Văn - Thầy Phạm Văn An - VAN-HOC DALAT

Anh Là Ai? Ai Là Anh?

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY (1)
Bài I : ANH LÀ AI ? AI LÀ ANH ?

Có những người, bình thường rất hiền lành. Khi rượu vào thì lời ra. Có lúc rượu vào thì ít, mà lời ra thì nhiều, lúc đó rượu nói chứ không phải người nói.

Con người, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, cho những khuôn mặt khác nhau; thậm chí , nếu bị hoàn cảnh chi phối nhiều quá, anh biến đổi hẳn, không còn là anh của “ngày ấy” nữa. Anh là ai ? hình bóng hôm qua là anh, hay hình bóng bây giờ là anh? Hỏi anh chưa chắc anh đã trả lời chính xác được ! Mấy lần lên Dalat, tôi nhận thấy những khuôn mặt thân quen, có người vẫn còn giống như xưa, có người thay đổi hoàn toàn, có người đang thay đổi ! Sự thay đổi ở đây không phải sự thay đổi bề ngoài, nhưng là sự thay đổi nội tâm. Khó thấy đúng cái “bản lai diện mục” (2)

Cái anh chàng Đồng đen (hay Đồng nát) (3) vẫn giữ được cái miệng léo xéo thuở nào. Hỏi thầm vài người, câu trả lời là “nó vẫn thế” này anh ! đừng để “cái miệng” làm hại “cái thân” nhé . Còn anh chàng Vô Phước (4), lúc đầu không nhận ra. Khi anh nhắc lại việc anh hay hút thuốc bị tôi bắt gặp, anh nhắc lại lần tôi xin anh một hơi “Capstan”, tôi chợt nhớ ra cái anh chàng hơi bị thiếu chiều cao này.

Hôm anh mời tôi xuống Suối Vàng (5) nơi anh đang công tác, lúc tới tôi thấy một bóng người lững thững bước ra, tới gần thì ra anh. “Sao lại chống gậy?”. Tôi hỏi ; anh chỉ thầy Nguyên đi sau, rồi nói “em bắt chước thầy Nguyên”.

Sẽ có ngày em có hình ảnh đó, đừng vội bắt chước !, nhìn anh tôi thấy giống Lã đồng Tân (6) pho tượng ở ngay trên trường Văn Học. Vào bữa ăn anh lại mang dáng vẻ điềm đạm, có nét hơi quê mùa. Tôi đề nghị anh ngân (không phải ngâm) lại vần thơ hôm trước ở Cáp Treo Dalat, anh lưỡng lự. Anh em bảo anh có bài hát về Huế hay lắm; tôi thuận tình đề nghị. Anh định thần một lúc, rồi ngân lên một điệu Huế tuyệt vời ! tuyệt nhất là vẻ mặt “thả hồn theo gió” của anh.

Lúc về anh đi bên tôi : đôi điều tâm sự, lời chúc chân tình, vẻ mặt đăm chiêu. Đây chính là anh ?

Anh chàng khó nắm bắt được là ông Ngân hàng. Trong thời gian anh làm ông lớn ở ngân hàng, tôi thường lên Dalat mà không muốn ghé anh, vì tâm lý người ta khi đó thường sợ mấy “ông lớn mới”. Tuy vậy, tôi vẫn bị anh bắt được nhiều lần, mà lần nào cũng không tha cho tôi : Khi thì cà phê, khi thì ăn uống. Trên trang Văn Học, tôi nghe anh hát hoài; lần theo các bài hát, tôi le lói thấy được con người anh (tôi đã ghi lại trong bài “Hát và nghe hát”). Hôm thăm vườn nhà anh, thấy lầu bát giác, chút le lói nữa, rồi hôm nào vào bàn, tôi cũng thấy anh giới thiệu rượu Ba kích của anh, Kích gì mà lắm thế ( 3 lần hay 3 cách), Rồi hôm ở Suối vàng, anh cho mọi người thưởng thức bài thơ trường giang về tuổi già đầy triết lý sống, lại một chút le lói nữa, nhưng chưa sáng hẳn. Hãy chờ. Hôm cuối, anh “Biết võ” (7) làm chủ xị. Cho đến nay tôi vẫn cho anh này là một trang “Bạch diện thư sinh” chính hiệu : ít nói, hay mỉm cười . Ở trong lớp đã có lần, tôi có ý định để anh sang bên con gái ngồi; vì xóm nhà lá của anh, nhiều quỉ ma lắm. Hỏi anh em về hiện tại của anh, bạn bè cho biết :”tên này khá lắm, một đại gia đó”.

Té ra tôi nhận sai người. Cụ thân sinh đặt tên anh hơi lệch vì ở trường đời phải biết võ, đủ mọi loại võ : võ mồm, võ cân não, đôi khi còn cần đến võ chân tay nữa, mới bảo đảm thành công. Các gương mặt khác tôi không đề cập đến vì không thấy thay đổi (tôi nhận lầm chăng ?)

Vậy Anh là ai ?

Ai là anh ?

Tôi đành chịu, hẹn sang năm ta tìm hiểu nhau tiếp.


Về đầu trang

Tháng 3/2015


(1) Bài “Phỗng” là bài khai bút đầu năm Ất Mùi của tôi. Sau đó tôi được nhiều câu hỏi và thấy nhiều vấn đề cần trả lời, bèn xin được lập mục “Phỗng nghĩ, Phỗng suy” để ghi lại những ý nghĩ vụn vặt; nên chưa đáng được gọi là “văn”, Phỗng là một nhân vật “tếu táo” nên ở đây chỉ là ý nghĩ tếu táo, xin mọi người xem xong bỏ xó.
(2) Bản lai diệt mục : Chữ nhà Phật; cái con người (bơ mặt) thật của mỗi người.
(3) Là Trần văn Đồng ( ngăm đen nên gọi là Đồng đen, lại thấy xã hội có nghề đồng nát (ve chai) nên gọi thế cũng hay.
(4) Tên là Đặng mậu Phước. Anh em hiểu chữ mậu theo nghĩa tiếng Trung Hoa là không : mậu dẩu xìn = không có tiền, rồi lại dịch nghĩa Hán là vô, nhưng vô còn có nghĩa là nhiều : vô cùng, vô tận,v.v…
(5) Lên suối vàng mới đúng vì 20km đường đều dốc lên, nhưng tôi thấy dân gian nói xuống Suối vàng, nên nghe theo số đông.
(6) Lã đồng Tân là một trong bát tiên của Lão giáo.
(7) Chỉ Nguyễn viết Vũ, theo tôi thì nên là Nguyễn biết Võ cho hợp với cuộc sống hiện tại của anh.


Về đầu trang


Anh Là Ai?

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY : ANH LÀ AI?

Nếu có người hỏi câu này, anh trả lời sao ? – Rất có thể, anh không trả lời, vì người kia đã không biết gì về anh, nên mới đặt câu hỏi “ngớ ngẩn” như vậy, trả lời làm gì ! Nếu nói tôi là “ông nọ, bà kia” chắc gì người ấy đã tin ! Họ đã chẳng biết mình là ai, thì mất thì giờ làm gì! Lờ luôn, đỡ rách việc.

Có thể anh sẽ trả lời, vì anh đang muốn người khác biết về anh. Vậy anh tha hồ “vẽ voi, vẽ hổ” để lừa người kia, có thể, hắn sẽ há hốc miệng ra, nuốt trọn vẹn lời anh, rồi cúi phục sát đất.

- Còn tôi, nếu được hỏi, câu trả lời sẽ là : “tôi là tôi” một người đang đừng trước mặt anh. Được chưa ? mù ư mà “ngớ ngẩn” hỏi với thắc mắc !

- Định thần, tôi lại thắc mắc về tôi. Hồi sáng trước khi đi làm, em yêu mắng mỏ te tua vì cái tội bày bừa, tôi chỉ cười duyên và “chụt” một cái rồi lên xe. Tới cơ quan, gặp anh bạn ở cửa, anh mỉm cười : “thảo nào, sếp tới trễ, nên nhân viên làm loạn”.

Vào phòng : một sự im lặng tuyệt đối. Tôi chỉ “e hèm” một cái, là mọi con mắt cụp xuống rồi “dạ, vâng” rất dễ thương.

- Tuần trước, được nghỉ dài ngày, tôi về quê, la cà tới thăm bà cô, ông bác. Bà thím già mang đĩa khoai ra mời với câu nói lạ : “Hồi nhỏ, anh thích món này lắm !, hễ sang nhà là là lục lọi tìm”. “Nói lạ, nhìn mà phát sợ : ba củ khoai dây, chó cũng không thèm ăn, mà lại nói…”.

Sang thăm ông giáo cũ, giới thiệu mãi mà thầy chẳng nhớ ra. Bỗng Ông “à” một tiếng “nhớ rồi”,”anh là cái thằng chúa lười, luôn luôn quì sơ mít”. Tôi nghĩ nay người ta gọi là “tiến sĩ giám đốc” – dù là Tiến sĩ tại chức, nhưng vẫn là bậc cao nhất hàng trí thức, chẳng lẽ xưa kia, mình….

Lật mớ hồi ức, tôi lại thấy xung quanh tôi, nhiều biến đổi không ngờ mà tôi chẳng để ý. Ngay vợ tôi, xưa, cô chẳng đẹp gì, chỉ vì mê cái nết chịu khó, mà tôi lấy, thế mà nay, sáng, cô hỏi tôi : “em có đẹp không”, trưa , chưa và được miếng cơm, cô đã hỏi “xem em có đẹp không” chiều, tôi, thậm chí cả đêm khuya, điệp khúc ấy cứ lập lại. Người trí thức như tôi, chẳng lẽ nói “em xấu”, nên tôi cứ lịch sự khen “em đẹp”. Khen là cô vui vẻ, vớ gương soi cả giờ rồi từ tốn, nhỏ nhẹ than: “í, mà cái mũi em tẹt quá” khi thì “da mặt em nổi mụn”. Một hôm cô tỉ tê chàn rồi phán như Bao Công : “Con thư ký riêng của anh xinh ghê ! Anh mà “léng phéng thì biết tay em…”

Tôi chẳng để ý, vì vẫn tin là vợ mình “hiền thục” nhất đời !

Một hôm, cô ta (à quên vợ tôi) bắt gặp tôi đi cùng xe với cô thư ký. Về nhà, mới bước vào cửa thì ôi thôi, đạn, pháo, tên lửa từ đâu lạc tới, tránh không kịp. Tôi đâm hoang mang, thầm nghĩ : “chẳng lẽ vợ mình lại thế ! hiền thục cơ mà !”

Tôi bừng tỉnh với một khám phá : trong cuộc sống, ta đeo quá nhiều mặt nạ. Mặt nạ nào cũng in khít khuôn mặt mình và tùy từng mặt nạ, ta diễn những tấn tuồng khác nhau, mà tấn tuồng nào cũng thành công. Kẻ nào dám lột mặt nạ của tôi? Tôi sẽ lột mặt nạ của hắn để trả thù. À mà thôi, như vậy còn ai diễn tuồng nữa. Kẻ xem tuồng sẽ buồn.

Đời phải chăng là một tấn tuồng, một tấn tuồng liên hồi, chỉ kết thúc khi tiếng kèn đám ma thay tiếng kèn tuồng. Có lẽ, khi đó người chết sẽ lạ tai lắm, nhưng nhúc nhích được chi mà đòi dậy nghe tiếng kèn tuồng.

Tháng 3/2017


Về đầu trang


Bệnh Mù Trắng

Thầy Phạm Văn An


Trong tác phẩm “ Mù Lòa “ của Jose’ Saramago – tác phẩm đoạt giải Nobel – Ông kể về một người đàn ông đang đi giữa phố, mắt tuy mở to, nhưng không nhìn thấy xung quanh. Từ người bệnh đầu tiên, bệnh truyền ra nhanh chóng thành dịch; người chưa mù chẳng may nhìn vào mắt người mù thì mù luôn. Xã hội hỗn loạn, mới đầu , người ta nhốt riêng họ vào một nhà thương điên, nhưng rồi bệnh lan nhanh quá, người mù đầy rẫy ngoài đường phố, chính quyền đành để mặc. Một xã hội thật sự hỗn loạn : cảnh tượng thật ghê rợn, mọi người tự tranh đấu sinh tồn, họ giằng xé nhau miếng ăn, khi chết, họ tự chôn cất nhau, xác chết bị lũ chó điên tha cùng khắp, một cảnh tượng khủng khiếp.

Ta thấy rõ là tác giả đã “phịa”, những câu chuyện “phịa” này

lại khiến ta suy ngẫm : Mù trắng nghĩa là “ có mắt như mù “ một căn bệnh – về nghĩa bóng – rất dễ lây lan. Trong xã hội – dù là xã hội giàu có như phương tây, ngoài phố vẫn thấy nhiều cảnh đau lòng, nhưng bình thản là cái nhìn chung của mọi người : cứ nhìn một người ăn xin ở ven đường : cái mũ (hay cái ống, bát…) để trước mặt có được bao nhiêu tiền, so với lượng người đi qua ? Nhiều sự làm ngơ tương tự rất dễ thấy. Con người chỉ còn thấy mình và đôi khi không nhìn thấy người thân đau khổ nữa, chứ nói gì đến kẻ xung quanh. Trong cuộc sống, người ta “ đạp lên nhau “ để sống là lẽ thường..

Tuy vậy, một cách khách quan, ta vẫn thấy lòng thương xót vẫn còn tồn tại đâu đấy và ngay trong cả chúng ta, lương tâm vẫn thường xuyên hối thúc khi có dịp; nhất là khi con người có thời gian suy ngẫm về cuộc đời.

Trong xã hội cổ La mã, câu chuyện Đại đế Alexandre là một gương sáng. Ông vua này đã cai trị đế quốc La Mã bằng bàn tay sắt. Vơ vét không ngừng, nhưng cuối đời, ông để lại một di chúc, mới xem thấy tức cười : Áo quan phải khoát 2 bên 2 lỗ để ông thò tay ra, của cải trải đầy trên đường tới mộ huyệt và các ngự y danh tiếng phải khiêng quan tài. Hai tay ông để ra cho thiên hạ thấy rằng: ông không đem gì xuống mồ, của cải là của thế gian, ông để lại cho mọi người chia nhau và ngự y có danh tiếng đến mấy cũng không chinh phục nỗi cái chết : Đấy là thông điệp của Alexandre Đại đế để lại cho đời, môt cái nhìn chân thật về cuộc đời : của cải là phù vân và cái chết đến, mọi thứ đều vô nghĩa.

Gần ta hơn, Bill Gate đã chỉ để lại cho con đủ để sống và làm việc, đa phần tài sản, ông dùng để thiết lập những cơ sở khoa học, nghiên cứu các bệnh thời đại để chữa trị nỗi đau của nhân loại. Ông cũng dùng để tài trợ cho các chương trình xã hội ở các nước nghèo, nhất là Phi Châu. Cái nhìn của Bill Gate về của cải có vẻ thoáng hơn, xa hơn và ý nghĩa hơn. Và chúng ta, chúng ta cũng chọn cho mình một hướng đi cho riêng ta trong cuộc đời này.

