Văn - Thầy Phạm Văn An-trang4 - VAN-HOC DALAT

Sự Hoàn Hảo

Thầy Phạm Văn An




PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
SỰ HOÀN HẢO

Sự hoàn hảo được ví như một vòng tròn hình học. Mỗi điểm trên đường tròn đều cách tâm, khoảng tuyệt đối. Nếu vòng tròn này được đặt trên một mặt phẳng hình học thì ta có một hình ảnh tuyệt đối của sự hoàn hảo. Vòng tròn sẽ lần đi khắp mọi nơi dễ dàng : lúc đầu chậm rồi nhanh, nhanh dần rồi rất nhanh, vì chẳng có lực nào ngăn nó lại. Vòng tròn sẽ tự mãn, ta là số 1; là duy nhất trên đời; mặc sức mà lăn trong khi vạn vật xung quanh đứng im hoặc chỉ chậm chạp di chuyển.

Chính vì vòng tròn có 1 cuộc sống “ chẳng giống ai”, nên nó “chẳng hiểu ai”, nó lăn nhanh qua mọi vật và mọi vật hiện ra “nhòe nhoẹt” trước mắt nó, với vận tốc “lý tưởng” của nó. Nó chẳng nhìn vật gì cho ra hồn : Hoa chẳng ra hoa, cây cối xô bồ, người vật lổn nhổn; nó khinh thường mọi vật xung quanh. Nó chợt thắc mắc : thế giới là vậy ư? Mọi vật là bóng ma sao? Ta tỉnh, người mơ, hay tâm ta điên đảo ? Vì mãi thắc mắc, nên vòng tròn chệch ra khỏi mặt phẳng, từ đó nó mang một khuyết tật : lẹm đi một chỗ, nó đi chậm lại, gặp một hạt cát, nó ngừng hẳn lại. Vòng tròn tự an ủi : nghỉ ngơi một lát, vội chi mà lăn hoài. Lúc đó nó có dịp ngắm cuộc sống xung quanh : Những đóa hoa màu không rực rỡ lắm, nhưng cũng đủ đẹp khiến môi mỉm cười, kìa một đám người lam lũ, có cả người khuyết tật, họ đang hớn hở vui cười cùng nhau bên một gánh hàng nặng. Khổ vậy mà họ cũng có nụ cười hạnh phúc. Vòng tròn lăn về phía họ, chẳng ai thèm hỏi. Vòng tròn tự hiểu là cái hoàn hảo của mình chẳng có giá trị gì với xã hội trước mắt. Họ không chia sẻ niềm vui của họ chọ cho vòng tròn chỉ vì vòng tròn “hoàn hảo một cách ích kỷ cho chính mình”. Từ đó, vòng tròn được một bài học : hòa hợp với mọi người mới là niềm vui, niềm hạnh phúc.

Trong cuộc đời, nhiều người ước muốn mình là số 1 nghĩa là phải đứng đầu, không ai hơn được mình, nếu không được như vậy, thì tìm mọi cách làm được như vậy : vài chục triệu đồng 1 cái bằng tiến sỹ. Nay người ta gọi nhau không bằng tên mà bằng những từ tượng trưng cho sự hoàn hảo. Thầy lang gọi là thầy thuốc nghe không sang, khi có từ bác sỹ, tưởng đã từ hoàn hảo rồi ( Bác : rộng lớn. Bác sĩ : kẻ sĩ hiểu rộng lớn, bí hiểm như cơ thể con người, ông ấy cũng còn hiểu được) Nay thì Giáo sư, Bác sĩ, Tiến sĩ khoa học, viện sĩ viện… nhà giáo nhân dân Nguyễn văn Tèo, nghe mà phát sợ.

Thật ra, cái hoàn hảo không có trên đời. Triết lý mà nói thì thế giới nhân sinh là cõi tương đối thì làm gì có cái hoàn hảo (tuyệt đối) trong cõi đời này. Anh giỏi, thì có người khác giỏi hơn, đôi khi lại đánh lận con đen “trong xứ mù, kẻ chột làm vua”, cái tôi là đáng ghét, tục ngữ Pháp nói thế, đáng ghét vì nó mù quáng , tự cao, coi thường người khác.

