, túm, mang… hàng chục cái a-lô reo đủ thứ nhạc chờ lạ tai, dậm dựt trong đó chen lẫn cả câu cải lương, bài hành Phương Nam, bài Lý Ngựa Ô, cả nhạc rap… Cô con gái đi trước, vai phải đeo xách thời trang, tay kéo va-li màu hồng, vai trái đeo túi lưới có mấy bịch tỏi Lý Sơn, mấy gói bánh đậu xanh khô, tay trái cầm điện thoại áp sát tai, vừa đi vừa hét : – Thoôi …em đoang roa moáy boay… Chu choa chi rứa mà chờ chết được… Thoôi…đi nghe!... Đi nghe… Mười mấy cái a-lô, cái gọi tới, cái réo đi,… trong gió biển phần phật thổi hơi cát nóng bừng, chẳng có bóng cây xanh. Quả là người Quảng thật là ồn ào! Tiếp viên yêu cầu khách kiểm tra cài dây an toàn, lưng ghế dựa thẳng, tắt máy điện thoại, không hút thuốc. Ông Lý Đỗ ngồi trước tôi hai dẫy ghế, máy bay còn mấy mươi ghế trống. Tôi ngồi bên cửa sổ nhìn ra bụi cát và nắng lung linh đổ hoa, thấp thoáng mấy bụi gai như rủ nhau chạy tránh gió cát. Máy bay cất cánh, anh thanh niên trẻ ngồi bên tôi lặng lẽ đọc báo. Tất cả các cái”a-lô” bị tắt, không gian được trả lại yên tĩnh ngoài tiếng động cơ đều đều. Đây đó những tiềng rầm rì nho nhỏ, cô tiếp viên thông báo sẽ phục vụ khăn lạnh, nước giải khát và yêu cầu khách đừng rời chỗ ngồi, nếu không có nhu cầu… . Chưa quá năm phút bay, bỗng người con gái lớn của Lý Đỗ, ngồi cạnh ông la lớn : – Choa! Choa ơi, choa reng rứa choa?(cha ơi cha làm sao vậy). – Reng, reng, sô ổng trợn dộc mét lên rứa trời !(sao ông trợn ngược mắt lên vậy trời). Cô em ngồi ghế sau chồm lên băng trước la choai choái. – Choa! Choa! Trời ơi, cô tiếp viên ơi! Heo, heo ( help, help!). Cô chị Việt Kiều la lớn. Cả dàn đồng ca dân quê tôi nhốn nháo, ồn ào, không gian nhỏ hẹp ồn ào hẳn lên trong lòng chiếc máy bay nhỏ giữa lưng trời. Hai người tiếp viên chạy đến bên Lý Đỗ : – Xin quý khách ngồi xuống tại chỗ của mình, xin quý khách đừng chạy qua, chạy lại, xin quý khách giữ yên lặng cho .xin…xin .. Như nước bờ đập đổ ào khi vỡ, ba mươi mấy người, mỗi người một câu “reng, rứa, cho, mô, lọa quá!”, đủ đinh tai, nhức óc. Trổi lên trên dàn đồng ca đó là giọng cô út ông Lý Đỗ : – Choa ơi, Choa tỉnh lại mòa, chi lọa rứa choa! Cô khóc rưng rức, mấy mươi chiếc đầu đều quay về mái tóc muối tiêu và nước da đồng đen miền biển của lão Lý Đỗ, chúi xuống trên thành ghế. Tiếp viên hàng không mang bình ốc-xy đến, sơ cứu qua loa rồi qua buồng lái báo tin với cơ trưởng. Lay, xoa, bóp, xức dầu …Lý Đỗ vẫn không nhúc nhích… nhiều người la lối với tiếp viên : – Ông lão tét thở rùi! Ông lão chêết thiệt rùi !( tắt thở rồi,chết thiệt rồi) Anh tiếp viên và cô bạn đồng nghiệp quýnh quáng ra vào bối rối. – Thưa quý khách có ai trong quý khách là y sĩ, bác sĩ không? Anh thanh niên trẻ ngồi bên tôi, đứng dậy lên chỗ lão Đỗ-nục, cô con gái con ông già xuống ngồi cạnh tôi. Anh thanh niên trẻ cởi nút thắt áo quần ông lão, anh hỏi cô tiếp viên : – Trên máy bay có ống nghe, dụng cụ đo huyết áp không? – Dạ có. Cô tiếp viên quay đi lấy dụng cụ y tế cho anh bác sỹ trẻ. Mười mấy chiếc đầu chồm lên, im lặng nhìn ông lão Lý Đỗ giật giật tay chân, nhưng vẫn mê man bất tỉnh. Anh bác sĩ trẻ nghiêm nghị lắng nghe, bên cả chục lời rầm rì xen lẫn với tiếng máy bay. – Nhịp tim hơi nhanh ! Ông già như ngất đi , không có cách gì làm ông ta tỉnh lại. Anh bác sĩ trẻ bỏ ống nghe trở về chỗ ngồi. – Bác sĩ khám thấy thế nào rồi?. Tôi hỏi. – Dạ em là nha sĩ, chẳng biết làm cách nào, mọi sự bình thường chỉ có người ông lão rũ ra bất tỉnh… Tiếp viên chờ chỉ thị mặt đất và thông báo cho hành khách: – Máy bay sẽ quay về phi trường Chu- Lai đưa bệnh nhân nhập viện cấp cứu. Quý khách thắt dây lưng an toàn và ngồi yên tại chỗ… Râm ran đây đó nhiều giọng xì xào, tri trô: – Reng quay lại…, tau thấy máy bay nó đảo lại, chắc là tới Bình Định rồi! – Không chưa mô ô …mới tới Bồng Sơn… – Đã núa…mới boay mà. Chừ mới tới Tôm Quang .. Người Quảng với nhau có cơ hội là cải, ai cũng muốn khẳng định ý kiến riêng của mình. Tiếp viên hàng không đi qua lại kiểm tra dây đai, ghế dựng thẳng… và nhắc nhở : – Xin quý khách giữ yên lặng, yên lặng cho. Xin không sử dụng điện thoại di động… Mấy mươi cái ”a-lô đã sẳn sàng” trên tay ,như chiến-sĩ sẳn sàng tay súng chờ lâm trận, mấy mươi cái đầu trồi lên xuống, thấp thỏm… chỉ mong có cơ hội, để mình phải là phóng viên đầu tiên đưa tin sốt dẻo cho người thân dưới dất. – Út ơi, răng choa thở đều hơi và như ngủ, như ngất rứa mi?…. Cô chị nói với cô em gái Út. – Đã núa, có reng mô, choa đau chi mà lọa! (Cha đau chi mà lạ!). Máy bay hạ cánh, phì phò thở dốc quay vào sân bay Chu Lai. Vừa đứng yên, tắt máy, viên phi công ngoại quốc mở cửa nhìn vào bệnh nhân. Mấy mươi chiếc a-lô nhao nhao, trai, gái, già trẻ, cùng la hết công suất, hết mọi cách mô tả, giật gân gấp trăm lần, hơn những gì tôi chứng kiến. Quả dân Quảng có năng khiếu làm báo viết ,báo nó,báo hình… “– Biết không … biết không, bay trở lại Chu Lai rồi, có người chết trên không. Trời ơi. Khó mô tỏa nổi! Giật giật! Lè lưỡi! Chết tại chỗ.” “– Anh ơi, em núa cho nghe, - Cô gái trẻ tóc vàng nói – phải bay trở lại, ông già sùi bọt mép, bác sĩ bó tay nè. Bác sĩ cạy miệng ra không được nè. Anh ơi sợ quá, anh ơi...” “– Trời ơi mi biết không, hai đứa con gái mà đành ngồi nhìn choa chết thổm! (Cha chết thảm!) giữa trời mi ơi. Bây giờ chờ xe đến khiêng xác xuống, tau nhớ đời! Tau nhớ đời!”