Nhiều người trong chúng ta cũng đang ngênh ngang giữa trần gian bằng sự mù lòa của đôi mắt sáng. Cũng chẳng buồn gì vì đó là thân phận con người ở cõi vô minh này.
Tháng 1/2015


Về đầu trang


Cái Tên

Thầy Phạm Văn An


Trong kinh Jataka 401 của Phật giáo có câu chuyện về “cái tên”. Có một thanh niên mang tên Papaka (kẻ độc ác) anh ta suy nghĩ : Tên ta là một điềm xấu, ta hãy xin đổi một tên khác. Anh ta liền đi đến gặp sư trưởng trình bày điều đó. Sư trưởng trả lời : “ con hãy đi khắp nước tìm một cái tên chỉ điềm lành mà con thích và đem tên đó về đây, ta sẽ đổi cho con” . Trên đường đi, anh ta thấy một đám tang, bèn hỏi :’ Người này tên là gì?’ được trả lời:’Tên là Jivaka (người hằng sống)” anh ta suy nghĩ : “người hằng sống mà cũng chết ư ?”, một người đưa tang trả lời ông :’ hình như ông là một tên khùng thì phải !”.

Trong kinh Jataka 401 của Phật giáo có câu chuyện về “cái tên”. Có một thanh niên mang tên Papaka (kẻ độc ác) anh ta suy nghĩ : Tên ta là một điềm xấu, ta hãy xin đổi một tên khác. Anh ta liền đi đến gặp sư trưởng trình bày điều đó. Sư trưởng trả lời : “ con hãy đi khắp nước tìm một cái tên chỉ điềm lành mà con thích và đem tên đó về đây, ta sẽ đổi cho con” . Trên đường đi, anh ta thấy một đám tang, bèn hỏi :’ Người này tên là gì?’ được trả lời :"Tên là Jivaka (người hằng sống)” anh ta suy nghĩ : “người hằng sống mà cũng chết ư ?”, một người đưa tang trả lời ông :’ hình như ông là một tên khùng thì phải !”.

Tên chỉ dùng để định danh một người. Gọi đúng tên người ta trả lời, gọi sai tên người ta thản nhiên.

Ở Việt Nam, tên gọi xem ra, còn chứa nhiều ý nghĩa, nhà nghèo chỉ coi tên là dùng để gọi một người, nên người ta đặt tên có khi tùy tiện, con trai thì có chữ “thằng” để phân biệt với con gái là chữ “con” hay “cái” để rõ hơn, người ta thêm chữ “cu” thành thằng cu, nhiều con trai quá thì thằng cu anh, thằng cu em…. Con gái thì có chữ “đĩ” hay “hĩm” thành “đĩ lớn”, “đĩ bé”,”hĩm chị”, “hĩm em”. Cao hơn một bậc, thì tên rõ nét hơn như thằng Biển, thằng Sóng, con Mẹt, con Nở v.v…

Ở mức trung lưu, tên có ý nghĩa hơn : Thằng Mạnh, con Loan.

Cấp thượng lưu thì dùng từ hán việt để đặt tên. Ý nghĩa ở đây có phần thâm thúy, cao sang hơn : Nguyễn văn Hạnh, Đinh thị thùy Dương. Tên không những đẹp mà còn hàm chứa một hoài bão của cha mẹ : Nguyễn văn quật Cường, Bùi thị đoan Trang chẳng hạn, mong muốn là một chuyện, mà thực tế có khi lại không chiều theo. Anh Quật Cường lại có tính nhút nhát và cô Đoan Trang lại hợm hĩnh, chịu chơi…

Cần nói thêm là con gái khi đi lấy chồng thì mất luôn tên, lấy tên chồng gọi chung. Có lẽ do Ông khổng đặt ra lệ tam tòng : tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Mượn tên chồng rồi chồng chết mượn tên người con trai đầu mà gọi. Bà Tuấn có chồng là Tuấn; nếu ông ấy đã chết, thì Tuấn là tên đứa con trai đầu của vợ chồng. Do đó có học sinh khi đi thi, xem hồ sơ, dứt khoát đã bị lầm tên cha, tên mẹ, lật giấy khai sinh ra, lần đầu tiên biết tên thật của bố, mẹ.

Một trường hợp nữa là một người có hai tên : tên gọi ở nhà thì xấu, tên khai sinh chỉ gọi ở trường hoặc nơi làm việc : Ông Bo là tên gọi ở nhà, đến cơ quan ông có tên là Việt (tên khai sinh). Ở Việt Nam, nay có khuynh hướng mới : Đặt theo tên nước ngoài: Nguyễn văn Paul, Nguyễn thị Sonia và người ta cũng theo cách nước ngoài để đặt tên lên trên, họ xuống sau, nên có Paul Nguyễn văn, và Sonia Nguyễn.

Một xu hướng thời thượng thì tên trở thành thứ yếu, học vị , chức tước mới là quan trọng, cho nên có khi mất cả tên, cả họ, mà chỉ còn : Ông Bộ trưởng bộ…, Bà Vụ trưởng vụ…, Ông giám đốc ngân hàng A, Bà giám đốc Sở B…

Trở lai uyên nguyên của vấn đề, tên chỉ là tên, là cái để định danh, phân biệt người này với người khác. Cái tên không làm nên công việc, không tạo ra công việc, không làm nên danh giá, đạo đức, tư cách cho con người.

Vì vậy, cuối câu chuyện trên, bản kinh có bài kệ sau :

Thấy Jivaka ( hằng sống ) chết
Dhanapali (giàu có) nghèo
Và thấy Panthaka (kẻ chỉ đường) đi lạc trong rừng
Cho nên Papaka (kẻ độc ác) trở về với chính mình.

Vì vậy, cuối câu chuyện trên, bản kinh có bài kệ sau :

Thấy Jivaka ( hằng sống ) chết
Dhanapali (giàu có) nghèo
Và thấy Panthaka (kẻ chỉ đường) đi lạc trong rừng
Cho nên Papaka (kẻ độc ác) trở về với chính mình.
Tháng 10/2015


Về đầu trang


Câu Chuyện Gà Vịt

Thầy Phạm Văn An

Đọc đề , ta liên tưởng tới câu thành ngữ Việt Nam : “ Ông nói gà, bà nói vịt” Nhưng “ông nói gà, bà nói vịt” ở đây có chiều sâu và ý vị hơn nhiều.

Chuyện cổ Ấn Độ có kể về 2 vợ chồng trẻ, họ đang dạo chơi quanh làng. Có tiếng “ quặp, quặp” vọng lại, người vợ nói : “anh kìa, con gà nó kêu”, người chồng chữa lại : “tiếng vịt đó” cô vợ cãi : “tiếng gà mà”, người chồng đính chính : “tiếng vịt đó”cô vợ cãi “tiếng gà mà” người chồng đính chính “tiếng vịt”. Cô vợ vẫn giữ lập trường : “rõ ràng là tiếng gà” người chồng tức quá, hét to : “đã bảo là tiếng vịt, gà trống kêu ò ó o lúc rạng sáng, gà mái kêu : cục ta, cục tác khi sắp đẻ, còn gọi con thì kêu cục, cục, cục”. Người vợ kiên quyết : “đích thị là tiếng gà, em biết mà”, Ông chồng tức quá, quát to : “đã giải thích thế mà còn cãi ! đồ ngu !”. Tức thì người vợ dẫy nẫy, la khóc bù lu. Ông chồng thấy thương vợ quá, tới gần dỗ dành rồi xuống giọng : “ừ tiếng gà, em nói đúng” niềm vui trở lại với họ. Hai vợ chồng lại tung tăng trên cánh đồng đầy hoa. Người chồng ngẫm nghĩ : vịt hay gà có xá chi ! miễn là vợ mình được vui là quí rồi !

Nhờ biết cách chiều chuộng vợ, hai vợ chồng sống trong êm đềm, hạnh phúc một thời gian dài.

Rồi một hôm, cô vợ nhỏ nhẹ bên tai chồng : “anh à, anh hàng xóm nói là anh ấy yêu em” người chồng hỏi lại “vậy em nghĩ sao ?” Cô vợ thản nhiên trả lời : “em cũng yêu anh ấy !...”

Ta kết thúc câu chuyện ở đây, nếu muốn biết tiếp, người đọc có thể thay anh chồng tìm câu trả lời.

Ta nên hiểu : truyện cổ thường đề cập đến những ước mơ, mà thực tế thường không có. Riêng chuyện tình yêu, va chạm giữa 2 người là điều khó tránh khỏi và cũng dễ hiểu vì 2 người là 2 thế giới khác biệt – cuộc tình sẽ bền vững khi họ bù đắp cho nhau, chứ không phải đòi hỏi nhau.

Phật giáo cho rằng : mọi tình cảm của con người đều là dục vọng. Kinh Pháp hoa kết luận : tất cả mọi dục – trong đó có ái dục – đều tạo ra đau khổ, “các dục vui ít, khổ nhiều, chỉ có vô ngã vị tha là mang đến hạnh phúc. Tình yêu, bản chất là ích kỷ, không chia sẻ (nên mới có ghen) nó tạo cho ta sự đau khổ thật, nhưng là trái đắng ngọt ngào, nếu ta biết trân trọng nó .

Khổng Tử - chắc là biết rõ sự khổ não của tình yêu nên đã đặt nó trong bổn phận để có được sự ngọt ngào, người làm bổn phận, thoát nhìn có vẻ như kẻ nô lệ tội nghiệp, nhưng chính sự phục vụ cho họ cảm nhận được sự cao quí của tình yêu.

Ki tô giáo cũng rất chú trọng đến tình yêu đôi lứa, nhưng nhắc nhủ họ phải có trách nhiệm với tình yêu bằng sự chia sẻ ngọt bùi và khổ đau. Luật pháp xã hội thì bảo vệ tình yêu một cách riêng lẻ : ai cũng có quyền bảo vệ cho riêng mình góc tình yêu mà mình đóng góp cho hôn nhân, nếu thấy cần bảo vệ thì họ có quyền đòi người hôn phối trả lại phần đóng góp bằng sự ly hôn. Tùy mỗi người, ta có quan niệm của riêng ta về tình yêu của ta vì chính ta biết nó, có được nó và hưởng thụ không chia sẻ cho ai.

Tháng 12/2015


Về đầu trang


Chế Độ Quân Chủ Đông Phương Xưa

Thầy Phạm Văn An

Nhiều người hỏi tôi về chế độ quân chủ xưa, họ coi đó là một chế độ độc tài, moi đầu óc được bao nhiêu xin trình bày để đáp lại thắc mác ấy.

Quả thực, có những nguyên tắc bất biến mà kẻ sĩ xưa luôn phải tôn trọng trong nhiệm vụ của một thần dân đối với đấng quân vương.

Nguyên tắc mà ai cũng biết đó là câu : trung thần bất sự nhị quân ( tôi trung không thờ 2 vua) đã phục vụ cho triều đại nào là phục vụ hết mình dù triều đại ấy có những ông vua hư hỏng, bất tài. Kẻ sĩ trở thành kẻ “ngu trung” trung thành một cách tuyệt đối, không xem xét triều đại đó có xứng đáng phục vụ hay không, vì họ coi “trung quân là ái quốc”. Sự lầm lẫn giữa đất nước (nhân dân) và kẻ nắm quyền thật tai hại. Cho nên một sự nổi dậy – dù sự nổi dậy đó vì dân, vì nước – đều được coi là kẻ phản nghịch, bất trung : như các cuộc nổi dậy của Phan bá Vành (Cao bá Quát), và Tạ (Nguyễn) văn Phụng dưới triều Tự Đức, dù thực chất là các cuộc nổi dậy của nông dân đòi quyền sống, cũng không được chấp nhận.

Ở phương diện khác, thì Nguyễn công Trứ là một vị tướng có công, nhưng nhìn lại ông lại là một “ngu trung” khi dẹp các phong trào yêu nước. Ông cũng như nhiều nho sĩ khác – đã không phân biệt được vua và nước. Ông đã nói rõ :

Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,

Không công danh thà nát với cỏ cây.

Cho nên có những người có thực tài như Mạc đăng Dung, Hồ quý Ly đều không thể tồn tại lâu dài, vì thiếu “chính nghĩa” tôi trung và cho đến bây giờ, người ta vẫn ngần ngại coi ông là các vị anh hùng.

“Ngu trung” đến nỗi khi nhà Lê đã thực sự cáo chung, mà các cựu thần nhà Lê vẫn đem lòng luyến tiếc chế độ cũ và có mặc cảm khi phục vụ chế độ mới – Triều Nguyễn : Nguyễn Du – qua Từ Hải – đã bộc lộ tâm sự :

Bỏ thân về với triều đình,

Hàng thần lơ láo, phận mình ra sao !

Và Bà Huyện thanh quan, nhẹ nhàng hơn , khi nhìn phế tích của triều xưa :

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ, lâu đài bóng tịch dương.

Cái “ngu” này đã trực tiếp bảo vệ và củng cố các triều đại phong kiến khiến cho ông vua càng thêm độc tài.

Nguyên tắc “trung quân” dù sao cũng chỉ là một sự dặn dò, một lời nhắn nhủ, nhưng câu sau đây lại là một cái “lệnh” bắt buộc của chế độ độc tài : Quân xử thần tử; thần bất tử bất trung (vua bảo chết phải chết, nếu không chết là kẻ bất trung). Không những vua bắt chết, mà còn chết thay vua, chết theo vua. Đó là một chế độ quân chủ bị lật đổ, kẻ trung thần tự tử, ít ra là về nhà, không công tác với vị vua mới.

Các nhà nghiên cứu đã lật tung sách vở của nho giáo là Tứ thư, ngũ kinh, để xem những giáo điều trên có ở đâu, và họ chẳng tìm thấy vết tích của nó, dù là lời bóng gió gián tiếp, cho nên người ta nghĩ rằng : một ông vua nào đó, một nô dịch nào đó đã bịa ra các câu nói đó để củng cố chế độ, rồi cứ thế mà các thế hệ sau học theo mà không cần tìm nguồn gốc. Điều này đã từng xảy ra khi người ta bịa ra kinh Coran (Hồi giáo) đã nói thế này, thế kia rồi tín đồ cứ nghe theo mà không cần kiểm chứng.

Ngược lại, khi xem tứ thư, ngũ kinh có rất nhiều câu trong sách Mạnh Tử nói rõ về vị trí của ông vua trong cách cai trị, chẳng hạn câu nói trong sách Mạnh Tử, nhưng vua phải tôn trọng dân vì “ý dân là ý trời” và nhất là câu nói danh tiếng của Mạnh Tử “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quí, sau đến đất nước, còn vua thì ở hạng thường –xem nhẹ). Đáp lại câu hỏi của Tề cảnh Công, Khổng Tử đáp : “Vua phải xứng đáng là vua, quan phải xứng đáng là quan” (quân quân, thần thần. Luận ngữ), và theo kinh thư, dân có quyền “cách mệnh” (tước bỏ cái sứ mệnh của vua). Trong thực tế của tổ chức chính quyền các triều đại, luôn có một cơ quan để can ngăn vua gọi là ngự sử đài với chánh phố ngự sử. Tuy vậy, các câu nói trên trong kinh sách nho giáo và ngay cả tổ chức ngự sử đài cũng không được các vua tôn trọng vì không phải là những qui chế bắt buộc, không có biện pháp chế tài cụ thể. Trong sử đã cho thấy có nhiều sự can gián vua đều không được nghe theo và kết cuộc là các quan ngự sử chỉ còn cách “về vườn” như Chu văn An, Nguyễn bỉnh Khiêm, Phan đình Phùng.