Một thời người ta bảo : “Ta làm theo cách của ta, không thèm bắt chước người khác” cứ theo câu nói “vàng” này, nên ta cứ lẹt đẹt mãi, đổi mới mãi, vài ba chục năm rồi vẫn thấy nói đến đổi mới, có nghĩa là cái cũ vẫn bám theo đuôi, nó không chịu rời xa, vì “ngày xưa…nó là hoàn hảo…thuở oanh liệt chẳng còn, nhưng vang bóng một thời không sao quên được”.

Tháng 4/2016

Về đầu trang

Tà Áo Tím, Nón Bài Thơ Và Mái Tóc Thề

Thầy Phạm Văn An

Trước 1975, tà áo tím, nón bài thơ và mái tóc thề là những nét duyên của Huế.

Nón bài thơ, dáng nhỏ, gọn và mỏng, còn nón làng chuông miền Bắc to, chóp nhọn và dày.

Chiếc nón bài thơ không phải chỉ để che nắng mưa mà hình như để tạo duyên cho người con gái Huế, vì nón không che khuất khuôn mặt người đội, nó chỉ làm đẹp cho khuôn mặt. Mặt trái soan thì bớt dài đi, mặt tròn đầy thì tôn lên vẻ phúc hậu. Chiếc nón nhẹ nên dễ chao đảo trước gió, khiến khuôn mặt thêm e thẹn, đáng yêu khi cô gái vén tay giữ nón, tay kia luống cuống tìm tà áo giữ lại. Một hình ảnh liên tưởng tới vũ khúc nghê thường trên cung Quảng, một hình ảnh nàng tiên vừa sa trần thế hay sửa soạn bay lên cõi Thiên thai, vì sợ kẻ trần gian nhận biết.

Nón bài thơ, một thời, là vật bất ly thân của cô nữ sinh Đồng Khánh ( nay là trường Hai bà Trưng ) cùng tà áo tím – Tím ngả sang hồng – một màu tím đặc trưng của Huế, nên gọi là màu tím Huế. Tà áo này đã bay vào một bản nhạc bất hủ của Hoàng Nguyên : bài Tà áo tím.

Nay thì tà áo này không còn – có chăng là những cô tiếp viên nhà hàng, công ty du lịch hoặc các đoàn trình diễn vẫn mặc, nhưng đã cách điệu nên không còn “bay bay” duyên dáng như xưa. Vả lại các nàng này cũng không ở trong độ tuổi “thơ ngây” để so với cô nữ sinh trường Đồng Khánh thuở nào.

Cái “huyền bí” của màu tím Huế là mới nhìn thì tươi tắn, khi có làn gió nhẹ, tà áo bay bay lại hiện ra một màu hồng nhẹ chạy dài theo tà áo. Nét lung linh. Duyên dáng thướt tha là đây. Dáng mảnh khảnh thêm mảnh khảnh và nét yểu điệu thục nữ cũng tăng lên từ tà áo lượn lờ trước gió.

Tôi đã để cả buổi sáng thứ hai (ngày các trường bắt buộc học sinh mặc đồng phục) đứng trước trường Đồng Khánh cũ, để họa chăng bắt gặp một tà áo tím. Tà áo dài thì vẫn còn, nhưng đã bạc hết màu. Khi các cô nữ sinh ra khỏi cổng trường, tỏa kháp nẻo, thì đố ai nhận ra được cô nữ sinh trường Đồng Khánh ? Tiếc cho tà áo mang đầy kỷ niệm một thời !