. Tất cả hành-khách vẫn còn ngồi yên trên máy bay mà nhao nhao nói như bầy chim bù chao thi nhau hót lao xao trong bụi cây rậm giữa trưa hè oi ả. Hai cô con gái nhờ tôi và anh nha sĩ xốc nách đỡ ông Lý Đỗ xuống cầu thang máy bay. Tôi thấy mặt ông vẫn tươi nhuận trong sắc da đen lẻm cố hữu, chiếc nón phớt hất gọn ra sau, cánh tay quàng qua cổ tôi, rõ là có có sức ghì, kéo, của một sức sống, không phải là một xác “chết thổm” như mọi người lo âu. Ông Đỗ-nục hé mắt nhìn tôi, lẹ làng xốc bàn chân đen xù xì vết nứt vào đôi dép nhựa dưới sàn ghế. Phi trường mỗi tuần có hai chuyến bay trưa thứ ba và thứ bảy, ra vào Saigon. Hôm nay thứ bảy khi máy bay cất cánh, tất cả mọi hoạt động ở phi-trường ngưng nghỉ, đóng cửa, dọn dẹp… Chỉ còn mấy người bảo vệ và trực ca ra vào. Cô em kêu taxi đưa bệnh nhân đến bệnh xá gấp sau khi nhân viên dưới đất làm thủ tục trả hành lý của cô em Út và ông già Lý Đỗ.Máy bay chờ tiếp liệu và sẽ tiếp tục bay về Sai-Gòn. Trong khi hành khách ngồi chờ ở phòng đợi để máy bay tiếp nhiên liệu và sẽ tiếp tục bay về Saigon . Tôi và anh nha sĩ giúp đưa ông lão đến bệnh xá cùng cô con gái Út. Bệnh xá, theo tài xế taxi, đi mười phút là tới. Cô em Út ngồi ghế trước bên tài xế, tôi và anh nha sĩ đỡ ông Lý Đỗ nằm xoài trên ghế sau. Xe rời phi trường, chạy qua khỏi cổng thu phí, lão Lý Đỗ trở mình, dựa người vào ghế và nói như người vừa ngủ dậy: – Nì, mở máy lạnh chi, bác tài ? - cho tôi gió biển…, ngộp quá, ngộp quá… Tôi quay kính xe xuống, lão dướn người lên, mắt hấp háy nhìn về hướng hàng dương xanh đang run rẩy ngày, đêm vẫy gọi biển khơi. – Nghe mùi gió biển sôô nó khỏe re! khỏe re!( Sao nó khỏe re ! khỏe re !) – Choa không chịu đi với chị Hai,cha giả bộ ngất, chỉ làm khổ con. Lão nhắm mắt, mũi hin hin hai cánh như mũi thỏ tìm rau xanh, hít dài hơi gió biển thân quen, tay lão để trên vai tôi bóp nhẹ, cười hóm hỉnh . – Đi mô cho bằng về quê mình con. Út à, con cứ về Tam Kỳ, Đà Nẵng, ở với chồng con. Cứ để choa một mình ở ngoài bãi rạng Bàn- Than. Có sôô đâu con? . – Reng không sôô ! Choa núa rứa mà nghe được sao choa. Một mình choa lủi thủi dưới tán dừa, biển khơi, khi nắng gió sớm hôm ai đỡ đần! Tụi con sống sao yên tâm cho được choa?. Cô Út rưng rức khóc. Điện thoại lão Lý reo vang trong túi áo, lão lụp chụp lần tay lấy ra, lão rút chân để lên ghế như người ngồi chồm hổm trên nệm, thanh thản, chậm rải nói : “– A lô nà! A lô nà! Lão Chư hả?. “ – Ơ, ơ, mình đây nà , Đỗ- nục đây nà. Hử.. hử? Reng mà đi được nà, phải về chớ nà. Đi mô bằng ở quê mình, hôm trước mấy lỗ (lão) rót rượu chia tay, mình núa không có đi mô đâu nà!Mình đi lên mé boay cho biết thôi moà . Reng hả ,ghe lưới thằng út Lực con anh đã vô bờ chưa nà? - Vô rồi hả, có nục suông không hè, nhiều hả? Xế xế tôi ghé rủ lão Đởm, Ba Hà tụi mình xôốp vô (xáp vào), tôi kể chuyện bay lên côo (cao) cho nghe…ờ, tui mua tráng nướng ở chỗ chợ đem qua bển hè!” Lão tắt a-lô mắt rạng rỡ, chẳng còn chút vết tích con người nằm thẳng cẳng, ngáp ngáp, tưởng đã chết ở lưng trời. Tôi quay sang lão hỏi nhỏ : – Cá nục suông là cá gì vậy bác Đổ? – Anh xa quê nhà lâu rồi quên bén hết rồi! Mùa chuyển nồm này, biển giăng trúng một mẻ cá nục suông, là thôi hết biết! Da cá xanh óng, nhấp nhánh trong nắng, xanh như mắt mèo. Suông, thon, tròn lẳn non tầm gang tay. Chu choa! Cá nục suông mà luộc sổi, hấp sổi với chút nước biển, mềm rụm như chẳng có xương… Chu choa! Rồi rau muống cỡ gang tay cắt ngọn ... Chu choa! Rồi bánh tráng nướng xong, nhúng nước mềm rôm rốp Chu choa, rồi chén nước mắm nhĩ ớt tỏi cay nồng…rồi Chu choa…ba bốn tay già ngồi tên chõng tre, dưới gốc dừa bên bãi rạng nghe gió biển ù ù … Chu choa… một ly rượu trắng nhỏ, rôm rốp , rôm rốm, kén (cắn) rồm rộp.. Chu choa... ôi, anh nà nó sướng râng râng người anh nà, sướng lắm anh nà.Có chổ mô cho mình được cái hạnh-phúc ni anh hè ? Giọng lão nhò dần, nhỏ dần, mắt lão nhắm lại, miệng lão mỉm cười trên khuôn mặt đen nhẻm, rạng rỡ. Lão cười trông sao sung sướng đến thế, khóe mắt lão ròng ròng một hàng nước mắt chảy dài. Lão nói trong xụt xịt nước mũi, trong nụ cười trên môi: – Út à rứa làm răng choa xa quê con ơi! Choa không thể đi mô đâu con à. Cô gái Út quay lại mắt đỏ hoe nhìn cha già , vừa cười vừa xụt xịt: – Choa cứ rứa, cứ chết dí trong xóm rạng. không điện, không nước, chỉ có gió và biển khơi sầm sập, sóng đánh vào hốc đá suốt ngày đêm. Gần đến bệnh xá rồi, cha vô cho họ … khám qua, rồi con để hai anh ni, bay vô Saigon nữa!. – Bác Đỗ thấy khỏe chưa bác? Lão lại bóp vai tôi nói nhỏ: – Sôô mòa (sao mà) chết được anh hè? Dân xứ Quảng mà, như cái ông Trình Giảo Kim trong truyện tàu, phoang boa búa (phang ba búa) mà không thắng được thì thua,lão chỉ có boa búa thôôi (ba búa thôi)…hà, thua là lão nằm lăn quay ra đất, lão ta mạng thổ, có hơi đất là lão sống lại, rồi tiếp tục phoang boa búa khác! ..Ha ha.., dân Quảng quê tui cũng vậy mà, đau khổ, thất bại ê chề chỗ mô trên đường làm eng (ăn) bôn tẩu, thì cứ lếch thếch về, đặt chân lên đất quê nhà là tỉnh lại liền, là sung lên rồi lại ra đi tiếp tục phoang boa búa nữa! Hà ..hà ..tui reng chết được anh, chỉ cần về lại quê nhà, nghe mùi gió nồm nực mùi biển khơi, mùi tanh tanh của cá là tui tỉnh lại liền à. Lý Đỗ cười ranh mãnh, mắt lão lim dim, trong khóe mắt sáng lên đầy ngụ ý. Tôi và anh bạn trẻ từ giã Đỗ-nục và cô con gái út đứng ở cửa bệnh xá mắt đỏ hoe, lên xe trở về phi trường. Hành