Họa hoằn có những vị vua có đức độ và tài ba, thì lời khuyên của Khổng mạnh có cơ hội áp dụng và nghe theo. Khi đó, đất nước phồn vinh, quốc gia thịnh trị, đó là triều Lý, triều Lê thánh Tôn.

Lịch sử cũng cho thấy, với thời gian, sự tiến bộ của xã hội, thì dân Việt đã thoát khỏi cái “ngu” của kẻ sĩ. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (nước mất hay còn thì kẻ thường dân phải có trách nhiệm) điều này thấy rõ khi 3 tỉnh miền đông bị mất vào tay người Pháp, dân Nam bộ đã truyền tụng câu vè kết án :

Phan, Lâm mãi quốc

Triều đình khi dân.

( Phan thanh Giản và Lâm duy Thiệp bán nước vì đã ký hòa ước 1884) triều đình kinh thường dân (vì không hỏi ý kiến của dân). Sau đó liên tiếp các cuộc nổi dậy chống Pháp, điển hình là cuộc nổi dậy của Nguyễn trung Trực. Ông không chịu nghe lệnh của triều đình, mà vẫn tiếp tục chống Pháp, trở thành một cuộc kháng chiến khắp lục tỉnh. Tước hiệu “bình tây đại tướng quân” là do dân suy tôn ông, chứ không phải do triều đình phong tặng.

Trở lại vấn đề, nay có nơi, có người muốn áp dụng chế độ quân chủ xưa. Thực, hư chưa rõ, nhưng nghĩ rằng : không thể đi ngược dòng lịch sử. Chế độ phong kiến Đông phương đã tồn tại quá lâu – gần 4.000 năm, đã là một kỳ tích, nhưng với sự tiến bộ của loài người, cái gì cũng phải thay đổi cho hợp với thời thế. – Nói đến “ông vua” thì nay chỉ còn các nước có truyền thống trọng cổ, còn áp dụng, nhưng vua chỉ tượng trưng cho quốc gia. Không còn một ông vua độc tài nào tồn tại. – Ngay cả chế độ tự do dân chủ hay chế độ tư bản còn được áp dụng, nhưng đây không phải là chế độ tư bản nguyên thủy TK 16. Khi chế độ Cộng sản ra đời, thì tư bản đã thấy cái khiếm khuyết của mình và nhanh chóng sửa đổi (không còn bóc lột, tôn trọng quyền người dân và phúc lợi xã hội được đề cao ). - TK 21, chế độ tư bản tưởng đã lột xác một lần nữa, bằng các hiệp định song phương, đa phương , người ta đã nghĩ tới một “thế giới phẳng” để loài người cùng tiến bộ. Sự kiện Trump và Brexit muốn trở lại điều “chỉ biết mình” còn “Mackeno” (1) ai ra sao cũng kệ. Không hiểu có thành công không.Chờ xem.

(1)Ích kỷ, mặc kệ nó.

Tháng 12/2017


Về đầu trang


Chúa Giê Su Và Giai Cấp Vô Sản

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY CHÚA GIÊ SU VÀ GIAI CẤP VÔ SẢN

Thế kỷ 18, khi Karl Max ra cuốn sách Tư bản luận (Le capital) mới có từ “vô sản” và khi Lenine thiết lập chế độ mới ở Nga thì từ “vô sản” có chỗ đứng vững vàng trong triết học và chính trị học. Từ đó những khẩu hiệu như : vô sản chuyên chính, đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư bản, vô sản thế giới đoàn kết lại, vô sản thế giới vùng lên..v.v…

Nhưng vô sản là gì ? Theo bạch tự (nguyên nghĩa) thì vô sản là không có tài sản riêng. Con người ai mà chẳng có tài sản riêng, tối thiểu có cái quần lót – trừ Chử đồng Tử, 2 bố con chỉ có chung một cái khố, nhưng đó là truyện cổ tích. Trong thực tế người ta hiểu vô sản là người có tài sản nhưng không đáng kể, nói nôm na là hạng người nghèo, nghèo “ rớt mồng tơi” như tục ngữ Việt Nam thường nói.

Có thể nói Chúa Giê Su là người vô sản chân chính, Chúa sinh ra bên máng cỏ, trong hang đá. Cả đời đi truyền đạo, không có chỗ ở nhất định, đâu cũng là nhà, chỗ nào cũng là giường, như Chúa đã từng nói : “chồn có hang, chim trời có tổ và con người không có chỗ ngả đầu”, và cho đến cuối đời, trên thập giá Chúa cũng chẳng có gì ! Có phải vì thế mà Chúa thương yêu người nghèo khổ ? ghét kẻ giàu sang ?

Trong bài giảng trên núi, điều trước tiên Chúa đề cập là người nghèo : “ Phúc thay kẻ có tâm hồn nghèo khó, vì nước thiên đàng là của họ”. Gioan 14.8-10.

Phải chăng Chúa khuyến khích Chủ nghĩa vô sản ? Chúa muốn bần cùng hóa con người ? Chẳng lẽ trên thiên đàng chỉ toàn người nghèo ? Vậy thì thế gian này cũng sắp thành thiên đàng rồi, vì người nghèo chiếm số đông càng ngày lớp người nghèo càng tăng lên và khoảng cách giàu nghèo xa dần.

Chúa cũng thấy sự đối lập giữa giàu và nghèo và hình như Chúa cho nguyên nhân là từ người giàu; do đó Chúa cảnh cáo người giàu, Chúa nói : “ người có của mà vào được nước thiên đàng thì gay go dường nào, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu vào được nước thiên đàng” Lc. 18-24.27. Phân tích kỹ, ta thấy Chúa muốn nói tới bản chất của giàu và nghèo hơn là con người bằng xương, bằng thịt của họ.

- Chúa nói : Phúc thay kẻ có TÂM HỒN NGHÈO KHÓ. Vì người khác có nền tảng đạo đức phong phú, họ không có của cải tích lũy. “ Tay làm hàm nhai” có khi còn không đủ, lấy đâu của cải để giành ! do đó, họ sống đời giản dị - dù là sự giản dị bất đắc dĩ. Họ không đua chen – vì còn giai cấp nào bên họ để mà đua chen ! Do đó tâm hồn họ bớt đi nhiều tính xấu, họ sống thảnh thơi như một đạo sĩ phương đông, một triết nhân hiểu lẽ trời, đạo người.

Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch…
Đêm năm canh, an giấc ngáy o, o…. (C.B.Quát)

Chúa cũng thấy sự đối lập giữa giàu và nghèo và hình như Chúa cho nguyên nhân là từ người giàu; do đó Chúa cảnh cáo người giàu, Chúa nói : “ người có của mà vào được nước thiên đàng thì gay go dường nào, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu vào được nước thiên đàng” Lc. 18-24.27. Phân tích kỹ, ta thấy Chúa muốn nói tới bản chất của giàu và nghèo hơn là con người bằng xương, bằng thịt của họ.

Họ đã thấm thía nỗi đắng cay cuộc đời, nên họ chia sẻ với mọi người, thương yêu mọi người.

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. (Kiều)

Làm sao để người giàu diệt trừ được các tính xấu đó ? Thánh Mathêu đã chỉ rõ : “Không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc chuộng người này mà khinh người kia. Con người không thể làm tôi thiên chúa, cùng một lúc làm tôi đồng tiền” Mt.6, 24-34.

Như vậy phải chọn giữa Chúa (lời Chúa điều thiện) và đồng tiền (điều ác, điều tội lỗi).

Vậy, dù ai – giàu hay nghèo – vẫn phải lấy tình thương yêu là chính trong cách sống , như câu trong thánh kinh : “nợ nần anh em không mắc gì với ai, ngoài một điều là phải biết thương yêu kẻ khác” Rm. 13.8-10 và yêu mến đồng loại như chính mình. Ai không yêu thương thì không biết Chúa. Gioan 4-8. Hòa giải bất công trong xã hội bằng sự yêu thương. Giải pháp này khác xa với đấu tranh giai cấp, lấy hận thù là cứu cánh, lấy đấu tranh là phương tiện.

Tháng 12/ 2015


Về đầu trang


Chuyện Con Bọ Cạp

Thầy Phạm Văn An


Cổ tích Nhật Bản có câu chuyện về con Bọ cạp như sau :

Hai vị tu sĩ đi qua một con suối, vị đi trước thấy con bọ cạp bị nước cuốn trôi, bèn vớt lên, đặt trên bờ, bị cắn một phát. Đứng chờ vị kia, lại thấy con bọ cạp lội xuống nước, lại vớt lên, bị cắn một phát thứ hai, vị kia tới, thấy thế, bèn trách : Sư huynh khờ thế, đã bị cắn rồi còn vớt nó làm gì cho bị cắn nữa ! Vị này ôn tồn trả lời : Nó sinh ra là để cắn, còn tôi sinh ra là để vớt nó.

Câu chuyện khiến ta ngẫm nghĩ : bản tính thiện của con người luôn thúc dục ta làm điều tốt, dù có thiệt hại cho ta. Nếu chỉ vì bị cắn, mà không vớt, thì dễ quá, mọi người hành động như vậy. Người tu hành có tâm vô lượng và tâm vô úy ( không sợ hãi ) nên làm được việc mà người khác không dám làm. Ham sống, sợ chết thì không bao giờ thành đại sự, mà có thành đại sự thì mới mong giải thoát được nghiệp chướng. Nghiệp của con bọ cạp quá nặng, nó chỉ biết làm việc ác. Đó là nghiệp của nó, nó phải chịu hậu quả, không liên hệ gì đến việc làm thiện của kẻ tu hành, nếu cứ liên hệ giữa hai hành động : cắn và bị cắn, sẽ là một trở ngại lớn cho kẻ tu tập.

Phật Thích Ca trong một chuyến hành du gặp một kẻ cướp, kẻ này đang cần lấy thêm một cái đầu nữa là thỏa nguyện ước. Mọi người đều ngăn cản Phật đi tới, nhưng Phật cứ tiếp tục đi và sau cùng ngài đã giác ngộ được tên cướp cải tà quy chính.

Ta không sợ nguy hiểm, cứ giữ vững tâm thiện trong hành động thì có thể giác ngộ được kẻ ác, đó là nguyện ước của kẻ tu hành.

Trong thực tế, khó làm được như vậy, dân gian có câu : “ quá tam ba bận” chịu đựng điều ác cũng phải có giới hạn. Dân gian cũng nói : “Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn gây oán “ đó là kinh nghiệm chua xót ở đời : Ta giúp đỡ kẻ khác đâu muốn họ trả ơn, nhưng người lãnh ơn đôi khi lại cho đó là hành vi khù khờ, nên chỉ muốn lợi dụng. “Việc làm ơn mang oán “ khiến ta bực tức, chán nản, thù hằn. Ta đã đánh mất cơ hội cải nghiệp trong kiếp này.

Trước sự thiện ác, Khổng giáo vẫn giao trách nhiệm cho kẻ trí thức nhiệm vụ hoán cải xã hội :

Sách Đại học viết :
Đại học chi đạo,
Tại minh minh đức,
Tại Tân dân,
Chí ư, chí thiện.

(nhiệm vụ của kẻ có học là quảng bá (làm sáng) cái đạo đức của thánh hiền để đem lại kết quả là khai sáng dân trí đến độ hoàn thiện ). Nhưng Khổng giáo cũng phân biệt kẻ tốt người xấu trong nhị nguyên đối lập : Quân tử và tiểu nhân. Ca ngợi người quân tử và khinh chê kẻ tiểu nhân.

Ki tô giáo thì có lập trường rõ rệt :

Thánh kinh ghi : Con phải được biết ơn vì làm việc phúc T1 14.29

Và có thái độ dứt khoát :

Hãy cho kẻ lành, hãy khước từ kẻ dữ LC 6.35, MC 5.45

An ủi kẻ ác, đâu phải là điều lành - Huấn ca

Tăng chi bộ kinh II của Phật giáo cũng có nhận định “ biết ơn và nhớ ơn là điều khó tìm thấy ở thế gian “.

Lại nhớ một câu chuyện trên văn hóa phật giáo ( đã lâu, không nhớ số ) : Một ni cô đưa một em bé lang thang về chùa nuôi, cho ăn học. Em này gặp bạn cũ cũng đang lang thang, rủ về chùa và xin ni cô giúp đỡ, ni cô nhận lời. Một thời gian ngắn em này bỏ đi sống tiếp tục cuộc đời lang thang. Em kia thấy vậy, buồn tâm sự với ni cô, ni cô an ủi : “ Thôi, ta chỉ làm được vậy thôi, nghiệp nó, nó trả, ta chẳng làm được gì để giúp nó nữa”.

Kẻ Đại giác làm được nhiều việc khó vì họ có tâm vị tha tuyệt đối, còn ta, kẻ hèn mọn, có lẽ chỉ nên tu theo lối “ Độc giác “ tự giác mình, tự cứu mình, đừng làm điều ác và làm việc thiện, nhưng phải vừa sức.

Bảo Lộc, tháng 1/2015


Về đầu trang


Chuyện Cổ Tích

Thầy Phạm Văn An


Cứ cái tên của nó : đó là câu chuyện có từ xưa. Xưa là bao giờ ? Từ xửa, từ xưa, từ lâu lắm rồi,chẳng ai nhớ nổi ngày tháng, chỉ biết là từ khi có cháu, bà đã kể cho cháu nghe. Mà bà đây là Bà Cố, bà sơ và trên nữa cơ… đến cửu huyền, thất tổ lận. Biết bao thế hệ bà đã ra đi, nhưng chuyện cổ tích vẫn ở lại để những thế hệ các cháu sau lại nói chuyện ngày xưa.

Các cháu thì trời Đông hay trời tây vẫn ngây thơ, hồn nhiên, do đó trí tưởng tượng phong phú và diệu kỳ nên vẫn thích chuyện cổ tích vì ở đó có các nhân vật mà thực tại không có, những nhân vật đầy phép màu nhiệm và tốt bụng phù hợp với bản tính thiện của các cháu, nên đông tây đều có chuyện cổ tích, chuyện ngày xưa.

Vậy, chuyện cổ tích là để cho trẻ thơ đọc. Khi các cháu chưa biết chữ, thì bà kể cho cháu nghe. Người lớn chỉ kể chuyện cổ tích chứ không xem, đọc chuyện cổ tích; vì với đầu óc đầy chai, sạn của tháng năm, khối óc không dung nạp nổi. Họ đâu còn những giấc mơ, thực tế đâu còn tiên, bụt như trong chuyện cổ tích.

Phải chăng, người ta đánh lừa con trẻ, khi phịa ra những chuyện thần tiên ? Chẳng ai dám có một câu trả lời dứt khoát, vì đã bảo : Chuyện xưa lắm rồi, ai mà biết đúng sai. Tin hay không tùy mọi người và cũng tùy theo mọi người, những giấc mơ đẹp có đến với mọi người hay không.

Còn lũ trẻ thì luôn thích chuyện cổ tích. Nếu Chúa nói thiên đàng dành cho trẻ thơ, thì đây, chuyện cổ tích đã cho trẻ thơ một thiên đàng quyến rũ ngay trong xã hội xô bồ này.

Xin người lớn đừng phân tích chuyện cổ tích bằng não trạng già nua của mình; chỉ cần kể cho chúng nghe và chúng tự hiểu. Đừng nghĩ là chúng không hiểu, vì không hiểu sao chúng thích, chúng hiểu theo cách cúa chúng và có klhi cách hiểu này lại hay, tốt hơn cách người lớn hiểu nên xin ai đó, chớ bỏ qua đoạn “Cám bị làm mắm” vì sợ tuyên truyền cái ác. Tụi nhỏ thừa sức hiểu đây là hậu quả của việc ác độc do mẹ con Cám đã gây cho Tấm. Chúng bảo “đáng đời” và vẫn muốn sống sao cho được giấc mơ hoàng hậu của Tấm.