- Còn mái tóc thề thì sao ? à mà sao gọi là tóc thề ? Tôi chỉ còn nhớ có mỗi một câu trong bài thơ nào đó : “Tóc thề đã chấm ngang vai”. À, tóc thề là tóc dài đến ngang vai, nghĩa là người ta phải nuôi mái tóc từ bé đến khi nào lớn có mái tóc “chấm ngang vai” thì gọi là “tóc thề”, có lẽ phải đến 15 – 16 tuổi thì mới có mái tóc đó. Tuổi tóc thề hay tuổi trăng tròn có lẽ là một. Nhưng để ý thì thấy mái tóc thề, đa số là “bằng phẳng” nghĩa là có cắt tỉa ? Có thể là tóc dài quá lứa – có khi dài chấm gót – đẹp thì đẹp thật và ít ai để ( hoặc có ) mái tóc lướt thướt như vậy. Nhưng đó là mái tóc của người đã là “trên thiếu nữ”, nên người ta muốn giữ lại “thời thơ ngây” nên phải cắt bớt đi. Tôi cũng nghĩ đây là tuổi đã biết yêu đương, mà thiếu nữ xưa thường gửi gắm cho người tình lọn tóc nhỏ của mình để làm “vật tin” , cho nên tóc đã “được” cắt trong dịp này. Ngẫm thì cách nào cũng có lý – Tùy người đọc hiểu.

Xưa thì nữ sinh Huế, ai cũng để tóc thề và coi đó là điều hiển nhiên của một nữ sinh trung học. Nay thì vẫn còn – dù ít – nhưng vướng cái mũ bảo hiểm, nên mái tóc thề không được tự do bay nhảy như xưa, hoặc chỉ được tự do bay nhưng ở phần cuối. Vướng cái nồi cơm điện, nên sự bay nhảy của mái tóc thành sự “múa may, quay cuồng” loạn xạ, chứ không còn hình ảnh “tung bay” trước gió, đùa nghịch với gió như thể hiện tính tình nhu mì và nhí nhảnh của mái tóc thề xưa, vật bửu bối đã làm nên bề ngoài của cô gái Huế biến mất dần, nếu không nói là biến mất hết. Đi trên đường phố Huế bây giờ, chẳng thể dễ dàng nhận biết một cô gái thuần Huế. Một giọng nói líu lo mà áo quần hợp mốt thời đại, phóng xe như bay thì chát Huế của các cô đã giảm đi trên 60%, nếu không nói là 80% vì “chiếc áo làm nên thầy tu” Ông thầy tu mà bỏ chiếc áo của mình đi, thì tâm tính cũng “tục hóa” dần dần. Các cô gái Huế mất đi ( hoặc không dùng đến ) trang phục của thiếu nữ Huế cũng dễ thay đổi .

Nhưng nón Huế vẫn còn bán la liệt trong chợ Đông Ba.

- Đa phần là du khách mua về làm quà, nón Huế và kẹo mè xửng Huế vẫn là quà Huế đặc trưng cho du khách.

- Các mệ, các dì, các bà buôn thúng bán bưng vẫn ưa nón Huế, chẳng phải để thêm duyên mà cốt yếu để che nắng, che mưa như một thói quen. Họ không đội mũ hoặc che dù như ở các thành phố khác.

Thế mới hay một nét đẹp nào mà không còn phù hợp với hoàn cảnh, cũng có thể bị đào thải.

Nhưng tà áo tím và chiếc nón bài thơ thì vẫn có vẻ đẹp riêng; nếu người ta chịu nghĩ để cho riêng nữ sinh Huế vẫn được dâng tà áo dài tím, đội nón bài thơ Huế thì không những sẽ tăng thêm vẻ đẹp mà còn bảo lưu được một đặc tính truyền thống của người con gái đất thần kinh.

Tháng 12/2016

Về đầu trang


Tản Mạn Về Thiền: Học Thiền Ngày Nay

Thầy Phạm Văn An

Từ khi đức Thích Ca thành công với thiền, thì thiền trở thành một phương pháp tu hành căn bản của các tu sĩ phật giáo. Ngoài cách nghiền ngẫm kinh sách, các tu sĩ này dùng thiền để đạt được đỉnh cao của sự hiểu biết thâm sâu về lẽ đạo. Khi các nhà nghiên cứu Tây phương tiếp cận triết lý phật giáo, họ nhận thấy phương pháp thiền có thể áp dụng đại trà cho mọi người để khai mở miền vô thức thâm sâu mà vi diệu giúp con người tìm hiểu những điều mà con người còn đang vướng mắc. Thực tế hơn, là giúp con người gỡ rối cái đầu luôn bị khuấy đảo bởi vô vàn chuyện nhỏ, chuyện lớn của xã hội.