khách vẫn còn ngồi đứng la liệt trong khu cách ly, ồn ào, rộn rã với các “a-lô” của mình. Cô chị thấy chúng tôi về, sà đến hỏi gấp: – Cha tôi tỉnh lại khỏe chưa anh? Mắt cô cũng hoe hoe đỏ như cô em. – Vậy cô Út chưa điện cho cô à? Tôi hỏi. – Nó giận tôi, nó giận ông già, từ lúc lấy hành lý đưa cha tôi đi, chẳng điện cho tôi. Sao rồi anh?. Tôi tần ngần không nói hết suy nghĩ của mình. – Bác hơi khỏe rồi cô, đã tỉnh lại, đã vào nằm nghỉ trong bệnh xá, tôi chắc bác nghỉ yên tĩnh trong thời gian ngắn sẽ khỏi thôi. Tuổi già là vậy cô à. – Tôi nghiệp con Út, Cha tôi chuớng lắm anh ơi. Con út, nó thuyết phục khản cả cổ, ông mới chịu theo tôi qua Mỹ. Bên đó có đầy đủ điều kiện thuốc men, y tế chăm sóc cho người già… Chứ cha già mà sống một mình ngoài bãi rạng Bàn Than thì tội quá…Tôi theo chồng qua bên đó hơn mười năm rồi, đời sống cũng ổn định, đây là lúc tôi phải lo cho cha già. Nhưng anh cũng biết việc cung cấp tiền bạc không khó ,mà … Cô chị nói nhỏ dần, miệng mếu máo nói không thành lời. – Rồi sao cô? Tôi hỏi. – Khi tôi mới đi, em gái Út của tôi mới hơn mười tuổi, sau đó năm năm mẹ tôi mất, nhà chỉ còn nó thui thủi vừa chăm cha già vừa đi học. Nhà tui ở ngoài rạng Bàn Than, qua bên kia bến đò An Hòa, căn nhà lợp tôn trong tụm dừa nhìn ra biển cả mênh mông, Chao ôi, đêm đêm nghe sóng vỗ vô hốc núi Ban Than soàm soạp, oàm oạp xen trong gió biển, buồn vô hạn anh ạ. Tôi bao lần làm đơn bảo lãnh cha và em, nhưng nhất dịnh cha tôi không rời căn nhà nhỏ nơi bải rạng, không rời được tiếng oàm oạp ngày đêm của sóng biển…Con Út làm sao đi đâu. Rồi mấy năm trước, con Út gặp anh chàng công nhân gốc Bắc, làm ở khu công nghiệp Chu Lai, hai vợ chồng nay đã có một đứa con trai, đang tính về Tam Kỳ ở, vì chồng nó có quen biết, nên được đổi về làm ở Sở Tài Nguyên Môi Trường Quảng Nam. Nó cứ thậm thụt chạy ra, chạy vào lo âu, áy náy về cha già…Anh nghĩ coi… Cô lại rấm rức khóc, lấy khăn lau nước mắt và nói nhỏ … . – Rồi sao nữa cô? Tôi gạn hỏi. – Ôi, nó nói nghe mà thương quá anh ơi. Lần trước tôi về thăm quê mươi hôm, hai chị em về căn nhà cha dưới rạng, sống với cha già đôi ngày. Chỉ vài ngày là đi, bây giờ mình quen sống với tiện nghi thành thị, ngủ chõng tre, bếp củi, con mòng, con bù-hóng chích sưng chân tay mặt mày… Đêm đến, không điện, ngọn đèn tù mù tỏa ra khói, gió hun hút qua mấy phên tre, nghe sóng oàm oạp vỗ vào hốc núi. Choa ôi sao mà nó buồn thúi ruột anh ơi! Con Út nói với tôi và cha: “Chị Hai ơi, chị cho cha qua bển để biết đây biết đó, suốt đời cha mẹ có đi đâu qua khỏi cầu An Tân. Bên đó có bác sĩ, có thuốc men, dầu có vô dưỡng lão, như chị nói, buồn lắm thì cũng có người đẩy xe lăn, có người làm bạn …. Chứ ở đây chị coi cha cứ thui thủi quẩn quanh qua mấy gốc dừa, mấy ông bạn chài lưới già. Sáng sáng, chiều chiều… cứ đi quanh quẩn chờ từng chiếc ghe lưới cưỡi sóng trở về, cứ luẩn quẩn ngó từng lưới. từng ghe xem thúng cá cơm, cá chích, con chuồn, con mực…tươi rói.Ông đi quanh quẩn , miệng móm sọm, mắt kèm nhèm , cười vu vơ … Rồi đảo về, lủi thủi một mình bắc niêu cơm trên ba ông táo, thở dài khi lên thắp cây nhang trên bàn thờ mẹ …rồi ra, rồi vào…. Chị ơi.. chị đưa cha qua với chị đi, chị ơi!...” Anh coi nó nói rồi nó khóc, nó như quỳ xuống ôm gối tôi mà nói… . – Rồi sao nữa cô?. – Làm sao khác được anh? Tôi làm thủ tục bảo lãnh cho cha tôi qua thăm con cháu vài tháng xem sao, rồi sau đó tính tiếp. Nhưng anh biết đó, cảnh sống ở bên đó có vui vẻ gì cho cam. Đêm qua tôi không ngủ được, thâm tâm tôi không muốn đưa cha tôi đi vì cứ nghĩ cha già ngơ ngác giữa những người xa lạ, cảnh vật xa lạ tại viện dưỡng lão. Lúc chiều qua tôi và con Út, từ Tam Kỳ xuống rạng Bàn Than đón cha già. Ổng bảo hai đứa làm mâm cỗ thưa với mẹ rồi đi. Ông thắp nhang trên bàn thờ mẹ tôi, nói chuyện với lư nhang trên bàn thờ mà như nói với người sống :”Bà ơi, bà coi nhà, tui đi dăm ngày, nửa tháng rồi về; tui qua coi mấy cháu ngoại ,con con Hai nó ra reng?”. Nói xong ông ra trước hàng dừa trước cửa nhà, vịn cây ngóng biển mà sụt sùi. Ôi, anh ơi, cha tui thấy không đâu vui sống bằng chốn này.Tôi đưa cha đi xa như là đem nhổ dây khoai ra khỏi vồng cát, dây khoai sẽ héo úa mà chết. Bây giờ ông bị đau mà ở lại tôi mừng, tôi chỉ thương con Út. Tôi nghiệp nó, bên chồng, bên cha già, tôi khổ tâm hết sức biết làm sao anh? Tôi yên lặng nhìn cô Hai. Khách xếp hàng lên máy bay để tiếp tục hành trình. Tôi nói với cô gái lớn lão Lý Đỗ, mà như thầm nhủ với chính mình: – Cô ơi! Như Trình- Giảo- Kim “họa thổ thôi mà” (hạ thổ thôi mà). Có chi mô! Đặt được bàn chân xuống mảnh đất quê hương , có hơi đất quê nhà là mình tỉnh lại, tiếp tục đi phoang boa búa nữa mòa. En thua chi mô( đi phang ba búa nữa mà, ăn thua chi mô !). Khi máy bay cất cánh, qua khung cửa sổ, tôi thấy biển xanh và sóng trắng cùng cả rừng dừa xanh ngút ngàn đến tận mũi núi đá Bàn Than bên cảng Kỳ- Hà.Tôi mườn tượng hình ảnh mấy ông già, tóc bạc, da mồi,da rám nắng đang ngồi trên chỏng tre,rôm rốp bánh tráng nướng với cá nục suông,tiếng cười ha hả lẩn trong tiếng sóng oàm-oạp lùa vào hốc đá.Làm sao họ có thể đi đâu xa ngoài sóng gió Quê nhà ?.Tôi như nghe lão Đổ-nục lên tiếng: -Nề,mấy lão nề! Tụi mình như mấy ông Trình-giảo-Kim , boàn chưn độp được trên đất quê choa thì reng moà chết được hè ?.( Bàn chân đạp được trên đất quê cha thì làm sao mà chết được?)