Đã nói là trẻ con Đông Tây đều thích chuyện cổ tích, cũng có nghĩa là Đông và tây đều có chuyện cổ tích. Nhưng cũng đừng nên cho rằng Cinderilla của Tây phương là bản gốc và chuyện Tấm Cám là bản sao? Đâu là bằng chứng? Xa ơi là xa, thế đã đem Cinderilla sang Việt Nam? Bằng cách nào ?

Đời vẫn có những trùng hợp ngẫu nhiên. Khối giải Nobel có đồng tác giả, mà họ chẳng đổ cho ai là người ăn cắp. Chuyện cổ tích cũng ở trong trường hợp này. “Những cái đầu lớn thường gặp nhau” người tây phương đã nói như vậy. Con người ở đâu cũng ghét cái ác, chuộng cái thiện, chỉ điều mỗi nơi diễn tả cái ác, cái thiện khác nhau, tùy theo văn hóa của họ.

À, mà, ngày nay cũng có chuyện ngày nay cơ mà ! Cũng thú vị, quyến rũ lắm, lại khỏi cần bà đọc cho nghe. Có 5 ngàn một giờ trò chơi điện tử sẽ dẫn bé vào thế giới ngày mai của ngày hôm nay. Vừa rồi, còn có Pokemon hấp dẫn quá trời.

Vậy thì ai thích gì dùng nấy, ai muốn mơ cách nào thì chọn lấy : Chuyện cổ tích hay trò chơi điện tử, tùy thích, can chi mà bàn bạc .

Tháng 1/2017


Về đầu trang


Chuyện Cổ Tích Thời @

Thầy Phạm Văn An


Một anh chàng đứng trên cầu, móc di động ra nhắn nàng tới hóng gió. Cơn gió mạnh ào tới, hất văng con dế xuống sông, anh buồn quá, ngồi phệt bên vệ cầu, than khóc.

Bụt hiện lên hỏi : Vì sao con khóc ? Anh kể lể sự tình.

Tiếc quá ! Bụt nói.

Thế cô ấy nhận được tin chưa ?

Con chưa nhắn kịp, hu…hu…hu… !

Tội quá. Thôi để Bụt giúp, giữ dùm cho Bụt đôi dép !

Thế là Bụt lặn ngụp xuống sông, ngoi đầu lên, tay cầm cái NOKIA 800 mạ vàng, hỏi :

Cái này của con, phải không?

Không phải, thưa Bụt.

Bụt lại lặn xuống, khi lên đưa cái Iphone 365 nạm kim cương.

Cũng không phải, thưa Bụt, anh thở dài.

Bụt lại lặn xuống, lần này mang chiếc NOKIA 3310, gần cháy màn hình vì ngâm nước quá lâu. Anh mừng rỡ, reo lên :

Đúng cái này của con, xin cám ơn Bụt !

Bụt ướt sũng nhưng vẫn vui, nhận lại đôi dép cũ rồi ngài tươi cười nói :

Cho con cả 3 chiếc di động đó !

Anh không nhận, chỉ nhận chiếc Nokia 3310 của anh.

Một lần khác, anh đi chơi với người tình ở một cây cầu xa hơn – anh vẫn thích những cây cầu, nhưng sợ cây cầu cũ – Trong cảnh tình tứ nên thơ, hai người hôn nhau; cái hôn nồng nàn quá, khiến nàng nghiêng nghiêng trong gió, rồi “ào” một cái, rơi xuống sông.

Anh lại ngồi ở vệ cầu khóc. Bụt hiện lên hỏi :”Vì sao con khóc?” Anh kể lể sự tình. Bụt chép miệng :”Nghiệp con nặng quá ! Thôi để Bụt giúp”.

Ngài lặn xuống rồi ngoi lên với người đẹp Marylin Monroe

Đây có phải vợ con không?

Đúng rồi, phải ạ !

Con nói dối !

Anh vội thanh minh :

Xin Bụt tha lỗi, Bụt hiểu cho con ! Nếu con nói không, Bụt sẽ mang lên cho con nàng Elizabeth Taylor, con lại nói không nữa, Bụt sẽ mang vợ con lên, rồi Bụt lại cho con cả 3 người, ôi thôi ! làm sao con chịu nổi ! Họ sẽ lườm nguýt nhau, cãi nhau suốt ngày, rồi lại bắt con đi shopping dài dài. Hầu hạ một người, con đã mệt quá rồi, nhưng đã chót thì phải chét, Một người thôi, đủ rồi Bụt ạ ! Vì người đẹp, con nguyện làm thân trâu ngựa suốt đời hầu hạ, như vậy Bụt hài lòng chứ ạ ?....

Câu chuyện chấm dứt nơi đây, chưa có hồi kết vì chẳng hiểu Bụt quyết định ra sao ? nên người ta thêm vào đoạn kết sau :

1/ Bụt sẽ không tức giận – vì lòng từ bi mà ! – nên Bụt vẫn lặn xuống để vớt tiếp 2 người còn lại rồi trao cho anh chàng, để mặc anh chàng giải quyết rồi Bụt biến mất. Anh chàng giải quyết cách nào cũng là tạo cho mình thêm nghiệp chướng : nhận cả 3 hay chỉ nhận bà vợ ? Còn 2 người đẹp kia ? Tội người ta. Ráng mà tạo nghiệp cho nhẹ.

2/ Lại có một cách kết thúc gọn hơn : Khám phá ra anh chàng nói dối, Bụt bỏ đi ngay, vì anh ta đã phạm ngũ giới, luật cấm của nhà Phật. Luật căn bản mà không giữ được thì là thứ … mất dạy; cũng như ông thầy dạy điều căn bản là không được trốn học, phạm luật là đồ …bỏ đi. Luật Makeno (mặc kệ nó) được áp dụng nghiêm chỉnh !

3/ Cách giải thích thuần lý trên không hợp với “ bụng phật” nên có cách hợp tình hơn : vì lòng thương vô lượng (từ, bi, hỉ, xả là tứ vô lượng tâm trong Phật giáo) Bụt sẽ vớt tất cả lên, trả lại vợ cho anh chàng, còn các người đẹp khác, Bụt khuyên : “Được sống lại là một diễm phúc, vậy các con hãy sống tốt đẹp cho trọn kiếp” Rồi Bụt biến mất.

4/ Có người lại cho rằng 3 cách giải quyết trên không cần thiết ! Chuyện cổ tích “xưa rồi” không còn phù hợp với não trạng con người nữa – dù còn trẻ - nay vài tuổi đầu đã biết vào “Facebook”, nhất là chơi “game” ở đây, đứa trẻ thấy “hiện thực” hơn, thỏa trí sáng tạo không cần dựa dẫm vào ai) mà ước mơ vẫn thực hiện được, lại còn đề nghị rằng : không nên viết chuyện cổ tích nữa, ngay cả chuyện cổ tích trong văn học dân gian cũng nên bỏ đi, để trí khôn con trẻ được bay bổng, sáng tạo. Chúng sẽ tiến bộ mấy chốc.

Xin ghi lại 4 cách giải quyết vấn đề, không kèm theo lời bình luận hoặc góp ý, để quí vị độc giả tự do sáng tạo.

Tháng 1/2016


Về đầu trang


Chữ Hán,Chữ Nôm,Chữ Quốc Ngữ

Thầy Phạm Văn An


ĐÔI ĐIỀU NÓI LẠI VỀ CHỮ HÁN, CHỮ NÔM VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

Mỗi dân tộc có tiếng nói riêng và sau đó có chữ viết riêng để ghi lại tiếng nói của mình. Ở Việt Nam gần đây, người ta đã tìm ra nhiều di chỉ có những chữ viết ngoằn ngoèo, nghi rằng đó là chữ viết của người Việt cổ. Bước đầu đã giải mã được một số ký tự. Các chữ viết người Việt Nam dùng, theo lịch sử, được liệt kê theo thời gian thì có thể kể như sau : Lúc đầu là chữ Hán, vì Việt Nam khi đó là thuộc địa của Trung Hoa. Các quan đô hộ người Tàu dùng chữ này trong hành chính, Rồi từ nhà Đinh và có thể trước đó, khi Đinh tiên Hoàng dựng nước Đại cồ Việt, vì không có chữ viết riêng, nên nhà nước Đại cồ Việt đã phải dùng chữ Hán. Giai thoại các nhà sư được vua Đinh dùng để tiếp đón các sứ thần Trung Quốc lúc đó đã cho biết như vậy. Có lẽ các nhà sư là người Việt đầu tiên dùng chữ Hán. Họ cần biên tập các kinh sách để tu trì, nên họ phải học chữ Hán trước tiên. Cho đến cuối TK 19, triều Nguyễn, chữ Hán độc tôn. Thứ chữ này khó học, vì người Việt dùng chữ Hán, nhưng lại phiên âm rồi phát âm bằn âm Việt, ví dụ 1,2,3,4 , người Tàu đọc là dắt, nhì , sám, si, Việt phát âm thành nhất , nhị, tam, tứ ( thay vì phát âm thuần Việt là một, hai, ba, bốn. Viết đã khó mà đọc cũng chẳng giống tiếng Việt, thành thử học chữ Hán khó gấp 2 lần (viết và đọc), Tiếng này thành ra khó phổ biến trong quần chúng, chỉ hạn chế trong giới thượng lưu : quan lại và trí thức ( nhà nho, kẻ sĩ ) Đến TK 11, dưới triều nhà Trần, ta có thêm chữ nôm (chữ Nam). Mốc lịch sử của chữ này là từ Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Ông đã làm một bài văn tế bằng chữ nôm để đuổi cá sấu đang làm hại dâu. Trước người ta khinh thứ chữ này vì cho là “nôm na là cha mách qué”. Nay người ta nghĩ rằng chữ nôm cũng hàm chứa sự linh thiêng nên mới đuổi được cá sấu, chẳng thua kém gì chữ Hán là thứ chữ của thánh hiền, nên chữ nôm có cơ phát triển. Thực tế, thì chữ nôm cũng khó học chẳng kém gì chữ Hán; vì gốc từ chữ Hán : Người ta mượn chữ Hán để chế ra chữ nôm: Chữ nào mà trong tiếng Việt và tiếng Hán đều có thì người ta lấy dùng : 1,2,3,4 nay đọc theo âm Việt là một, hai, ba, bốn. Chữ nào mà tiếng Hán không có tiếng Việt tương đương thì người ta lấy một tiếng Hán rồi thêm, bịt một phần để thành tiếng Nôm, do đó một chữ nôm có thể có nhiều cách đọc, tùy theo văn mạch của câu. Dù sao chữ nôm cũng nói lên được mong muốn thiết tha có được một chữ viết của riêng mình. Từ đây, các tác phẩm truyền miệng đã được ghi chép lại bằng chữ nôm và được truyền bá trong dân gian dễ dàng hơn, và các tác phẩm sáng tác bằng chữ nôm (như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Kiều, Lục vân Tiên ) đã ra đời. Phải nói rõ là chữ Nôm không làm nên những tác phẩm này mà nó chỉ giúp cho tác phẩm đó thuận tiện để truyền bá. Đến khi người Pháp bỏ chữ Hán ( bỏ các kỳ thi Hương, thi Hội ) thì chữ duy nhất được dùng là chữ Quốc ngữ, một thứ chữ dùng mẫu tự la tinh để ghi âm. Chữ Quốc ngữ giản dị, dễ học, dễ viết nên đủ mau chóng phổ biến trong quảng đại quần chúng và với chiến dịch đổi mới do những người có tây học khởi xướng, một phong trào sáng tác đủ mọi thể loại : tiểu thuyết, thơ văn rầm rộ phát triển. Cũng lại phải nói rõ ràng thứ chứ này không phải là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển văn học, mà chỉ là phương tiện thuận lợi để văn học Việt Nam phát triển. Một nền văn học phát triển cần nhất là yếu tố con người : có người giỏi, người có tài thì mới có những tác phẩm hay. Ở giai đoạn này ta có được những bậc thầy về sáng tác như Ngô tất Tố, Vũ trọng Phụng, TLVĐ… thơ như Xuân Diệu, Thế Lữ…Thời hiện đại, chữ Quốc ngữ được dùng phổ biến, mà văn học không khởi sắc, chứng tỏ là ta thiếu nhân tài trong lĩnh vực sáng tác văn học. Trở lại truyện Kiều ( ĐTTT ) của Nguyễn Du, đây không phải là tác phẩm diễn nôm từ tác phẩm của tác giả Trung Quốc ( Thanh tâm tài nhân ). Nguyễn Du chỉ mượn một số tình tiết trong tác phẩm của Trung Hoa để tạo nên tác phẩm Kiều của Ông (gọi là phóng tác thì đúng hơn ). Cũng không phải nhờ chữ Nôm mới có truyện Kiều. Sáng tạo văn học và chữ dùng là 2 phạm trù hoàn toàn khác biệt. Sáng tác là tài năng, chữ viết là phương tiện. Có tài năng thì viết bằng chữ nào tác phẩm vẫn hay. Có điều phải công nhận là với truyện Kiều thì ngôn ngữ Việt Nam đã đạt tới sự nhuần nhuyễn để diễn đạt bất cứ ý nào, dù thâm sâu nhất trong lòng, truyện Kiều làm phong phú thêm tiếng Việt là ở điểm này, đến nỗi Phạm Quỳnh có thể khẳng định : “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn thì nước ta còn”. Văn học cổ điển – văn chương bác học – dùng chữ Nho (Hán) như thơ (văn vần), Biểu, chiếu, phú… là văn xuôi. Dù loại nào cũng có luật lệ, âm điệu khắt khe. Các nhà nho – dù làm quan hay không – đều có mảng thơ văn bằng chữ hán. Điều đặt ra là thứ văn học này có được coi là văn học Việt Nam không ? Có người phủ nhận vì cho rằng nó thuộc văn học Trung Quốc vì làm bằng chữ Hán, người khác lại chấp nhận, lý do là người Việt Nam thì thuộc văn học Việt. Tổng kết, có người đã than thở : văn học và con người Việt Nam chưa bao giờ thuần túy Việt Nam. Xưa ta lai Tàu : văn chương mô phỏng hay theo sát luật văn, thơ Trung Quốc; mượn thành ngữ, điển tích Trung Quốc đến cả không gian, thời gian Trung Quốc ( Truyện Nôm hay nhất là Kiều thì cả gia đình Kiều là người Tàu, chuyện xảy ra ở bên Tàu, vào thời Minh ). Khi chữ Quốc ngữ ra đời, ta lai Pháp để có những câu thơ ngô nghê : “Hôm nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm”, và hiện đại, thì lại “búa xua” : lai Mỹ, lai Hàn v.v… đến nỗi chữ viết câu văn chẳng là văn của ta, nói câu nói chẳng đúng với ngữ pháp Việt. Cứ mở Ti vi ra mà nghe : cách nói, câu nói của các biên tập viên, mười câu, chỉ hiểu được một nửa, có khi, chẳng hiểu họ nói gì. Một nền văn học Việt Nam phải mang bản sắc Việt, truyền thống Việt như nhà cầm quyền từng kêu gọi : “Đậm đà bản sắc dân tộc…truyền thống dân tộc” nhưng bản sắc đó là gì ? Truyền thống đó ra sao ? Vẫn chưa xác nhận được thì làm sao có một nền văn học Việt theo đúng nghĩa được ! Thầy Phạm văn An Tháng 12/2016


Chữ Tâm

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY BÀI 13 : CHỮ TÂM

Anh nói : Có một nhà thơ thờ chữ tâm khiến tôi nhớ tới ngày tết vừa qua, có một người nhờ tôi viết chữ Tâm để ông ta treo ngày tết, nhưng tôi từ chối vì ông thuộc loại Phari siêu (1) nên không biết chữ tâm nào thích hợp. Độ này, người ta có phong trào suy tôn chữ Tâm như một mốt thời thượng . Nhưng mấy ai đã hiểu được chữ Tâm.