Rồi sang TK 20 nhất là những năm cuối TK, học thiền trở thành một phong trào rộng khắp, khởi đầu từ Tây phương rồi trở lại Đông phương, nơi quê hương của thiền. Thiền, lúc đó, như một mốt thời thượng : đi học thiền để chứng tỏ mình là người thức thời.

Những lớp thiền mở ra khắp nơi : thiền một buổi, thiền một tuần thì nhiều, còn thiền cả một khóa với các giảng sư đăng đàn thì ít hơn, nhưng cũng có đó, đây.

Người học thu lượm được gì trong các khóa tu đó ?

+ Trẻ con – như trẻ con Nhật Bản – trước giờ học, phải nhắm mắt để thiền, tai nghe nhạc êm dịu. Có lẽ người ta đã lợi dụng chữ thiền ở đây. Và kết quả không hơn là trẻ nhỏ tạm quên được sự nô đùa trước đó, để chăm chú ngồi vào học.

+ Dịp hè, nhiều khóa thiền mở cho học sinh : vừa tập hợp vui chơi, vừa học thiền. Hôm nào cũng nhắm mắt, hít vào , thở ra. Một khoảng thời gian ngắn rồi xả thiền, theo sau là chương trình khác. Khoảng thời gian tạm yên cho tâm hồn, lại bị xáo động trở lại.

Như vậy có là thiền không ? Đủ an tâm để vào thiền chưa ?

+ Người lớn thiền xong một thời, hỏi xem thu lượm được gì ? trả lời : cứ ngồi cho quen rồi “cái gì đến sẽ đến” , vậy là thiền để cầu “may” chứ không có mục đích rõ ràng. Cái “Trí vô sư” kia bao giờ được khai mở, bao giờ đến.

+ Còn đối với người trẻ, họ đang cần cái “Trí hữu sư” cần thầy dạy để đi thi. Cái “trí vô sư” kia còn xa vời với họ.

+ Những khóa thiền dành riêng cho doanh nhân thì sao ? Trí óc của họ đầy những toan tính lợi lọc, mà ta vẫn cho là “vô minh” thiền để đẩy lùi các toan tính đó đi chăng ? Như vậy họ sẽ hết là doanh nhân .

Các tỷ phú đô la như Bill Gate và ông chủ trẻ của Microsoft có cần thiền đâu mà họ giác ngộ đến tột đỉnh. Họ hiến gần như toàn bộ tài sản của họ cho công ích.

Lòng nhân ái ( như tứ vô lượng tâm của nhà Phật) vốn dĩ sẵn có trong tâm mọi người, họ đã thấy được sự giàu có của mình là một tội ác khi bên cạnh họ có một Châu Phi nghèo đói, có những bệnh tật đang dày vò con người vô vọng. Chính đây là cú hích mạnh, cú phang trời giáng khiến đầu óc của họ vỡ ra sự tỉnh ngộ; cú hích , cái phang này chẳng khác gì các công án mà các thiền sư xưa thường dùng với các thiền sinh chậm tiến. : một cái hét, một cú đạp, một cú đẩy, khiến sinh hết u mê.

Học thiền phải trường kỳ mới có kết quả, mà xã hội công nghiệp thì coi thời giờ quí hơn vàng. Ai dám bỏ thời gian phí phạm để mua cái sự bình an cho tâm hồn ? Nếu có, chỉ là hàng tu sĩ, nhưng khi đó, họ đã tách rời cuộc sống xã hội.

Có chăng, còn lại những người đã ngán đời, trải qua những kinh nghiệm ê chề, để cuộc sống còn lại không bị ác mộng chi phối thì học thiền sẽ giúp họ “một sự bình an”.