(Dalat tháng 12, 2013)


Về đầu trang


Thầy Ơi

Thầy Nguyễn Quang Tuyến

Tao đi sát mông nó, tao phập cây kim cúc vào mông, mà nó còn nhấp nháy mắt nhìn tao cười, tỉnh bơ. Ha!Ha!Ha!… Tao biết ngay chóc! Ha!Ha!Ha!… Cậu quản lý thị trường, đeo băng đỏ bên tay áo, cười ngặt nghẽo cùng đám bạn trong gian phòng vách tôn phía cổng trạm kiểm soát. Anh bộ đội trẻ, đứng phía sau chồm lên hỏi tò mò : Sao mày dám chích kim vào mông bà ta ? rủi trúng thịt nó đau,nó hét toáng lên thì chết tía! Đồ ngu! Khi hai bà ta vừa leo xuống chuồng cu xe tải là tao đã nghi nghi rồi. Ai đời, mặt choét, vai nhỏ mà ngực, bụng, mông xề xệ như cái thúng!!.Nếu bụng mang dạ chửa thì chân đi xoạc, bụng nảy, chứ ai lại chân bước lúm túm, bụng thì căng cứng … tao nghi nghi. Ha ha! tao lảng vảng đến sát, chích một phát vào mông, bà tỉnh queo nhìn tao cười … vậy là tao đưa vào phòng kiểm tra nữ cho chị Sáu. Mày biết không ? Bà chị có chửa, ngực mông,bụng đùi là 12 kí cà- phê nhân, còn cô em chỉ ngực và mông không mà 7 kí lô đó mày. Ha ha!. Tao tức cười nhất là phập kim vào mông mà miệng mắt bả cười cười! Ha ha ha!

Tôi và anh tài- xế xe tải ngồi trên băng ghế gỗ chờ xử lý vụ việc:” chở con buôn hàng cấm, thông đồng với bọn phe phẩy”. Gió mùa Nô-ên vù vù thổi từ sườn núi đèo Bảo- Lộc lùa qua trạm kiểm soát đỉnh đèo. Nắng hanh hoe vàng như mật mà quay quắt lạnh, buồn tê tái. Hàng dãy xe khách, xe tải chờ lục soát, kiểm tra. Những xe “không có vấn đề” phập phồng chạy qua, khói đen cuộn tung trong gió. Mấy chiếc xe khách đeo thùng than sau xe như đeo gùi xuống núi, mấy đóm lửa và bụi than theo gió lất phất bay như pháo hoa cải ngày tết. Những khuôn mặt mệt mỏi, trơ trơ, xếp hàng đi qua trạm kiểm-soát giống hệt hình ảnh đám dân Do-Thái bị lùa vào cổng trại tập trung: mệt mỏi, ngơ ngác, cam chịu!

Mới sớm nay, co ro, ngồi góc quán cà phê “Cương râu” ở gần rạp Ngọc- Hiệp Đà-Lạt chờ tài xế xe tải xin đi “cải thiện chút chút “ rồi sẽ trở lại đón để đưa xe vòng qua các xưởng gỗ bốc hàng chở về Thành phố. Tôi là áp tải (theo xe quản lý hàng) vừa là công nhân bốc xếp. Anh tài xế xe tải loại bốn tấn cũng là người Đà Lạt, quen biết nhau cả.“ Cải thiện” là cách nói của cánh tài xế, họ đi mua ít rau cải, xếp “ếm” vào các hốc thùng xe trước khi chất hàng chính lên xe che đậy lại, để khi vượt qua trạm Kiểm-sóat ngăn cách giữa các tỉnh thành, bán kiếm thêm để có tiền ăn cơm dọc đường. Ông chờ tôi đi vòng vòng quơ quào chút chút, cải- thịên kiếm bữa cơm trưa có chút “thịt kho nuớc dừa” ở quán “Cây Vú Sữa” nghen! … Anh tài xế xe nhanh nhẩu nói, vừa tợp nhanh hớp cà phê nóng và vội đi, khi ngoài trời mưa bụi lất phất lạnh.

Đà Lạt lạ thật, đất trời cũng giống như con người Đà Lạt, mưa bão nơi đâu, nơi đây cũng sụt sùi gió mưa tê cóng, dù vui buồn, đau khổ nơi đâu rồi người Đà Lạt cũng “cố bay về” mà ru trong ký ức để loãng bớt vết thương đau. Lạ mà đẹp thật! Ngồi co ro, cố nép sát vào tránh từng làn mưa bụi tạt qua, khói thuốc lá Đông-Nam khét lẹt,đặc quến trong ẩm ướt. Phố xá vắng đìu hiu, gió và mưa lạnh chạy bương bương trong âm vang của mấy chiếc loa phong thanh mở hết công suất các bản hùng ca chen vào giọng lanh lảnh : chiến thắng vĩ đại nhất là ta! và “ hạnh phúc và vui sướng biết bao quê hương ta!!...” Đã gần mươi năm rồi, bên ngoài biết bao thay đổi, nhưng đời mỗi con người vẫn âm thầm câm nín như vậy. Sợ hãi,câm nín và chịu đựng hình như đã trở thành bản năng sống của con người từ thời hồng-hoang, lũ vượn người chen chúc nhau trong hang tối, hấp hé mắt nhìn qua khe hang đá thiên nhiên cuồng nộ và các giống loại khác lăm lăm nhai cả xương và da!! Chỉ có sợ hãi, câm nín và chịu đựng rồi may ra mọi sự sẽ qua đi, sẽ qua đi. Cả một bầy đàn, qua bao kinh nghiệm máu xuơng của đồng lọai, để tồn tại sống đuợc như giun dế, không có gì hơn là lòng sợ hãi và nếu cần thì đổi màu da để ẩn nấp như con tắc kè . Xe xuống đèo Prenn sau khi đi vòng các hợp tác xã tre, gỗ … chất mấy mươi thùng các sản phẩm mỹ nghệ tỉa tót trau tria, bao công phu mong lấp đầy đói khổ và tuyệt vọng . Cái đẹp tạm bợ kia là cơm áo, là hy- vọng là đời sống. Gỗ bạch tùng lát mỏng dùng điện trở chà cho cháy xém tạo hình lãnh-tụ, phong cảnh gọi là tranh bút lửa. Tre nứa cắt mỏng, dán thuyền buồm, đánh bóng; gổ lát ghép hình cầu kỳ, công phu,gỗ cà-chí lát dày rồi đục đẽo,chà láng làm khay chén, muổng nĩa … nuôi thỏ làm thịt, lấy da thuộc làm nón áo .. tất cả xuất khẩu qua các nước Liên xô, Đông –Âu. Công phu và tỉ mỉ nhưng các loại keo dán, dầu bóng lại là loại tự chế nên chỉ thời gian ngắn là rã rục ra, nếu không kịp xuất hàng . Tôi đã chở hàng đi giao và đã chứng kiến các thùng hàng bị trả về vì chất lượng. Biết làm sao được! Mọi người đã cố hết sức, nhưng vật tư nguyên liệu chỉ có vậy. Tôi còn nhớ khi giao nón, áo da thỏ cho công ty xuất khẩu, chỉ chậm tàu chở hàng xuất bến hai tháng, khi mở ra đã có từng mảng lông tróc ra, áo nón lầy bầy những miếng da bèo nhèo khủng khiếp. Rồi phải mang về đổ đi, rồi phải vẫn vậy tiếp tục làm, vì đó là gạo, là đời sống của mấy chục gia đình hàng ngày ngâm, giặt, là, may, ghép …và tôi nghĩ những nơi nhận hàng trong gia đình xã-hội-chủ-nghĩa họ sẽ làm gì với các sản phẩm đẹp mã ngắn ngày này ? Một cuộc múa may vô vọng vẫn mang danh sản xuất, xuất khẩu. Cứ thế tiến lên!