Tâm là tấm lòng, miền sâu thẳm của hồn người, mà tùy nhân duyên, nó sẽ biến thành hành động, nói nôm na là Tâm dẫn dắt cuộc sống người ta. Trong đời thường, người ta dùng từ ghép Lương – Tâm, mà tôi thường dịch là lòng lành . Lòng lành là tốt bụng. bụng tốt thì ăn gì cũng được – Của ngon cũng được, thiu thối không sao, chứa đựng được ráo, không sợ bị đau bụng, không sợ bị “ Tào tháo” đuổi. Từ nghĩa bóng đến nghĩa đen, tôi thấy đều có nghĩa. Thế nào là tốt – xấu ? Tùy theo hoàn cảnh tạo nên thói quen. Người bảo thế này là tốt, kẻ lại bảo như vậy là xấu ! Có người nói : Tôi làm theo lương tâm, ai khen chê mặc ! Nhưng hỏi anh ta lương tâm là gì ? anh không trả lời được. Anh mù mờ về chữ lương tâm. Có khi lương tâm của anh bị “Chó tha mất rồi” mà anh không biết.

Một đệ tử hỏi vị thiền sư :
Xin thầy an tâm cho con, con rối rắm quá, chẳng yên ổn.

Vị Thiền sư hỏi : Vậy đưa tâm ra đây, để ta an cho.

Đệ tử tìm mãi chẳng thấy lương tâm ở đâu.

Vị Thiền sư trả lời :
Như vậy là ta an tâm cho đệ tử rồi đó.

Người ta phân biệt : Thiện tâm và ác tâm, ác tâm là tâm quay cuồng như bị ma ám, bị điều xấu rình rập, dụ dỗ mà không cưỡng lại được, phải tuân theo nó, dần dần thành thói quen làm điều xấu vẫn cứ thản nhiên : ác trở thành thiện; còn kẻ thiện tâm luôn kiểm tra hành động, luôn đối chiếu việc làm với lời Chúa dạy, Phật bảo. Cố sao cho đúng với giáo lý đã học. “Sao cho đúng” chứ không phải “đúng hẳn” “đúng hoàn toàn”. Đúng hoàn toàn thì khó, thậm chí quá khó, nếu làm được đúng như vậy, ta có “chân tâm”, nghĩa là “tính Phật” đã phát triển đầy đủ, đó là lúc “Đắc đạo” đã bước vào cõi niết bàn (hay nước thiên đàng cũng vậy).

Khi vào được cõi cao siêu đó ta có “Không tâm”, Tâm vô phân biệt, không còn tốt xấu nữa vì ở cõi này, mọi người đều giống nhau với tâm sáng lá

ng của Thiên thần, Bồ Tát, tâm sáng láng ánh hào quang. Còn việc thờ chữ Tâm, tôi có suy nghĩ khác. Thờ hay tôn thờ là sự ngưỡng mộ của kẻ thấp hèn với điều cao cả nghĩa là giữa tâm và người vẫn còn khoảng cách : Tâm vẫn là tâm, mà tôi vẫn là tôi. Nhưng tâm nào có xa con người ? Tâm ở trong ta và ta là tâm : Tâm Phật, Phật tính, ta để lạc tâm, xa tâm thì gọi là hồn tâm về, đó là điều mỗi người phải làm để đáng sống ở đời này.

Có ông nhạc sỹ than thở : Chúa bỏ loài người, Phật bỏ loài người ! Đâu có ! Chính ta bỏ các ngài hay quên các ngài thì đúng hơn ! Ta đã bỏ cái Tâm tốt đẹp để theo cái Tâm điên đảo. Khổng giáo nói kẻ có học ( đại học = biết suy nghĩ ) phải “minh minh đức” nghĩa là làm rõ cái đức (tâm) lung linh của mình lên, phải tu thân để dẫn đường chỉ lối cho mọi người để xã hội tốt đẹp ( tại tân dân, chí ư chí thiện ).

Khi đứng ở hành lang “ Không Tên” ( đừng lẫn với Không tâm) anh nói : Có người giả vờ quên (2). Quên là có tội mà giả vờ quên tội càng nặng hơn. Con người có giá trị là còn nhân tâm, mất nhân tâm thì là giống gì ? Biết nhân tâm mà giả vờ như không biết là tự sát, kẻ không còn đáng sống. Chữ “ Tâm” kia cũng có 3, 7 đường (3) : Tâm thiện (tâm tốt), Tâm ác (tâm xấu ), tâm giả (giả đạo đức), Không tâm ( không còn tâm), Vô tâm (không biết, không để ý, không phân biệt ) và Tâm không ( Không còn gì để phân biệt ). Kiểm điểm xem tâm ta thuộc loại nào để mà tu sửa cho hợp lòng người, đẹp lòng trời, luôn luôn tu chứ không phải thờ.

Bảo Lộc, Việt Nam


(1) Phari siêu : hạng người giả đạo đức được nêu nhiều trong thánh kinh mà chúa Giê Su rất ghét.
(2) Giả vờ quên : Cũng đồng loại với Phari siêu.


Về đầu trang


Con Mắt, Cái Nhìn

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
CON MẮT, CÁI NHÌN

Ở đây, tôi không nói đến con mắt trong thi ca – vì là một bài văn – không có con mắt long lanh, con mắt bồ câu, mà cũng không phải là “con mắt đẹp mà cả 3 đứa ưa” như trong một bài ca nào đó .

Giản dị chỉ là “con mắt để nhìn”

Hôm trước qua một xóm nhỏ, nghe tụi trẻ hát bài đồng dao có câu :


Trời sinh con mắt người ta,
Phía trước thì rõ, phía sau thì mù.

Tôi cứ suy nghĩ mãi, mọi sự về con mắt đã rõ, nói làm gì ! có thêm được gì đâu.

Ngồi nhàn hạ, nghĩ lẩn thẫn lại thấy câu đồng dao có nhiều gợi mở.

- Ừ nhỉ, nếu trời cho cong người có con mắt đa tròng , như mắt ruồi, có phải ích lợi biết bao: nhìn tứ phía, bốn phương , tám hướng, chẳng thiếu chỗ nào mà không thấy. Trời cho con ruồi đôi mắt đó thật uổng, vo ve suốt ngày chỉ có một việc là đi tìm những chỗ “không đáng tìm” thối tha, hôi hám. Nếu con người có được đôi mắt này chắc con người sẽ tiến bộ hơn nhiều : Chàng trai đi… nếu cứ mải mê nhìn một bóng hồng, thì đụng cột đèn, va quẹt xe, chẳng phải chuyện khó. Tệ nhất là chứng kiểm soát được xem “Em” có rình rập ở phương nào khác, để tránh.

- Nhưng, người ta bảo : tạo hóa sinh ra con người vốn đã hoàn hảo, chẳng chi tiết nào thừa, chẳng chi tiết nào thiếu. Vậy đúng là Ông trời chỉ muốn ta nhìn thẳng, nghĩa là nhìn một phía thẳng thước thợ với mắt.

- Con mắt ngó nghiêng nghĩa là cố nhìn chệch đi một chút mà lại ngó nghiêng liên tục khi đi đường thì thầy bói bảo là người có tà tâm, nôm na là không đàng hoàng, không đứng đắn. Còn người nhìn thẳng thì nhà tướng số nói là người trung trực, ngay thẳng, người quân tử.

- Trong thực tế, thì chỉ biết nhìn thẳng (theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) chưa chắc là đã hoàn toàn tốt (đúng). Ra đường, chỉ nhìn thẳng thì không để ý được mọi người. Người quen nhìn chẳng mỉm cười đáp lại là kẻ bất lịch sự , nếu lại vừa nhìn thẳng vừa đi chậm rãi, người ta tưởng gặp vị tu hành, tệ hơn là bị coi là kẻ tâm thần.

- Còn không nhìn được phía sau ?

Giá như cái cổ của chúng ta dài như con hươu cao cổ, thì muốn xoay trước sau cũng dễ, đằng này nó chỉ độ 20cm, có cô nào “cổ cao ba ngấn” thì chỉ là cái cổ đẹp (kèm theo tóc mây rườm rà)chứ không phải để “chuẩn bị” ngó ra phía sau, ai cố gắng nghẹo đầu nhìn ra phía sau, coi chừng sẽ bị vẹo cổ rồi “cứng đầu” Bệnh khó chữa.

Không nhìn được ra sau – hình như Ông trời bảo – là đừng nhìn về quá khứ : cái gì đã qua cho nó qua luôn, nếu nó là điều đau buồn thì qua luôn cho nhẹ đau khổ, nếu đó là điều vui tươi thì có muốn cũng không lấy được lại, “mù đi là phải”.

À, mà con mắt nhìn về phía trước rõ, còn có nghĩa là nhìn được cả tương lai. Viễn thị à ? đeo thêm kính vào tương lai sẽ nhìn rõ. Nhưng suy cho cùng cái nhìn trước mắt ấy có rõ mấy đi nữa thì cũng chẳng nhìn được ngày mai – có khi chút nữa thôi, chiều nay thôi – cũng mù tịt chẳng thấy gì. Cái ‘sẽ” của tương lai luôn là một câu hỏi “ “Que sera, sera, what will be will be”, nhưng trí tưởng tượng có thể nhìn rõ mọi vấn đề nó muốn, nhất là cái hố sâu ba tấc luôn sẵn sàng chờ đón ta. Nhưng cái nhìn này chẳng ai ham, nếu không nói là đáng nguyền rủa.

- Các nhà thiên văn đã sáng chế được kính viễn vọng để nối đường nhìn của đôi mắt lên vũ trụ. Họ nhìn thấy nhiều lạ lẫm lắm. Tương lai của họ rộng dài vô biên mà ta lại chỉ cần cái tương lai tương đối vì ta biết ta hữu hạn. Tiếc thật.

- Nhớ một hôm, ngồi xe với ông ngân hàng, chẳng nhớ bàn chuyện gì, chỉ nhớ ông ngân hàng kết thúc câu chuyện bằng câu gọn nhẹ : “sống chưa biết sống, nói gì đến kiếp sau”.

Tương lai của ta – mà các tôn giáo hứa hẹn là : nước chúa – thiên đàng; niết bàn – cực lạc; Bồng lai – tiên cảnh, nhưng… là ở kiếp sau. Kiếp này nối tiếp với kiếp hiện tại ta đang sống.

Khổ một nỗi là 2 kiếp lại không có một kênh liên lạc chính thống (1) nào để ta “Alo” kiểm soát xem nó ra sao.

Vậy thôi hãy nhìn rõ cái hiện tại để sống đúng như hiện tại mong muốn.

Tháng 5/2017
(1) Kênh không chính thống thì có nhưng không bảo đảm độ tin cậy ( như bói toán, thôi miên, đồng thiếp v.v…)


Về đầu trang


CÓ TAI THÌ NGHE (mt 13. 3-9)

Thầy Phạm Văn An

Ngôn ngữ là phương tiện để diễn tả ý, tình. Nhưng đôi khi ngôn ngữ cũng bất lực, không thể diễn tả đúng ý người nói. Có khi người nghe không hiểu ý người nói hoặc hiểu sai.

Trong thánh kinh có dụ ngôn “cánh cửa hẹp” :

“Muốn vào nước trời, hãy vào CỬA HẸP, vì rộng rãi và thênh thang tức là đường dẫn vào hư vong và người vào đó lại nhiều, còn cửa hẹp và đường chật là đường dẫn đến sự sống, ít người kiếm ra nó” (mt7 . 13-14)

Đoạn kinh thánh này đã gây ra ngộ nhận. Văn hào Pháp, trong kiệt tác “Khung cửa hẹp” (La porte e’troite) với một cách hiểu duy lý của người Châu Âu, đã diễn tả cách hiểu hẹp hòi trong tiểu thuyết trên.

Truyện kể rằng :

Je’rôme là chàng trai ở thành thị, mỗi năm về thăm quê đôi lần, Alissa, môt cô thôn nữ ngoan, hiền cũa một xóm đạo miền quê, hai người gặp nhau và yêu nhau trong một tâm tình chất phúc, tưởng sẽ thành vợ chồng.

Sau khi Je’rôme giã từ nàng ra tỉnh, nàng ở quê một mình, nàng vẫn đến giáo đường dự lễ hàng ngày. Hôm đó giáo sĩ giảng bài Kinh thánh “hãy vào cửa hẹp”, về nhà Alissa thẩn thờ, nàng có ý nghĩ rằng : chẳng thể nào lấy được Je’rôme, vì cửa hẹp và đường chật đâu đủ cho hai người cùng bước qua, để vào thiên đàng. Vậy muốn vào nước trời, hãy ở một mình. Cô rất buồn và day dứt.

Môt ngày kia, Je’rôme trở về, Alissa cố tình lánh mặt, thêm một nỗi buồn vô cớ cho người đang tha thiết yêu thương.

Vì Je’rôme không biết lý do vì Alissa không chịu nói, anh ra đi và cô cũng bỏ nhà, cuối cùng chết âm thầm trong một nhà thương thí.

Alissa đã không hiểu ý của câu Chúa nói, hay là vị giáo sĩ quá quí trọng lời thánh, mà không giảng giải rõ lời Chúa ? Tại hai không đáng có đã xảy ra làm tan vỡ mối tình đầu của đôi trẻ, nhất là đối với Alissa, cô đã hy sinh tình yêu – đó là thiên đàng hạ giới – để mơ về một thiên đàng mơ tưởng. Chẳng hiểu Chúa có thông cảm để đón nàng về nước Chúa không? Cửa hẹp tất khó vào, nhưng không phải không vào được; hay vào phải hội đủ một số điều kiện dù có chen nhau đến rách áo, sờn vai, mà điều kiện không hội đủ, thì cũng chẳng thể vào. Cốt tính lời Chúa dạy là “hãy biết thương yêu” ‘ai không yêu thương thì không biết Chúa” (Gioan 4-8). Je’rôme và Alissa đã đủ điều kiện để sau này hưởng phúc ở thiên đàng, thế mà cô đã tự đánh mất phần thưởng của mình.

Trong Phật giáo, cũng có nhiều câu chuyện, mà nay mỗi người hiểu 1 cách.

Câu chuyện “Niệm hoa vi tiếu” (nhìn (nghĩ về) hoa rồi mỉm cười ).

Trong một buổi họp chúng tăng , tay cầm đóa sen, nhìn mọi người mỉm cười, chẳng ai hiểu Phật muốn nói gì ? Duy có Đại đệ tử Anan mỉm cười theo. Chẳng hiểu ông Anan hiểu thế nào, mà nay người ta giải thích thế này : Ý Phật là ta đã tìm được trong cõi ô uế này một phương pháp chữa lành căn bệnh “đau khổ” cho chúng sinh (diệu pháp liên hoa).