Còn học thiền chỉ để xả stress thôi, thì thế giới giải trí thiếu gì cách. Vì thiền xong lại trở về với thực tại, thì giải trí nhanh hơn và mất ít công sức hơn.

Đam mê cũng giúp khai phá tâm hồn tìm kiếm. VN cũng đã có nhiều học sinh mới học cấp II, mà vì đam mê đã sáng tạo ra nhiều công cụ giúp ích cho đời và đã được công nhận, tuyên dương.

Hiện nay, phong trào khởi nghiệp (start up) đã nở rộ trong giới trẻ toàn cầu. Khát vọng của họ được chú ý, giúp đỡ và khuyến khích. Họ sẽ có nhiều thành công trong tương lai. Thành công thực dụng mà xã hội mong chờ. Xin hãy trả thiền về mục đích ban đầu của nó. Xin đừng xã hội hóa thiền, vì thiền rất ghét bị xã hội hóa. Thiền là của riêng mỗi người, vì học thiền thì “một mình mình biết, một mình mình hay” chẳng chia sẻ được cho ai và cũng chẳng cần ai chia sẻ với.

Tháng 12/2017

Về đầu trang


Tản Mạn Về Thiền: Học Thiền Xưa

Thầy Phạm Văn An

Mục đích của thiền là để con người nắm bắt được “Tâm thực” của mình. Tâm là tinh túy, là vốn quí mà trời phú cho con người. Tâm tiếp cận được các chân lý của trời đất (của thượng đế, chúa trời) nhưng vì nhiều lý do, con người đã để tâm bị lu mờ. Phải thành khẩn, có mong muốn thực sự, thì con người mới lấy lại được cái tâm nguyên thủy đó. Tâm ai nấy biết, ta tìm lại tâm ta, chứ chẳng ai giúp được, nên ta sẽ là thầy của ta, chẳng có thiền sư nào giúp được. Nếu có thì thầy chỉ hướng dẫn, kiểm ta. Ta là nhân vật chính đi tìm kiếm tâm của mình.

Câu nói sau của Đức Thích Ca rõ hơn :

Pháp bổn pháp vô pháp

Vô pháp, pháp diệc pháp

Kim phó vô pháp thời

Pháp pháp hà tằng pháp (1)

(1) Pháp : phương pháp, nguyên tắc, cách thức

Dịch xuôi :

Chẳng có phương pháp nào cả, đó là phương pháp vậy

Nay ta (đức Phật) trao cái “vô pháp” đó cho mọi người (mọi người phải tự tìm kiếm lấy)

Vì có bao giờ có phương pháp nào đúng hoàn toàn đâu.

Học thiền thì chẳng có phương pháp nào cả và do đó chẳng có thầy (vì thầy đâu biết tâm của anh ở đâu để lôi ra, nhận diện rồi dạy bảo). Chính ta là thầy ta, vì chỉ ta mới thấy được tâm ta cần cách nào để chữa trị.

Câu trả lời của Chúa Giê Su khi có người hỏi : “ở đây, ở kia, ở ngay bên cạnh các ông”. Chúa biết được Chúa cha, vì tâm ngài đã sáng láng, thấy được mọi điều, cả điều huyền bí. Còn người hỏi “Tâm đầy vô minh” sao biết được chúa muốn “dạy” người hỏi, nhưng người hỏi không hiểu được, chỉ khi nào Tâm người hỏi sáng ra, thì mới biết được nghĩa của điều Chúa nói. Người hỏi tự đi tìm cách “khai tâm”.

Tất cả các ví dụ sau đều lấy từ truyện nhà Phật. Vì trước kia, chỉ có tu sĩ phật giáo mới học thiền. Nhưng qua những ví dụ này, ta có thể rút ra được những nhận xét về cách học thiền xưa.

Ví dụ 1 : một người tới xin làm đệ tử vị cao tăng, quỳ suốt ngày đêm trước sàn, thầy vẫn “tỉnh bơ” để mặc. Không phải thầy “ác”; thầy chỉ thử xem người kia có quyết tâm cao không, có thực sự muốn học đạo không.