Anh tài xế kéo hộc trước ca-bin xe lấy cái Cassette nhỏ, thay băng nhựa, quay qua tôi cười hề hề: Tụi mình nghe chút “ vàng vàng” cho nó mềm mềm chút nghen. Tôi chỉ thoải mái nghe nhạc này khi ở trong ca-bin chạy xe đường trường thôi anh. Nghe ở đâu cũng sợ bị vồ lắm. Ê Bảy, anh quay lại cậu phụ xe, mày đẩy sát mấy giỏ rau cải, kéo thùng hàng mỹ nghệ nhẹ lên che kỹ chưa mày ? Kín hết biết luôn! Vô tư! tay phụ xe cười toét miệng, kéo cái nón vải xệ xuống trán. Cơm cháo dọc đường có chút đó, xuống dưới kiếm chục ký gạo mua về cho bầy nhỏ nghe mày!

Anh khỏi lo, vô tư!

Anh tài-xế quay qua tôi giả lả :

Anh thông cảm, anh em mình cơm cháo ngủ nghê trên lộ cũng ở mấy đùm rau cải đó thôi anh ạ. Có bề gì anh nói giúp mấy ông ở trạm là mấy giỏ quà gửi cho cửa hàng ở chổ mình giao hàng .Nghen anh!

Tôi cười gật đầu. Im lặng…

Đi xe nào cũng vậy, tuyến đường nào cũng vậy, mình chỉ là người giao hàng, khi lên xe ăn theo với tài phụ. Muốn được vui vẻ ăn theo có chút thịt cá trong thời “bo bo, rau muống”, thì phải ngó lơ cho tài phụ dấu cất đâu đó trong góc xe, trên thùng nước trên mui xe, trong chỗ ngủ, trên chuồng cu … chút ít hàng ngăn sông cấm chợ. Những ngày tháng “ ngăn sông, cấm chợ” ấy, chở được một giỏ rau củ, vài ký trà, cà- phê, qua trạm kiểm soát lằn ranh giữa hai tỉnh là đủ để có một bữa cơm thịnh soạn. Cái chuồng cu xe tải là chổ để tài phụ ngủ khi xe ngừng nghỉ trên đường vận chuyển. với diện tích không quá 3 mét vuông được gác hai tấm ván, với một tấm chiếu cáu bẩn dầu nhớt. Chiếc cửa tò vò đủ cho từng người lom khom chui vào, trên cái chuồng cu đó có lúc xe tải chở được sáu,bảy người ngồi bó gối,ken chật. Ở thời buổi muốn có một vé xe đò đi từ Đà Lạt – Sài Gòn, phải thức dậy từ 3 giờ sáng xếp hàng chờ mua vé, xe nhồi nhét như nêm. Xe đò chạy dậm dựt hàng 10 giờ chưa chắc đã đến được. Trong khi đón xe tải dọc đường, được bác tài cho lên phòng “cải thiện” trên chuồng cu của xe tải, đó là hạnh phúc. Dưới hai tấm ván gác ngang của chuồng cu là thùng đồ nghề, là mấy tấm bạt rách, là lủ khủ giỏ xách, phế phẩm … tất cả “vải thưa” đó là đồ trang trí để che mấy giỏ rau, củ quả hoặc vài ký trà, khi xuống, và vài chục cân gạo đi lên cho lũ nhỏ ở nhà đỡ trợn mắt nhướng cổ nuốt bo bo trệu trạo! Tôi đi áp tải giao hàng, lắm khi cũng “ăn theo” đùm rau quả làm quà cho mấy người bà con khi xuống và khi về thì cùng “kèm cặp” năm ký gạo, vài ký cá khô, đôi khi gói kín một con vịt quay mua ở Ngã tư Hàng – Xanh và mấy ổ bánh mì, để về nhà cho vợ con một buổi tiệc. Áp tải chịu trách nhiệm về hàng hóa chuyên chở trên xe cho đến khi giao xong hàng cho khách hàng. Trách nhiệm thì có vẻ lớn nhưng quyền lực trên xe là do tài xế, phụ xe xếp đặt, áp tải như lão vua già ngủ gà gật trên xe, giấy tờ trình báo qua trạm đều giao cho tên phụ xe hay tài xế lo. Chỉ khi cần phải ký biên bản vi phạm hay biên bản bảo l ãnh hàng hóa vi phạm … lão vua già ngất nguỡng nhảy xuống xe kí giấy khi cần, rồi tót lên ngồi lim dim gà gật chờ đến quán cơm có thịt cá dậy mùi trong giấc mơ ngầy ngật quanh quẩn trong đầu gả. Ông tài xế xe người dân Nam bộ, đậm người, da ngăm ngăm, râu quai nón lún phún ôm quanh nụ cười trắng nhởn, dễ gần

Anh bắt chuyện :

Nghe nói, trước “ ngày chạy dài” anh cũng đi dạy ở Đà Lạt? nghe nói, anh cũng đốt hơn hai cuốn lịch trong trường cải- tạo? Hề hề … nghe chút cho vui, cho bớt căng cái đầu. Hắn ấn hộp băng cassette vào đầu máy trên xe. Hắn cười hềnh hệch, nhìn tôi như dò hỏi … Giọng ca Duy- Khánh bản Thương về miền Trung ngọt như mật quanh quẩn trong cabin xe. Nói thật với anh, ông tài xế tiếp tục, lứa tuổit tụi mình thiệt khó mà gọt cho sạch cái thứ nhạc vàng đặc quánh, thiết tha ngọt ngào này. Trời ạ, tôi cứ lên cabin xe, rê rê lái, rê rê nghe cái chất giọng ngọt lịm, xao xuyến,ngộp thở nó rót vào tai – Phê lắm anh ạ!.Cũng lạ thiệt ông anh có thấy không,tui cũng chỉ là anh lính nghĩa quân truớc 75, vậy mà tui chẳng hiểu sao cả chế- độ đồ sộ, tuớng tá, máy bay, súng ống … tự nhiên thắt cái chạy đi đâu mất tiêu, mất sạch hết … chỉ còn mấy lời ca nhạc vàng này là còn lại, quanh quẩn an ủi bao ngừơi sống ngơ ngơ ngác trong chế độ mới…Không có nó thì chắc buồn sao chịu nổi, ông anh !