Có người lại giải thích là : Đức Phật nói là ngài đã vượt lên mọi việc trần gian (như cây sen mọc từ bùn nhơ) chất lọc trong trần gian những tinh túy (hương sen) để làm nên giáo pháp của ngài. Đó là pháp giải thoát khổ đau.

Một giai thoại khác : Khi Phật đản sinh, ngài đã nói câu: “ Thiên thượng, địa hạ, duy ngã độc tôn” giải thích giản dị là (từ nay), trên trời, dưới đất (ở thế gian này) chỉ có ta là đáng tôn quí. Vì Phật đã tìm ra phương pháp diệt khổ, giải thoát cho chúng sinh. Cách hiểu khác là : “trên đời này chỉ có duy nhất con người (ngã) là kẻ có khả năng tự giải thoát kiếp đau khổ của mình. Đừng trông chờ vào ai, hãy tự cứu mình, chính mình là chủ nhân và là kẻ sẽ giải thoát khổ đau cho mình.

Chúa nói : “Có tai thì nghe”

Ai cũng có tai, nhưng mỗi người nghe xong thì không hiểu giống nhau rồi trở thành “Ông nói gà, bà nói vịt” là vì vậy.

Tháng 6.2016


Về đầu trang


Cuộc Đời Nhớ Nhớ, Quên Quên

Thầy Phạm Văn An

Đọc truyện ngắn “Nhớ quê” của thầy Nguyễn quang Tuyến, tôi chú ý đến lão tiền bối – Ông già, nhân vật chính của truyện. Chú ý vì lão tượng trưng hoàn chỉnh cho mẫu người đang sống trong hiện tại, lại luôn hướng về quá khứ, để tìm ở đấy lẽ sống riêng cho mình. Lão đang sống ở Thủ Đức, lại thích về chợ Bà Hoa (ở Tân Bình) vì ở đây lão sung sướng được thấy lại những “vật chứng” của quê nhà thời xa xăm : “…..Tao cầm ngọn rau húng nhủi, húng quế mà ngầy ngật như đang ngầy ngật những ngày tháng cũ”.. “…..thấy cái bánh tét, bánh rò, bánh thuẫn nở toét cười quê mùa mộc mạc…” . Rồi lão về quê, hình như để kiểm tra xem quê lão có còn như xưa không. Rốt cuộc, lão chỉ tìm được nơi quê nhà, cảnh cũ, người xưa là “ cái nền nhà của căn nhà nơi chôn nhau cắt rốn của lão là nguyên như cũ, ngoài ra, mọi cái đều thay đổi, không những thay đổi, mà cái mới “chẳng ra gì” “…có nhìn kỹ, thấy thiếu bóng người, thiếu bóng sự sống và nụ cười khoái hoạt, mà chỉ còn thấy tiếng “dzô dzô” rộn ràng. Trâu bò lưa thưa, đồng ruộng vắng hoe, không vóc dáng trang đinh…” và cảnh này mới đáng ghét, mấy thằng ranh con, xách mé hỏi lão : “ nè ông già, chừ ông tìm ai rứa cà…” xưa, trẻ con đâu có thế, phải khoanh tay chào hỏi chứ ! Lão đang lạc vào một thế giới khác – hay nói đúng hơn, lão bị lưu đầy trên chính quê hương của lão và người làng coi lão như người ngoài hành tinh lạc về. Lão nhớ lại từng chi tiết cuộc sống xưa, ôi sao mà đẹp thế, ý nghĩa thế ! này nhé : hình ảnh con bé bán khoai ở một sân ga nọ “…ngơ ngơ, ngẩn ngẩn như cầu xin, thương xót… sao mà thương quá à ! Lão thả hồn về chuyến xe lửa về quê và thấy lại kỷ niệm cũ rất đẹp, rất ý nghĩa “…ngồi bên thành cửa (cửa sổ xe đò) lột cái bánh ít lá gai, hay củ khoai từ chợ Dược… chất bột dẻo quánh, dính chặt ngón tay… Rồi nhớ đĩa cơm ở Tam Quan “…trắng hồng lúa quê, trên có đùi gà ram vàng…”

Rồi thì biết bao nhiêu cái “ Tau nhớ”… để mà thương xót thời quá vãng tất cả hiện tại – theo nhận xét của Lão – đều “ chẳng ra gì “ “ chẳng giống xưa : “… bi chừ, răng mà lọa (lạ)… lọa quá bây à !... chi mà lọa rứa he…” Từ “lọa” Lão dùng có chút gì đó chê bai, không bằng lòng. Theo dõi, ta thấy rõ cái “ không bằng lòng đó “…bi chừ thì khác xưa, người bán hàng, mua chạy ào ào la lối…. Khi Lão nhớ “ngày xưa” quá, thì vài tháng một lần, thì lão gọi thằng cháu nội chở lão xuống ngã tư Bảy Hiền để “ trệu trạo tô mỳ quảng” rồi về. Con cháu thấy lạ, hỏi lão “…xe cộ đông đúc, sao ông lại chịu khó chen lấn từ Thủ Đức về đến tận Tân Bình mà ăn tô mỳ quảng…” lão khẽ khàng :”… Bay đâu có biết chi về quê nhà xứ mình như tau, mà nói hè…”. Phục cho lão đã níu kéo quá khứ làm lẽ sống cho hiện tại, mà lão cũng đã níu kéo được nhiều đủ để lão tạo một “ khung trời riêng biệt”, “ một thế giới riêng” để lão sống.

- Tôi nhớ có một triết gia đã nhận xét : “ Người da trắng sống với tương lai, người da vàng sống với quá khứ và người da đen sống với hiện tại”. Lần dở văn học cổ, ta nhớ Bà Huyện Thanh Quan, từ Huế về Hà Nội, khi nhớ lại triều đại cũ, đã có 2 câu :


“Lối xưa, xe ngựa, hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

Đến đầu thế kỷ 20, nền văn hóa Á Đông bị Tây phương lấn át, dù luyến tiếc quá khứ, nhưng Á nam Trần tuấn Khải đã có một suy nghĩ khác: “Việc quá khứ đành thôi không kể Còn tương lai phải nghĩ sao đây” (Hai chữ nước nhà ) Quá khứ đã không còn được lưu luyến nhiều.

Rồi trên website Văn Học Dalat, thấy ghi :”…là nơi ôn lại kỷ niệm ngày xưa… và gần 1 năm qua, mọi người cũng đã ôn lại được khá nhiều kỷ niệm ngày xưa, của trường, của bạn, của chính mình…”

- Đọc kinh Phật, tôi bắt gặp trong kinh tứ niệm xứ, những câu sau đây :


Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tân
Tương lai thì chưa đến

Một cách khác là :


Quá khứ đã xa rồi
Tương lai thì chưa tới
Hãy an trú trong hiện tại

Phật giải thích cho các tì kheo như sau : “….thế nào là không truy tìm quá khứ ? Vị ấy nghĩ : “ như vậy là sắc của tôi trong quá khứ… và truy tìm sự hân hoan trong đó…” “ như vậy là thọ của tôi trong quá khứ và đi tìm sự hân hoan trong đó…” “ như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ và đi tìm sự hân hoan trong đó “ (1)…..


(1) Sắc, thọ, tưởng, hành, thức xem lại chú thích trong bài “ Mùa Xuân Cuộc ời” với các dòng giải thích trên của Phật, ý nói là sống với quá khứ là sống với giả tưởng, bám vào giả tưởng để đánh lừa mình tự thỏa mãn với những cái không còn là thực tại và khi biết rõ là ảo giác thì càng đau khổ hơn.

Tùy người đọc suy ngẫm vấn đề.


Về đầu trang


Di Sơn Đại Pháp

Thầy Phạm Văn An

Một nhóm người đi tầm sư học đạo, nghe nói có vị đạo sĩ truyền pháp “Di sơn”. Họ tìm đến và mong có được phép lớn.

Vị đạo sĩ thu dung tất cả. Ngày đầu tiên, ngài giao cho chổi và truyền đi quét sân. Hôm thì ngài chê, quét không sạch, hôm ngài than :chổi mau cùn, ngài cũng nói : “quét gì mà bụi bay mù mịt”.

Xong việc quét sân, ngài đưa một nắm hạt giống bảo đi gieo trồng. Kiểm tra, ngài chê :Cải mọc không đều, cải lại nhỏ quá, lá bị sâu ăn lốm đốm. Rồi việc trồng cải cũng qua, ngài sai đi gánh nước. Đổ hết chậu này, bi khác, đến toát cả mồ hôi, ngài chỉ nhìn mà không hề có một câu khích lệ. Hôm sau ngài sai đi hái củi, củi chất đầy một nhà bếp, ngài bảo để ra sân, để thành đống…Nhóm người chán nản, tụ họp bàn tán rồi rủ nhau tới chất vấn đạo sĩ, ngài nghe xong, mỉm cười bảo mọi người : Ngày mai theo ta, ta sẽ chỉ cho phép “di sơn”. Mọi người hí hửng chờ ngày mai. Tảng sáng , thầy trò lên đường đi mãi, hết suối lại đèo, sau cùng tới một hòn núi chặn ngang đường đi; mọi người dừng lại, ngài thong thả nói : “Đấy núi chẳng chịu tới ta, thì ta đi tới núi” nói xong, ngài lẳng lặng quay về, để các đệ tử ngơ ngác.

Di sơn đại pháp, phép lớn dời núi.

Núi là trở ngại lớn cho kẻ đi đường, gặp núi phải tìm cách vượt qua mới mong tới đích. Vượt qua núi là việc khó, muốn làm cái khó, hãy tập làm từ cái khó ít, tập cho quen, dần dần có kinh nghiệm mới vượt qua cái rất khó được. Vượt trở ngại vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật. Chớ cậy tài, cậy giỏi mà khinh thường : Quét sân chưa biết cách làm sao cho khỏi bụi, làm sao cho đỡ mòn chổi, trồng rau phải làm sao cho cây rau to, lá mập, suy nghĩ còn non nớt như vậy thì việc tốn công, tốn sức như gành nước, hái củi, dù có thành công thì vẫn chưa là người tài cán.

Bí quyết vượt khó từ đâu mà đến ? Từ chính ta chứ không phải do người ngoài giúp . Phải tự tìm tòi, sáng tạo, tìm ra chỗ yếu của địch, chỗ mạnh của ta mà khai thác. Rau mọc không đều vì sao ? Vì thiếu nước, thiếu phân ? Bụi hay vì quét ngược gió hay vì vung tay mạnh quá ?

Trí khôn là sức mạnh vô biên, chỉ vì ta không biết khai thác nên trở ngại còn nhiều.

"Nếu phải đường đời bằng phẳng quá,
Anh hùng, hào kiệt có hơn ai?" P.B.Châu

Hãy cố gắng để khai thác hết tiềm năng, nội lực của ta, rồi trời sẽ giúp sau như câu tục ngữ Pháp nói “Hãy tự giúp, trời sẽ giúp ( aide – toi, le ciel t’aidera)”, Einstein cũng nói : “Thiên tài gồm 99% là mồ hôi, chỉ một phần là may mắn”.

May mắn là sự thành công không rõ nguyên nhân, ta gọi là do trời, tại trời. Thánh kinh nói rõ hơn về thế lực siêu nhiên này : “Thử thách anh em từng gặp, không hề quá sức chịu đựng của anh em đâu !... Thiên chúa cũng chừa cho lối thoát để anh em đương đầu nổi” (16a – 10,13)

Cố gắng đưa đến thành công rồi cũng đừng tự mãn, sự tự mãn đưa đến khinh thường đối phương, đưa đến chủ quan, sẽ dễ thất bại ở lần sau; chí ít là cũng tự đánh giá hạn hẹp về. Phải cố gắng luôn luôn để khẳng định tài năng của mình : Núi không tới ta, thì ta tới núi. Thử thách luôn là phép thử.

May mắn là sự thành công không rõ nguyên nhân, ta gọi là do trời, tại trời. Thánh kinh nói rõ hơn về thế lực siêu nhiên này : “Thử thách anh em từng gặp, không hề quá sức chịu đựng của anh em đâu !... Thiên chúa cũng chừa cho lối thoát để anh em đương đầu nổi” (16a – 10,13)

Hãy ngẫm nghĩ câu nói của Nguyễn Du: có trời mà cũng có ta. Đừng há miệng chờ sung, hãy tin ở mình trước, con người luôn là trung tâm của mọi thành bại.

Tháng 4/2016


Về đầu trang


Dư Luận

Thầy Phạm Văn An

Một họa sỹ muốn biết rõ tài năng của mình. Ông thầy bày cho anh một cách : Hãy vẽ một bức tranh công phu, rồi đem ra quãng trường đông người qua lại xin ý kiến : với tờ giấy dán dưới : “Xin quý vị gạch chéo vào chỗ nào mà quí vị thấy còn khiếm khuyết, cây bút cài bên cạnh”.

Chiều hôm đó, đi kiểm tra, ông thấy có 2 gạch chéo. Sáng hôm sau thêm 3, buổi chiều, thấy gạch trên 10 chỗ. Chiều ngày hôm sau, bức tranh chìm trong gạch chéo, ông mang bức tranh về, than thở với thầy. Thầy khuyên ông vẽ một bức tranh khác, đơn sơ hơn, mang để lại chỗ cũ với dòng chữ : Xin quý vị nếu thấy màu chỗ nào không hợp, xin tô lại bằng màu khác, hộp màu và cọ để phía dưới. Chiều hôm đó ông ra xem, chẳng ai sửa hộ và cả tuần sau cũng vậy, bức tranh còn nguyên màu ban đầu.

Ông mang chuyện trình với thầy với tâm trạng rối bời. Thầy hỏi ông :

- Lần trước, người ta sửa tranh, anh buồn hay vui ?

- Thưa thầy buồn – Người họa sỹ đáp.

- Tại sao ?

- Vì công phu và tài năng của con không được đánh giá đúng mức.

- Còn lần này ?

- Con lại buồn hơn.

- Vì sao ?

- Vì bức tranh tồi như vây mà chằng ai nhìn ra !

Ông thầy cười, vỗ vai người học trò, rồi nhẹ nhàng cho ý kiến : “Con chẳng vội buồn hay vui trước sự phê phán của đám đông . Họ hồ đồ, nông nổi, làm theo lẽ “bầy đàn” chứ không suy nghĩ phải trái.

- Trường hợp đầu, lời đề nghị dễ đáp ứng quá mà ! Chỉ gạch chéo thôi, thì ai cũng sẵn sàng. Gạch chéo đầu tiên, có khi là của một đứa trẻ nghịch ngợm, rồi sau đó thấy người gạch được thì ta cũng gạch được… Con có để ý, trong một đám đông cuồng loạn, một người “hoan hô” thì cả đám cũng “hoan hô” kẻ kia xoay chiều “đả đảo” thì tiếng “đả đảo” rầm vang. “nhất hô vạn ứng” là vậy đó.

Còn trường hợp sau, lời yêu cầu cần sự suy nghĩ, có phải ai cũng là họa sỹ đâu mà sửa tranh được. Còn nếu gặp họa sỹ thật, anh ta cũng chẳng vội vàng sửa, vì “ta giỏi còn người khác giỏi hơn” anh ta e ngại. Vả lại, hơi đâu mà làm một việc mất thời giờ mà chẳng ích lợi gì cho mình. Khi cần suy nghĩ là người ta nghĩ đến câu : ‘Biết mình, biết người”, và e dè góp ý.

- Trước một dư luận, thì ai là tác giả và để làm gì ? Dư luận tạo nên bởi sự truyền lan vô thức. Tác giả đầu tiên của nó đã trốn biệt khi dư luận đã thành hình.

Dư luận có ích lợi gì cho người tung tin ? Phải có ích cho họ, hơi đâu tung tin vô ích. Thường đó là mục đích xấu , làm hại người khác; một cách hiệu quả mà tốn ít công.

- Người ta thường nói : có lửa mới có khói. Ở đây không thấy lửa mà khói mù mịt khiến người trong cuộc không sao hiểu được.

- Muốn tạo nên đám khói dư luận, thì tin phải “giật gân”, gây tò mò, nên dễ lan truyền. Càng giật gân thì dư luận tạo ra càng lan rộng và tạo kết quả lớn, vì nó đã chạm đúng vào cái huyệt “nói xấu” của con người.

- Trước dư luận như vậy, ta làm sao ?

Phương ngôn phương tây có câu : “chó sủa mặc chó, đoàn người cứ đi” Nếu chó đứng im mà sủa, thì “cứ đi”, rát tai một chút, nhưng việc ta ta cứ làm. Nhưng cẩn thận: một con chó sủa, là các con chó nơi khác nghe tiếng, sẽ sủa theo, rồi chẳng mấy chốc có một đàn chó cùng sủa, lúc đó người đi sẽ hoảng hồn, loạng choạng rồi quẫn chí, chẳng biết nên đi hay nên “dọa chó”. Nguy hại sẽ xảy ra khi ta ra tay, đó là cớ tốt để đàn chó cùng xông ra nhe răng muốn thịt ta. Đàn chó sủa to có thể kéo theo đoàn người tứ phương ập tới, vì chó sủa đồng nghĩa với có biến, có trộm. Nếu vô phúc có tiếng hô hoán “trộm” hay “kẻ giết người” đoàn người không ngại ngần cho ta ăn đòn, ăn đòn đến nhừ tử mà chẳng “thanh minh”, “cải chính” gì được. “Chờ được vạ , mà đã sưng”, có khi rụng cả răng. Lại có người vững tin trước dư luận, họ dẫn lời Phật nói : “Chỉ có ta làm cho ta tốt, không ai khác; chỉ có ta làm cho ta xấu, chẳng ai ngoài ta”. Trong một xã hội mà truyền thông (trong đó có tin đồn) rộng khắp như hiện nay, dư luận là một sức mạnh nên dè chừng, vì khi dư luận đã lan khắp một cách mau chóng, thì ta cải chính không hiệu quả, vì người ta đã nghi ngờ. Người ta đang ồn ào đòi facebook phải ngăn cấm và kiểm soát tin, nhưng nguyên tắc “tự do ngôn luận lại đứng về phe người tung tin, và luật pháp khó có đủ lý do để ngăn cấm.

- Dư luận còn được dùng dưới nhiều dạng khác, khiến người nghe lạc vào “mê hồn trận” khó thoát ra, có khi còn quay cuồng, điên loạn trong sai, đúng.

- Quảng cáo là cách tạo dư luận được dùng nhiều nhất : nói đi, nói lại, nói mãi rồi, nhàm tai rồi thì thành một sự hư, thật lẫn lộn khiến người nghe “thử” xem sao : Hàng giả, hàng nhái, hàng cho không, tiền cho không qua tin nhắn, đầy rẫy trên mạng, ngoài chợ, trên ti vi, và cũng nhiều người tin rồi sập bẫy.

- Trong chính trị : biểu tình, phát tờ rơi, bịa ra tin như thật, đó là chiêu bài tâm lý chiến, chính quyền nào cũng dùng, vì để tạo dư luận có lợi cho mình.

Hãy là nhà thông thái tiêu dùng là khẩu hiệu đang được dùng, nên thêm : hãy là người tỉnh trí khi nghe tin.

Tháng 8/2017


Về đầu trang


Đàn Bà Thật Rắc Rối

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY:
ĐÀN BÀ – THẬT RẮC RỐI ! (1)

Đây là vấn đề muôn thuở mà cứ mỗi khi buồn tình, cánh đàn ông - nhất là có chén rượu bên cạnh, thường ca cẩm. Khen thì ít, hoặc rất ít mà chê thì nhiều rất nhiều… Sao vậy nhỉ ?

Kinh thánh, phần cựu ước cũng có nhiều đoạn phê phán người đàn bà. Xin trích vài đoạn làm chứng.

Những cuộc cãi vả của người đàn bà như máng xối chảy không ngừng (CN 19 - 13 - 14) ­

Thà ở góc mái nhà còn hơn ở chung nhà với người đàn bà lắm điều, nhiều chuyện ( CN 21 - 9 )

Thà sống nơi hoang địa, còn hơn phải sống với người đàn bà lắm điều và u sầu ( CN – 14 – 24)

Kinh nghiệm của người xưa, từ hơn hai nghìn năm trước xem ra vẫn đúng với ngày nay… cái lý của người đàn bà là không lý. Họ sống bằng cảm quan nhiều hơn bằng lý trí. Do chủ quan, họ coi là đúng, điều mà người khác thấy là sai rõ ràng. “Em nói được mà” “cứ làm theo ý em đi”, chắc các ông quá quen câu nói này. Nhiều sự quyết đoán của họ làm cánh đàn ông giật mình, ngơ ngác. Cái “lý mà không lý” của họ đôi khi lại đem đến thành công vẻ vang không ngờ. Cứ cho các bà làm “giám đốc” đi, Công ty có khi lên như cánh diều gặp gió, vì họ dám làm – hình như bằng linh cảm – điều mà các ông – suy tính quá – không dám. Thấy bà “quyết” bạo, mấy ông giám đốc khác ngạc nhiên, không dám nhúc nhích hoặc rút lui, thế là bà không có đối thủ, thắng là cái chắc. Nhưng nhiều khi diều gặp gió bão, đứt dây thì công ty sạt nghiệp; điều này đã xảy ra, khi đó bà bình thản đổ : tại…tại… thế cũng xong.

Cựu ước cũng có câu :

Đừng trao khí lực cho đàn bà và đừng trao cuộc sống của con cho kẻ đã làm hàng vua chúa hư hỏng ( CN 31 - 2 - 5 và 6 - 9 )

Bởi môi miệng vợ người khác tiết ra mật ngọt và lời của nó trơn tru hơn dầu, nhưng rốt cuộc nó đắng hơn khổ ngãi và sắc bén như gươm 2 lưỡi (CN 5 -1 – 6)

Đừng ghen người đàn bà lòng con ấp ủ, kẻo gợi cho nó những điều manh ác trên con.

Đừng phó hồn con cho vợ, kẻo nó xéo cả trên đầu con

Đừng lại gần gái giang hồ (HC : 9 -1 – 9)

Lời cảnh giác này dành cho phái mày râu, như vậy đàn ông là kẻ khù khờ, ngớ ngẩn, dại dột, dễ bị đàn bà lừa dối.

Ông Lý minh Tuấn khi giải thích những điều trên ( Sách kinh thánh qua cái nhìn từ phương Đông ) cho rằng đó là sự thật, chứ không phải là lời khích bác, hạ giá đàn bà. Tôi lại nhớ tới đoạn trong kinh thánh nói : lúc đầu, thiên chúa tạo ra ông A dong cho ở vườn địa đàng vui sướng, thấy ông buồn thiu, bèn tạo thêm bà Eva thả xuống vườn, ông vui hẳn, rồi bà Eva theo lời con rắn, rủ rê ông A dong ăn trái cấm…từ đó trái đất và con người nên nông nỗi này.

Phật giáo không trực tiếp nói về người đàn bà, nhưng trong các giới luật cho người xuất gia, điều ngăn cấm nam tu sĩ bao giờ cũng ít hơn cho nữ tu sĩ. Càng ở bậc cao, giới cấm càng tăng thêm, có lúc ở người nữ tu gần như gấp đôi ở nam tu sĩ. Có lẽ Phật cũng nhận ra “thói hư tật xấu” của người đàn bà quá nhiều, nên khắt khe như vậy, chẳng qua là để giúp nữ tu sĩ đắc quả tu.

Còn Ông Khổng thì dùng tuyệt chiêu. Ông hạ bệ đàn bà ngay lúc đầu : “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (1)

Và vây bủa người phụ nữ mọi lúc, mọi nơi, nào là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (2)

Rồi “Phu xướng , phụ tùy” (3)

Dân gian thì hình tượng hơn, bằng câu phê phán : thứ “đái không qua đầu ngọn cỏ” thì làm nên gì ! Hình như sự trói buộc lại có mặt tích cực. Người phụ nữ đông phương mất dần các cá tính mà cựu ước nêu ra ( vì nếu hễ ló ra cái “nết” đó là bị dẹp ngay) Lại do tính chịu đựng dẻo dai, tính tỉ mỉ, cẩn thận, tính chăm chỉ hiếm có, các bà đã biến khuyết điểm thành ưu điểm và thành công trong sự vun quén hạnh phúc gia đình.

Trần tế Xương nói về vợ :


Tiền bạc phó cho con mụ kiếm
Ngựa xe không có lúc nào ngơi

Và:


Quanh năm buôn bán ở ven sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.

TTrên thế giới, chẳng có chức quan nào như ở Việt Nam . Chức “nội tướng” chỉ cương vị người đàn bà trong gia đình ( bà tướng trong nhà ) một tay quán xuyến, tay hòm chìa khóa : Ruộng sâu, ao cá, trâu nái, vườn trà là do công một mình bà tạo nên.

TLại còn từ “hiền thê” ôi sao mà thơ mộng vậy ! Hai từ này mà dịch ra tiếng nước ngoài (4) thì không sao dịch sát nghĩa được.

TNhưng cũng phải nhận rằng : Cái nét đẹp này là do giáo dục gia đình tạo nên. Các cụ nói : “lấy vợ xem tông” là đúng. Người con gái dễ hấp thụ gia phong hơn người con trai và nếu được dạy bảo thì họ có những đức tính tốt đẹp đến phải ngưỡng mộ.
Bảo Lộc, Việt Nam
Chú thích :


(1) Gửi anh Nguyễn hoàng Sơn
(2) Ở nhà thì tuân lời cha, lấy chồng thì tuân lời chồng, chồng chết thì nghe lời con.
(3) Chồng nói (ra lệnh) vợ nghe theo (tuân hành)
(4) Chữ Hiền đây không phải là hiền lành, dễ bị bắt nạt. Hiền đây trong chữ Hiền triết, hiền nhân, hiền từ : lòng bao dung, thông cảm thương xót.


Về đầu trang


Đạo Đức Khổng Mạnh Và Nhà Thơ Vi Khuê

Thầy Phạm Văn An

Bàn về đạo đức Khổng Mạnh, thì cần một tập sách dày, Ở đây nhà thơ Vi Khuê gói gọn trong một bài thơ : bài Khổng Tử.

4 câu đầu , tác giả viết :

Mỗi ngày tôi đều gọi tên Ông một lần

Và không biết nói gì hơn là thầm cám ơn Ông,

Ông Khổng Tử

(Khổng Tử)

Mỗi ngày… đều… một lần.

Đều là đều đặn, ngày nào cũng vậy : một sự tưởng nhớ, một tấm lòng thành kinh như khi người ta đọc kinh nhật tụng hàng ngày để luôn nhắc nhở điều phải suy nghĩ, phải tâm niệm để thực hành.

Tác giả luôn nhớ tới Khổng Tử để rồi :

Không biết nói gì hơn

Vì chẳng lời nói nào diễn tả cho được công lao của vị “Vạn thế sư” trong việc đã tạo nên một mô hình hoàn chỉnh cho gia đình – gia đình Đông Phương, trong đó có gia đình Việt Nam.

Nên, tác giả

Thầm cám ơn Ông

Ông Khổng Tử

(Khổng Tử)

Thầm – nói trong lòng – bằng cả tấm lòng.

Một tình cảm ngưỡng mộ thật trân trọng và quí hóa .

Ảnh hưởng đạo đức Khổng giáo ở Việt Nam đã được thiết lập từ lâu, như tác giả viết :

Cách đây trên 2.000 năm

Ông đã bỏ tù tổ tiên tôi

Trong chiếc nhà giam

Thật êm ái !

( Khổng Tử )

Để định niên một cách rõ ràng sự truyền bá của tư tưởng Khổng giáo ở Việt Nam, là điều còn nhiều tranh cãi.

Lịch sử cho biết : Khi nước Nam Việt của Triệu Đà (một nhà nước đầu tiên và rõ rệt nhất được thiết lập ở nước ta) sụp đổ, Việt Nam trở thành thuộc địa của Tàu và chính quyền Trung Quốc đã phái các quan đô hộ sang đây để cai trị thuộc địa, gọi là quan Thái Thú. Trong các thái thú, thì Sĩ nhiếp được người bản địa yêu mến nhất, được gọi là Sĩ Vương, chứ không gọi là thái thú. Sự quí trọng Sĩ nhiếp còn lưu lại vết tích trong việc thờ cúng Ông ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay. Sĩ nhiếp đã mang tư tưởng Khổng giáo truyền bá trong dân và kết quả là địa bàn Ông cai trị, trật tự được vãn hồi, dân chúng được ấm no. Dân khi đó chỉ biết đến tư tưởng Khổng giáo, áp dụng tư tưởng đó vào lối sống và đã đạt được hạnh phúc mong muốn, họ đã ở trong “nhà tù”(1) Khổng Mạnh và cảm thấy “thật êm ái” (1), nếu lấy định mốc này, thì Khổng giáo đã du nhập vào Việt Nam trên 2000 năm như tác giả xác định.

Mục đích chủ yếu của Khổng giáo là thiết lập một trật tự cho quốc gia, xã hội và gia đình; phương tiện và là bí quyết của triết lý này là chữ NHÂN (nhân đạo, đạo làm người) vì con người mà sống, sống cho con người, sống cho tha nhân, không vì mình (như cá nhân chủ nghĩa) cụ thể hóa của chữ nhân là nghĩa vụ (bổn phận)cái ta phải làm cho người khác – bắt buộc phải làm, chứ không phải muốn hay không muốn – phải làm cho người khác để mưu hạnh phúc cho họ và kẻ khác cũng làm cho ta, như vậy hành động của mọi người là MƯU CẦU HẠNH PHÚC CHUNG.

Về tâm lý, sự bắt buộc mới đầu sẽ gây ra khó chịu cho người thi hành, nhưng lâu dần sẽ quen và sẽ cảm thấy bình thường. Cho nên hơn 2.000 bị “bỏ tù” (1) trong “chiếc nhà giam” (1) đầy bổn phận của nho giáo, mà vẫn thấy cuộc sống “thật êm ái” vì thấm nhuần ý nghĩa của “nghĩa vụ” ta sẽ thấy đó là đức vị tha, lòng thương yêu, nên làm xong một bổn phận, ta cảm thấy một niềm vui phơi phới, chứ không có cảm giác khó chịu vì ép buộc, tiếp đó sẽ hăng say hơn trong những bổn phận tiếp theo.

Khi Nguyễn công Trứ viết :

Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,

Không CÔNG DANH thì nát với cỏ cây.