Tôi biểu đồng tình, im lặng. Tôi nhắm mắt nghe vùng âm thanh mật ngọt thiết tha tan loãng vào từng thớ thịt da. Mới đó mà đã chín năm trôi qua, mỗi thân phận dân miền nam như một cộng rác vật vờ, tuôn xối xả trong cơn lũ lớn. Tiếng cậu phụ xe nói lớn làm tôi giật mình tỉnh giấc chập chờn trong tiếng nhạc. Anh Ba à, “ giớt” hai người khách lên, kiếm thêm cơm, thêm thịt hè? Xe tải rề rề tấp vào lề, anh tài- xế dặn: Mày coi chừng mấy bà qu ãng đường này là chuyên đi trà, cà- phê đến trạm Kiểm-so át nó lục lọi, giam xe là ná thở đó, nghe mày. Ôi mấy bà bụng lặt lè,mang bầu đi lạch bạch như vịt bầu này mà buôn lủi cà- phê, trà, cái nổi gì anh Ba . Ờ,vậy thì lẹ lên! Cậu phụ nhảy phốc xuống, ra giá với hai người đàn bà, một bà bụng bầu, lụng thụng trong cặp đồ v ải quần đen thụng áo bầu màu bả trầu sậm, một cô dáng trẻ hơn núng nính xách túm mấy túi lát kẹp lép. Anh phụ xe giúp cho họ leo lên bậc thang sắt để chui vào ô cửa nhỏ vào chuồng cu xe. Tui ngán khách đón quá giang ở vùng Lộc- Châu này, họ chỉ cần cất dấu năm ký cà- phê qua trạm là mua được vài chục ký gạo mang về nuôi con. Anh coi kìa, bây giờ người ta trồng chen giữa hàng cà- phê là khoai lang, bo bo, bắp …Người ta quơ cào mọi chỗ miễn sao có cái ăn … Ô chào, anh tài xế vặn lớn âm thanh bài hát “Nổi buồn gác trọ” của một nữ ca sĩ mang danh Con nhạn trắng Gò - Công nổi tiếng ngày nào … Xe chạy xập xình trên đường đầy lỗ trũng và đá cục, tôi chợt nghĩ đến người đàn bà mang bầu bì đang ngồi bó gối trên hai tấm ván gổ đầu chạm trần xe, phải chịu những cú xóc kinh người. Trời đã ng ả bóng chiều, mây trôi ùn ùn lạnh âm u. Xe dừng nơi trạm kiểm soát đỉnh đèo Bảo Lộc. Lại xét giấy tờ, lục soát. Hai người đàn bà ì ạch leo xuống, vào trạm theo yêu cầu của cán bộ Quản- lý thị- trường … ---oOo---

Tao phập cây kim cúc vào mông mà bả còn nháy mắt cười với tao. Ha!Ha!Ha! Anh tài xế ngồi cạnh tôi trên ghế gổ dài truớc phòng làm việc, chờ cán bộ trưởng trạm ra xử lý. Anh kéo tôi sát lại, nói thì thầm: Anh ký xong biên bản rồi “zọt” về quán Cây Vú Sữa ăn cơm. Mấy cô” phe phẩy” cà- phê tố loạng quạng mấy ổng lật ván chuồng cu thì chết cả lũ! Mấy bao sú, cà rốt là cơm, là gạo đó anh à! Tôi khẽ gật đầu đồng tình, nhìn mười mấy người ngồi trên ghế bơ thờ, mệt mỏi chờ đến phiên cán-bộ gọi. Mấy cán bộ quản- lý trẻ mang băng đỏ có ghi chữ KS màu trắng, cười đùa qua lại, nhìn ngắm từng người như bác sĩ soi rọi bệnh trạng từng người trong ổ dịch! Tài xế và áp-tải xe số … vào làm việc. Một anh cán bộ mở cửa phòng kêu lớn. Chúng tôi vào phòng, một cán bộ lớn tuổi, cúi đầu đọc, không ngẩng lên hỏi: Ai áp-tải? Tôi áp tải xe hàng gỗ mỹ-nghệ. Tôi nói. Thân nhân anh là hai phụ nữ chở hàng cấm. Anh ký vào biên bản xử lý. Anh tài xế nhanh nhẩu: Dạ em là tài- xế xe. Dạ thưa cán bộ không phải thân nhân của anh áp-tải đâu ạ. Đó là khách hàng đón xe quá giang ở Lộc Châu. Em chở xuống Đồng- Nai kiếm chút cháo, anh thông cảm! Anh cán bộ ngẩng đầu lên nhìn tôi, giọng chậm rãi: Hai cô gái là chị em, Người chị bảo họ là người thân của áp-tải xe hàng, anh giúp cho họ đi bán ít cà- phê nhà trồng để chữa bệnh cho mẹ đang nằm viện ở Thành-phố . Chữa bệnh cho mẹ? Tôi hỏi lại.

Tôi đọc lại lời khai của hai cô, anh nghe cho rõ: “Tôi là người thân của ông áp tải xe hàng. Ông ấy thông cảm hoàn cảnh của tôi cho đi nhờ xe, tôi giấu ít cà phê vườn nhà đem bán, để thăm mẹ đang trị bệnh nặng ở Thành phố…”. Đáng lẽ hành vi lấy bọc vải bó cà-phê vào người thì tôi tịch thu tang vật và xử lý nhưng hai cô gái khóc xin tha, tôi cần anh xác nhận. Đó, người ta khai là thân- nhân của anh.

Tôi tần ngần nhớ đến hình ảnh hai người đàn bà, nón len đen lụp xụp, đón xe ở Lộc Châu, hình ảnh nặng nề, xơ xác, tiều tụy với đôi mắt van xin, sợ hãi, hình ảnh này tôi đã thấy đầy rẫy khắp nơi, tôi đã thấy nườm nượp qua gần mười năm thống-nhất đất nước. Còn nhớ trong khu đất trại cải tạo, ba lớp kẻm gai vây quanh, người ta dựng kín những vỉ sắt cao bóc gỡ từ phi-trường dã-chiến đem về. Nắng hừng hực cháy bỏng trong cái lồng sắt to lớn nhốt hàng ngàn tù binh bại trận đó, hàng ngàn sĩ quan ngóng nhìn qua hàng vĩ sắt bít kín bưng mong chờ ân-huệ học tập tốt trở về như lời hứa. Họ bó gối ngồi đó chờ ân huệ bên chiến-thắng. Nắng vẫn hừng hực nung đốt, trên tháp bốt gác cao bốn góc lườm lườm anh bộ đội nón cối và AK . Để thấy được người yêu khi nghe tiếng kêu réo ngoài hàng rào vĩ sắt dựng đứng, người sĩ- quan tù cải-tạo phải giả vờ đi cầu, leo lên vỉ sắt nhà xí cao một mét rưỡi trên mặt đất làm sát cạnh hàng rào vĩ sắt, vừa tuột quần, vừa lom khom nhướng nhìn ra ngoài tìm người thân , hét to tướng: “Em ơi về nuôi con đi, anh nhớ em!”. Bên ngoài, các bà các cô áo quần lụp đụp, nón lá sờn cũ (có vẻ phải làm như thế mới vui lòng người chiến thắng!), ngẩng đầu lên nhìn “chàng” áo vải bố rách , nhìn nhau qua tầng vỉ sắt. Những ánh mắt ấy, những màu áo quần ấy, những dáng đi với nỗi sợ hãi khốn cùng ô nhục ! … Tôi đã thấy khắp nơi.!