Thì công danh không phải vì mình, mà vì người khác, vì quốc gia, dân tộc (trung hiếu) biết rõ cái bổn phận đó là chính đáng nên Ông “hăm hở ra tài kinh tế” (2)

Còn trong gia đình, nghĩa vụ lại vận hành theo một đường lối khác – Khép kín giữa những người thân, người cùng máu mủ, ruột thịt – Dòng máu đã tạo nên sự thương yêu sâu sắc và thiêng liêng cho người thi hành bổn phận, do đó mới tạo nên những thứ tình nghĩa đáng tôn thờ, ca ngợi như tình phụ tử, tình mẫu tử, nghĩa huynh đệ v.v.. Trong đó nổi bật nhất là tình mẫu tử. Ta có thể thấy nay trong các vần thơ của tác giả Vi Khuê :

Tình con yêu mẹ, mẹ yêu con

Không ĐẮN ĐO, không chút BUỘC RÀNG

Không hỏi vì sao, không muốn hỏi

(Khi con còn nhỏ)

Tình mẫu tử thăng hoa đến độ “Không đắn đo”,”không ràng buộc” (1), Một tình cảm tự nhiên, như một chân lý nên “không hỏi vì sao”, “không muốn hỏi”

Hay : Năm tháng phôi pha người chẳng đổi

Tình con – mẹ vẫn rất thiên đàng.

( Khi con còn nhỏ )

Tình mẫu tử luôn nguyên vẹn, dù năm tháng phôi pha (1) mà thay đổi làm gì khi tình cảm đó đã “rất thiên đàng” (1).

Tác giả khám phá ra cái thiên đàng này khi được làm mẹ.

Ôi sao sang quá tôi là mẹ,

Ngự giữa thiên đàng đó là con

( Thiên đường nhỏ )

Chưa là mẹ thì “không sang” đã là mẹ thì cuộc đời “mới sang” vì đã được ở giữa thiên đường là đứa con.

Để hiểu rõ hơn, ta đọc những vần thơ sau của tác giả :

Tình yêu thuở ấy là con – mẹ,

Là cõi chim xanh, cõi bướm vàng,

Và bà đánh giá con là :

Con quí, con cưng, con phượng hoàng,

Con đến như trời ban phước xuống

Con nằm nôi nhỏ rạng hào quang.

( Khi con còn nhỏ )

Có những từ trừu tượng (nghĩa không đong, đếm được) dùng mãi thành sáo ngữ (vô nghĩa) nhưng ở các câu thơ trên các từ trừu tượng như cưng, quí… lại đắc địa, vì không từ nào khác có thể thay thế để diễn tả đạt hơn vì với sự tuyệt đối hóa sự yêu con, các từ này phải lấy tâm mà ngộ, chứ không thể lấy trí mà hiểu ( như chữ Không trong kinh Phật )

Hạnh phúc là từ con, không gì hơn thế

Hạnh phúc đôi khi cũng đủ đầy,

Như vầng trăng giữa độ tròn no

(Thiên đường nhỏ)

Và đó là hạnh phúc đích thực

Tôi xin ôm lấy thiên đường nhỏ,

Và trả cho người ảo mộng xưa.

( Thiên đường nhỏ )

Con là thiên đường của mẹ rồi nối tiếp là cháu cũng là một thiên đường.

Bàn chân nho nhỏ bước ra chơi

Tương lai cháu ngoại đã cười rạng đông

( Líu lo )

Tác giả có một bài thơ ngắn nói về con – Bài mặt trời – tôi chỉ hiểu lờ mờ tấm lòng của tác giả, khi nhận được thư con :

………..

Nói rằng

Tóc con đã bạc rồi,

Bà mẹ già HỐT HOẢNG trèo lên giường nằm để cho giòng lệ tự do trôi

Trên khuôn mặt phủ đầy niềm sợ hãi không tên tuổi chỉ vì con “tóc đã bạc”

Mà mẹ “HỐT HOẢNG”(1) để “GIÒNG LỆ TỰ DO TRÔI” (1)

Khuôn mặt “ĐẦY SỢ HÃI” (1)

Tóc con đã bạc – theo tôi – là chuyện nhỏ, bạc thì nhuộm có sao đâu !

Tôi nhớ có một lần, mẹ tôi cũng làm “toáng” lên vì một việc “bé tí teo” : cháu đích tôn của bà té – sây sát chút xíu – thế mà bà rên lên, la rầy người lớn, rồi bà bỏ ăn, ngồi im một chỗ. Bố tôi nói : “mẹ chúng mày lại dở chứng rồi đấy”. Chúng tôi thấy bà yếu cứ ái ngại, hỏi bà thì bà nói : “mẹ chẳng sao vẫn khỏe”, Đấy các bà mẹ Việt Nam hay “dở chứng” như vậy. Việc của con cháu thì bà “quan trọng hóa” Còn việc của bà thì bà “bất biết”. Về phần người con được hưởng tình yêu thương vô bờ bến của mẹ, gương hy sinh của mẹ cũng đánh động đến hồn người con, rồi người con cũng nảy sinh tình yêu mẹ tha thiết:

Thỏ thẻ lời con nói dễ thương,

Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ PHI THƯỜNG

Mẹ thơm hơn cả mùi hương phấn

Mẹ vàng, mẹ ngọc, mẹ kim cương

( Khi con còn nhỏ )

Những khi mẹ khóc, con khuyên nhủ,

Xin mẹ đừng nên quá yếu mềm.

(Khi con còn nhỏ)

Tình cảm vốn có gốc chủ quan, có khi chủ quan quá, thành lệch lạc. Người con, dù ở tuổi đang biết “chuyện đôi lứa” nhưng thương mẹ quá nên vẫn xếp “hình bóng đó” ở vị trí thứ 2, sau mẹ.

Người yêu ai chẳng có người yêu

Với chàng, con nói câu tâm sự

“Ôi mẹ mình, thôi, quá diễm kiều”

Trong khi đó, Thánh kinh lại nói đại khái : Từ đây, người sẽ tách khỏi cha mẹ, mà hòa nhập với người yêu dể trở thành Hai mà Một.

Tình mẫu tử là nét đặc sắc của người phụ nữ Việt Nam. Càng thấm nhuần đạo đức Khổng Mạnh thì tình cảm ấy sẽ san sẻ cho người thân trong một chừng mực nào đó : Trung tâm là con rồi cha mẹ, chồng, người thân và cho đến cả những người quen biết.

Ca dao có câu :

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Ảnh hưởng đến câu thơ của Vi Khuê khi nói về mẹ :

Thấy giải nước trong, tưởng mẹ già,

Một đời tuôn trải giữa trần sa.

(Mẹ)

Rồi thì Bà nhớ lại bao kỷ niệm về mẹ :

Mẹ ơi! Thân xác mẹ còn đây

Một nửa hồn sa kỷ niệm này

Một nửa hồn kia còn níu lại

Những niềm đau khổ quá sâu cay.

( Một đời đau khổ làm nên mẹ)

Rồi tác giả nguyện cầu cho mẹ

Con mong tin mẹ về phương Phật,

Lồng lộng mây cao, cánh hạc hồng

Con sẽ đốt lên trời sáng rực

Bài thơ thương mẹ quá là thương.

( Một đời đau khổ làm nên mẹ)

Rồi đến cha :

Thấy núi âm thầm tưởng bóng cha

Nghìn trùng tịch mịch giữa bao la.

Rồi tình thương cha của tác giả sâu lắng :

Thanh sơn còn đó xanh lòng mẹ

Như nỗi niềm kia mãi mãi là.

( Cha )

Và đây là tình bạn, tình đồng hương

Cứ tưởng một ngày xa cách nhỉ

Gặp nhau chẳng gọi cố nhân, à ?

( Cố nhân )

Với cả bà hàng xóm Mỹ cô đơn

Vội vàng, tôi nói cám ơn ôi !

Cảm động làm sao ở xứ người

Không phải cố tri mình gặp gỡ

Mà người hàng xóm rất xa xôi

( Bà hàng xóm Mỹ )

Nhặt đó đây vài vần thơ của Bà, ta thấy bóng dáng nhà thơ qua tấm lòng của Bà. Bà đã chọn một cuộc sống với vai gánh nặng nề chữ bổn phận của Nho giáo và đã làm tròn trách nhiệm đó.

Những người chấp nhận “trách nhiệm” đều là những người “vĩ đại” vì họ đã vì người khác mà sống một cuộc sống đáng sống vì được người khác luôn nhớ tới.

Cuối bài “Khổng Tử” nhà thơ, một lần nữa, đặt niềm tin vào những giá trị trong đạo lý Khổng Mạnh

Chúng tôi,

ngày nay

không ao ước gì hơn,

Một chiếc nhà giam êm ái đó

Vì cả đời “giam mình”(1) trong nhà giam đó và để cảm thấy nó “êm ái” (1) nên tác giả “ao ước”(1) cho “ngày nay(1) có cái nhà giam đó, nhưng tác giả có một chút thất vong

Chúng tôi

ngày nay,

hèn mọn

bơ vơ

Ta nhớ tới tâm sự của Tản Đà đầu TK 20 khi nho giáo ở Việt Nam sụp đổ và văn hóa Tây phương tràn ngập

Văn minh Đông Á trời thu sạch

Nay lúc cương thường đảo ngược ư ?

Tản Đà đã chứng kiến sự suy sụp của văn hóa Khổng Mạnh và Ông cũng bất lực.

Thôi thôi, có trách chi đàn trẻ

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi

( Vịnh bức dư đồ rách )

Và Tản Đà cùng thế hệ Ông cũng không “bồi nổi” bức dư đồ đang tả tơi đó.

Từ khi nền văn minh cá nhân của Tây phương ồ ạt đổ vào Á Châu, con người ở đây – nhất là thế hệ trẻ - cảm thấy được giải phóng. Con người tìm lại được cái “Tôi” của mình và muôn vàn cái “Tôi” đó đã hợp lực để hạ bệ Cụ Khổng cùng môn đệ của Ông, vì họ cho đó là những giá trị đã lỗi thời.

Từ đây, nhiều nhà phê bình cũng đã lên tiếng. Họ thấy rằng Khổng giáo đặt con người vào trọng tâm cuộc sống thật, nhưng những ràng buộc mà Khổng giáo đặt ra lại đã kìm hãm con người, biến con người thành nô lệ của chính mình.

Chẳng phải đợi đến hôm nay, cùng thời với Khổng Tử, Lão Tử đã bác lại cái triết lý trói buộc của Khổng Mạnh bằng cách chủ trương một cuộc sống tự do, không trói buộc đó là thuyết “Kẻ thông minh mà sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người. Kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy đến thân vì hay nêu cái xấu của người. KẺ LÀM CON, LÀM TÔI thì không có cách gì để giữ mình cả” (Lão Tử đạo đức kinh)

Các nước Đông Á, đã bao nhà lãnh đạo muốn hạ bệ Khổng Tử để thay thế bằng một mô hình xã hội khác, nhưng các thử nghiệm, cho tới nay, đều không thành công. Đạo đức gia đình đây đó – quốc gia và gia đình – bị phai mờ, nhưng gốc của nó vẫn trên nền tảng của Khổng giáo: Gia đình chứ không phải cá nhân là nền tảng của xã hội.

Với dòng thời gian, ta hãy chờ xem, cái gì sẽ thay thế cho mô típ gia đình Khổng giáo.

Chú thích :

Các số (1) Đều là từ mà tác giả Vi Khuê dùng

(2) Thơ Nguyễn công Trứ

Tháng 7/ 2016


Về đầu trang


Em Ơi

Thầy Phạm Văn An

Cuộc đời, ai cũng có những giấc mộng : Ước mơ dài dần với cuộc sống. Sống là để mơ, mơ mới sống nổi. Trong kiếp trần ai dài dằng dặc, những giấc mơ xua tan nỗi chán chường, vì mơ là thỏa lòng ước muốn, mà sống thì ai chẳng “muốn”.

Nếu “muốn gì được nấy” thì thích biết bao !. Có lẽ điều này chỉ các trẻ nhỏ mới có được vì các bé ước muốn giản dị và được mọi người sẵn lòng chiều chuộng.

Càng lớn ước mơ càng cao, càng nhiều và càng phức tạp, mà mọi người ai cũng mơ, nên ta phải tự mình thực hiện ước mơ của mình, chứ chẳng nhờ vả ai được. Nếu mộng không thành thì sao ? Lời than thở cho thấy ta không “nắm chắc” (vì còn chữ nếu, mà tục ngữ Pháp có câu : chỉ với chữ “nếu”, người ta có thể nhét cả thành La Mã vào trong cái chai) nên luôn luôn ta sợ “vỡ mộng”.

Mơ thì dễ quá mà ! Nó lại rất hợp với cái tâm luôn bay bổng của ta : mơ này chưa xong đã có mơ sau tiếp nối trong tâm thức, càng mơ càng xa thực tế và càng khó thực hiện. Mơ xa thành mơ ảo ( ảo giác, ảo vọng ) mơ cao đến tận trời, thì khi té xuống, thật ê ẩm, tê tái ! Có những ước mơ điên cuồng, không kiểm soát được đó là sự mê lầm trong vô minh, đem lại đau khổ cho chính người mơ và tai họa cho người khác.

Xã hội bon chen, chao đảo, quay cuồng rồi tan tành vì mộng tranh bá đồ vương, mộng giàu sang phú quí chỉ của một vài cá nhân. Giấc mơ đẹp là giấc mơ cho người khác, đó là giấc mơ của các vĩ nhân, của các nhà khoa học chân chính, họ muốn cải tạo xã hội, đẩy nền văn minh đến độ cao hơn, những người có giấc mơ này thường có bộ mặt chẳng dễ thương chút nào : đầu bù, tóc rối, quần áo nhếch nhác, thầm thì suốt ngày với chính mình, đôi khi quên cả sự hiện diện của mình : quên ăn, quên ngủ, quên tất cả chỉ còn giấc mơ dang dở đang hình thành. Nhân sinh, mặc dù vắn như gió thoảng, như mây bay, nhưng nhớ rằng: ta chỉ sống có một lần và đời chỉ đẹp khi có mộng đẹp.


Khi mơ, những tiếc khi tàn,
Tỉnh trong giấc mộng, muôn vàn cũng không


(Chinh phụ ngâm)

Không có được mộng lớn thì xây mộng nhỏ; nhỏ cũng chẳng thành thì mộng tí xíu cũng được để dễ thực hiện và phải cam kết với chính mình là là thực hiện cho được trước khi chết; đó là những bông hoa nhỏ ta tặng cho đời, ta trả ơn đời vì đã sống trên đời, để rồi khi nắp áo quan đã đóng, ta nhận những bông hoa mà người ở lại đặt trên nắp, ta khỏi ân hận về sự trả ơn của họ đồi với ta, và họ cũng nhẹ lòng tiễn biệt một con người sống không đến nỗi thừa trên thế gian này.

Nhìn lại trang Văn Học, thời gian có mặt chưa nhiều, nhưng các thành viên Văn Học đã có thể tự hào là đã tạo được những bông hoa nhỏ gài lên tấm biển Văn Học mà tôi thường thấy trong các đề mục của Văn Học, mỗi thành viên văn Học – kể cả những người ít lưu tâm đến sự hiện diện của trang web, không ai có thể bảo rằng truyền thống Văn Học không còn, không hiện diện. Không những tồn tại mà trang Văn Học còn sẽ phát triển vì mọi người vẫn đang mơ và thực hiện miên một giấc mơ Văn Học trường tồn.

Tháng 11/2015


Về đầu trang






Powered by SmugMug Log In