- Hai cô ấy tôi không quen biết cán bộ à! Tôi khẳng định.

Ông tài xế nhanh nhẩu kéo tay tôi: K

hông biết thì ký biên bản, để hai bà ấy với tang vật lại cho cán bộ xử lý anh áp- tải à. Đi kẻo trễ, sáng sớm mai giao hàng rồi xe còn quay về. Anh ký và xác nhận vào bản khai này của hai cô gái, anh cán bộ chìa tờ giấy vở. Chữ viết của cô gái tròn và rõ đều đều như một bầy gà con mơn mởn xếp hàng líu ríu sau lưng mẹ. nhìn vào tờ khai viết rõ, cân và sạch đẹp như một bài luận của cô nữ- sinh chăm lo bài viết trên trang giấy học trò, như cẩn thận từng đường kim mũi chỉ trên khung vãi thêu màu trắng tinh nguyên. Thương qúa, khi nhìn trang giấy nhỏ ; chỉ là một bản tự khai «  mua bán gian lận » mà sao ùa đến trong tôi, như lâu lắm rồi, được đọc lại bài luận, của các cô nữ sinh mình dạy ngày nào. Tôi ghi vào góc dưới chứ không đuợc ở lề trên như ngày nào người thầy phê bài luận, mà nay là một “tiểu cán’’ từ khước cứu giúp một thân phận thấp bé : « Tôi không hề quen biết hai người này, họ là khách quá- giang của tài- xế xe số …Bởi vậy, tôi không thể bảo lãnh được. » Tôi ký xong và quày quả bước ra. Anh cán- bộ nhận lại biên bản với lời xác nhận của tôi, gọi với theo : Khoan đã, mười mấy cân cà phê không phải là số lượng lớn, nhưng nếu đúng anh không bảo lãnh đuợc cho người ta thì tôi nghĩ anh nên theo tôi xuống gặp họ. Được không vây ? Tôi đọc trong ánh mắt người cán bộ lớn tuổi này có chút áy náy và lòng thuơng hại về việc tội- phạm bán ít cà- phê thăm mẹ đang đau nằm viện . Tôi vừa dợm quay mình đi theo ông cán bộ,thì ông tài xế đã ghì sát tay tôi xuống thì thầm như van : Đi nhanh cho xe qua trạm cho xong đi anh ơi! mình cũng có ‘’chút chút ‘’ mấy... tiếng anh ta như tiếng rít lên với cặp mắt lo âu nhìn đám kiếm soát trẻ đang đùa giỡn trước đầu xe anh đang tấp bên cạnh sân trạm kiểm- soát. Anh cố chờ tôi một chút! Tôi vội vã nói . Tôi quay lại dãy nhà tôn vách ván phía sau sân bóng chuyền. Trong phòng thẩm tra, chiếc ghề gỗ dài sát vách, hai cô gái giờ đây xụ xuống, áo quần thùng thình rủ quanh thân thể ốm o.Họ cúi đầu dưới hai chiếc mũ vải trên mái tóc trễ xuống, che khuất khuôn mặt chỉ có hai vai ốm gầy giật nhẹ theo tiếng nấc. Cô cán bộ ngồi đầu bàn, chỉ tôi tang vật là mấy bịch vải cắt vụng về may sơ sài từng bịch nhỏ dẹp dẹp chứa cà phê hạt. Hai cô gái trút bỏ các bao cà phê bó sát thân thể,cặp áo quần thâm quá cỡ giờ đây chùng xuống thùng- thình như cặp đồ rủ nước móc trên giá áo là đôi vai gầy gò nhô lên trong mớ tóc rối bời bời xỏa xuống .Trong góc mờ mờ của phòng kiểm sóat,hai cô vẫn cúi xuống, hai bàn tay xoắn vào nhau, áo quần xô lệch như thừa thải làm người mặc thẹn thùng, xấu hổ như lộ bày chút thầm kín giữa đám đông …Mấy người khách hàng khác, đang chờ đến phiên thẩm vấn, cùng mấy anh cán bô trẻ tập-sự, thập thò truớc khung cửa sổ nhìn vào chỉ chỏ, lầm rầm bình phẩm, cười khúc khích. Hai cô gái khóc thút thít, thỉnh thoảng giật nấc như cố đè nén mà vẫn sơ sẩy bật ra sự khốn khổ khôn cùng. Đầu cúi sát xuống đầu gối, như rủ ra giữa hai lọn vải nhàu màu sẫm bó lấy đôi vai gầy! Trong bóng lờ nhờ đó, tôi thấy rõ hai nón len đen như màu tóc xệ xệ chụp lên che khuất khuôn mặt,hai đôi vai giật nhẹ theo từng cơn nấc nghẹn . Cô cán-bộ trạm kiểm-soát nguớc mắt nhìn tôi sau một hồi lâu cắm cúi vào mấy tờ giấy chi chít chữ . - Anh là áp-tải hàng mỹ nghệ xe số …? Anh đã ký xác nhận không quen biết mấy cô này? Anh có biết hòan cảnh của các cô này, theo lời các cô khai, là chị em cô cất dấu ít cà phê nhà trồng đem đi bán để thăm mẹ bị đau đang nằm viện ? - Tôi hòan tòan không quen biết các cô và cũng không biết đuợc hòan cảnh khó khăn của các cô ấy. Ánh nắng xiên khoai hắt một vệt nhàn nhạt vàng chạy dài trên tờ giấy học trò với từng hàng chữ tròn trịa của hai cô gái, ánh nắng như chảy xuống và tan nhòa trên hàng chữ tôi viết ở cuối trang, nét chữ góc cạnh như hàng đinh đóng, cắt đứt mọi hy vọng : “Tôi không hề quen biết hai người này!”. Tôi quay lại nhìn hai cô gái vẫn đang rấm rức khóc, xấu hổ lẫn khổ đau bó trọn hai tấm thân xơ xác gầy, vai rung lên theo từng cơn nấc .Ngoài kia tiếng còi xe của tài-xế Ba giục giã, tiếng máy xe rú lên,từ từ lăn bánh, nơi đây nghe rõ tiếng lạo xạo của sỏi đá dưới bánh xe. Tiếng cậu Bảy phụ xe vừa chạy ùa vào, vừa la bai bải :

- Anh áp-tải ơi, lẹ lên, xe đã qua trạm …

- Thôi, xong rồi, anh đi đi …Cô cán bộ ngước lên nhìn tôi ngờ vực, nói.

Tôi vừa quay đầu dợm buớc ra khỏi phòng, thì cô chị ngước mặt lên, khuôn mặt trong bóng nhờ nhờ ngược sang. Tôi không thấy rõ, chỉ thấy hai trũng đen đôi mắt nhập nhòe nuớc,nấc lên, âm thanh khàn đục, tắt nghẹn : Thầy ơi! Thầy ơi! Em đây mà thầy …Em là T h...ư. ơ.ng đây mà thầy …

Tiếng em nấc nghẹn ngào, nuớc mắt nuốt chửng những âm thanh. Tôi không nghe rõ tên em là Thương, hay Hương, hay Sương …( chỉ nghe đuợc vần ương).Tôi đứng khựng lại, lòng đang rối bời lóng cóng chưa biết quyết định ra sao thì cậu phụ-xe chạy ùa vào kéo tay tôi chạy ra xe.Tôi lúp xúp chạy theo, trong đầu vẫn còn oang oang mấy từ :”Thầy ơi! Thầy ơi …em là..ương …ương đây mà thầy …” Xe từ từ lăn bánh qua trạm đèo Bảo-Lộc, chầm chậm bò xuống dốc trong nắng chiều, từng hàng lau trắng nhấp nhô trên nền xanh núi biếc như những cánh cò trắng tan tác bay. Tài xế Ba và tên phụ- xe cười hể hả thoát nạn, họ đang bi bô mô tả món thịt kho tàu kho với củ cải trắng ngọt lịm kẹp với giá hẹ ngâm chua .Tôi cứ như nghe văng vẳng tiếng kêu thảng thốt, thảm thuơng, chờ mong tôi cứu giúp. Tiếng kêu càng thống thiết tuyệt vọng bao nhiêu tôi càng ray rức thấy mình hèn mọn bấy nhiêu . Cảnh ngộ thật trớ trêu cho hai thầy trò, tôi tự hỏi lòng mình, nếu tôi biết em sớm hơn, liệu tôi có dám bảo lãnh em ? Nếu tài xế Ba không năn nỉ vì vài giỏ rau củ trong xe, liệu tôi có bỏ mặc em cho tình cảnh đẩy đưa? Gần mười năm rồi, tôi đã làm gì giúp cho các em học trò của tôi? Con gà mái mẹ đã làm gì với bầy gà con trong cảnh ngộ bầy quạ đen đâm bổ xuống bầy gà con khiếp đảm tan tác ? Là người dạy dỗ, người dìu dắt đám trẻ trong cơn bấn lọan của một thời, tôi và các bạn đồng nghiệp của mình đã giúp gì đuợc cho các em ? –Chúng tôi cũng lủi nhủi theo đám đông chạy tán lọan, gà mẹ lắm lúc chạy nhanh hơn đám gà con, ô nhục hơn nữa trong chúng tôi lại có những con gà mẹ vội nhuộm lông đen, quan quác kêu cho giống giọng đàn quạ đen! Chúng kêu quan quác, gào lên xưng danh mình vốn là giống quạ nhà nòi, nếu lâu nay đã là gà mẹ lúp xúp dẩn con đi ăn chẳng qua là đuợc sắp xếp để đóng cho tròn vở kịch!. Nếu trời không mưa rửa sạch màu mực, thì mực đen vẫn ưu ái cho chúng là một con quạ mẫu mực,trong đám quạ! Tiếng kêu “Thầy ơi” thảng thốt, cùng cực tuyệt vọng, vang lên trong cảnh ngộ trớ trêu của hai thầy trò. Em là ai, Sương, hay Hương, hay Thương …em học lớp nào, năm nào, trường nào.. trong những trường tôi đã dạy…tôi chẳng thế nhớ ra . Khi đón xe dọc đuờng, em hóa trang thành bà bầu phì nộn cà-phê; khi cải trang trong trạm kiểm sóat em lại rủ xuống trong mớ vải thừa thải, luộm thuộm . Em cúi mặt trong góc lờ nhờ của phòng kiểm-tra . Em là ai trong đám học trò các truờng mà tôi đã dạy hơn mười năm truớc? Đâu có như ngày xưa ấy, còn đâu những đôi mắt trong veo các em huớng lên nghe thầy giảng bài ? Những đôi mắt ấy nay ở nơi đâu, vẫn nhập nhòa nuớc mắt cơ cực trong vạn nẻo gian truân ? Tôi nào biết làm gì đuợc cho các em khi tôi cũng như em quấn quanh mình biết bao “ bao bì” che dấu để “đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ” mà sống qua ngày trả nợ áo cơm!

Em ơi, cả em và thầy làm đuợc gì đây em ? - Ha!Ha!Ha! Ha!Ha!Ha! Cậu phụ-xe cười phá lên cắt đứt giòng suy nghĩ của tôi, cậu nhại lại giọng anh cán-bộ quản-lý thị truờng trẻ tuổi :“Tao phập cây kim cúc vào mông bà ta mà bả …, Ha!Ha!Ha!” còn quay lại nhìn tao cười duyên nữa chứ! Ha!Ha!Ha!” - Cậu im đi! .Tôi nói như hét lên trong tiếng xe gầm rú… Anh tài-xế, từ tốn : -Thằng Cu, mày đừng cười đùa như vậy! Dù sao các cô ấy cũng quá cơ cực, khốn cùng … Tụi mình đâu có đẹp mặt, đẹp mày gì cho cam, tụi mình cũng luồn lách chở chút ít rau củ, kiếm chút cơm cháo cho gia đình mà. Từng đợt sương chiều ùa từ các khe núi, sà thấp xuống mặt đường. Tôi bâng khuâng thầm nhủ : “Các em hoc trò của tôi ơi, các bao bì cà phê các em dùng để bao che thân thể mảnh mai mình như mặt nạ để vuợt qua khúc ngặt nghèo của cuộc sống. Những ngày tháng này, đám cùng dân chiến bại,có ai mà không có một mặt nạ mỏng hay dày để vuợt qua truông ô nhục. Có ai mà chẳng bị một mũi kim gút cắm phập vào thể xác hay tâm hồn mà vẫn thản nhiên nhõen miệng cừoi giả lả .Mỗi ngày, mỗi tháng năm bao nhiêu người chịu bao mũi kim cắm phập vào da thịt và tâm hồn mình đã được lớp bao bì thỏa hiệp dầy cộm che chắn!! Tôi nào có hơn gì các em, cũng ngày tháng lầm lũi bó chặt bao nhiêu mặt nạ để mong yên thân. Mỗi ngày vẫn nghe tiếng văng vẳng cười Ha!ha!Ha! đâu đó về những mũi kim phê phán cắm phập, xé nát sĩ khí của đám trí thức chiến bại đang cố câm nín để được sống an thân. Đúng em ạ, lũ chúng tôi những người có học và đuợc đào tạo trước đây, bây giờ hằng ngày vẫn miệng mỉm cười không thấy đau xót gì trước mọi sự ác độc, mưu chước dối trá, lừa bịp. Chúng tôi xem đó như là sự thật hiển nhiên của xã hội mà ta đang sống, không có một phản ứng nào. Nay việc cam chịu ấy đã biến thành tính cách hèn kém, yếu đuối của mình . Thói quen sống chung với môi trường giả trá nay đã thành nhân-cách sống của bản thân mình lúc nào không hay, rồi lúc nào đó chẳng ai còn nhớ mình đã được giáo dục ra sao, thời trẻ tuổi mình đã mơ uớc gì, và đã đem ước mơ đó dạy cho đám môn đồ ngày ấy tin và yêu điều gì ? Ta đã quên hết rồi sao? Ta vẫn thuờng ngày bơi lội trong giòng chảy giả dối và lường gạt với những cú kim gút phập vào người mà vẫn hể hả nói nói cười cười!- Ờ nhỉ, ta vẫn bình an sống, ta nào có mất gì đâu ? Chiếc xe lừ lừ cài số nhỏ rì rầm xổ dốc, nắng vàng trở màu tím tái một dòng đục quánh từ thung lũng sâu sẫm dần …Tôi như cứ mãi thấy đôi mắt nhòe nhọet nuớc mắt tuyệt vọng cầu xin của em .Tôi cứ như nghe vang vang tiếng kêu nghẹn ngào của em trong tiếng nấc : -Thầy ơi! Em đây mà thầy … Em ơi, còn bao năm nữa tôi mới quên được tiếng kêu thảng thốt này? Biết còn bao nhiêu năm nữa em ơi!!

để tặng các em học trò Văn-Học nhân dịp ngày Hội Ngộ Cali tháng 07 mà Thầy không tham dự đuợc.


Về đầu trang


Powered by SmugMug Log In