Khi đã nhận đệ tử, việc đầu tiên các thầy cho đệ tử làm là : bửa củi, nấu cơm, quét sân, v.v… đó là cách các thầy “trắc nghiệm” lại quyết tâm của trò. Nếu thấy việc “nhàm chán” mà bỏ, đúng là chưa quyết tâm cao, không theo học được. Vả lại thiền là “vô cấu, vô cầu” không tạo thêm gì, không cần thiết gì, chỉ cần sống giản dị, nên việc quét nhà, bửa củi là việc giản dị , cần biết : việc nhỏ chưa làm tốt, thì sao học được việc lớn ?

Ví dụ 2 : Một thiền sư hỏi đệ tử :

- Chú ăn cơm chưa ?

Thưa - Rồi

Sư đáp-Ăn rồi thì đi rửa bát.

Sư hỏi đệ tử một câu lãng xẹc và câu trả lòi cũng nhạt nhẽo…nhưng nếu đệ tử bực mình về điều đó mà gắt gỏng, tức thị tâm đệ tử “loạn”. Tâm chưa an thì sao học thiền được !

Quyết tâm, nhẫn nại là điều kiện đầu tiên khi học thiền. Sau thử thách đó, đệ tử bắt đầu học kinh kệ để tự nghiền ngẫm ý nghĩa , không hiểu thì hỏi nhau rồi hỏi thầy. Trong sinh hoạt từ nay đệ tử được gần thầy, lúc này các đệ tử phải để ý đến tác phong, cử chỉ của thầy để tìm những bài học thực tế mà sống động, vì đã là cao tăng, thì nhất cử, nhất động của thầy đều nhiễm ý thiền, chính vậy nên có câu :

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tính thành Phật

Không bằng sách vở (không lý thuyết suông)

Truyền dạy bằng cách riêng (chỉ dẫn, cốt để làm sáng cái tâm noi theo)

Khi nào tâm sáng là giác ngộ.

Cốt yếu là tự tìm hiểu – Từ kinh sách, từ cách sống của thầy. Thầy luôn để ý xem “tâm” của trò đã bớt u minh chưa, vì khi tâm sáng, thì tức khắc đệ tử hiểu được lẽ đạo.

Ví dụ 3 : Đại sư Hoằng Nhẫn hỏi Huệ năng :

Người là người phương nào ! Muốn cầu vật chi ?

Huệ năng thưa rằng :

Đệ tử là thường dân ở đất Lĩnh nam, chỉ cầu thành Phật.

Hoằng Nhẫn nói :

Người Lĩnh nam là giống mông muội, làm sao thành Phật được !

Huệ năng bạch :

Người có kẻ nam, người bắc, chứ Phật tính vốn không nam, bắc. Thân mông muội và thân Hòa thượng chẳng đồng, chứ Phật tính có chi khác biệt.

Huệ năng đã biết được đặc tính của tâm (tính) mọi tâm đều giống nhau trong đặc tính thì ai cũng thành phật được (nhớ lại câu nói của Phật Thích Ca : ta là phật đã thành, chúng sinh là phật sẽ thành, nhưng Huệ năng còn nhiều ham muốn, mà ham muốn to nhất là “thành phật”, nhưng có một điểm sáng. Thấy được điểm này, Hoằng Nhẫn thu nhận và sai xuống nhà dưới để “bửa củi, nấu cơm”, nghĩa là phải tập lại từ bước đầu.

Ví dụ 4 : Đạo tín cầu đạo với Tăng Sán.

Đạo tín thưa : - Xin hòa thượng từ bi chỉ cho đệ tử con đường giải thoát.

Tổ hỏi : - Ai trói buộc ngươi ?

Tín thưa : - Không ai trói buộc.

Tổ lại hỏi : - Vậy tại sao cầu giải thoát ?

Đạo tín thốt nhiên hiểu.

Ta “u minh” quá, thành ra khổ, như Nguyễn Du nói trong truyện Kiều : “Tự mình lại buộc lấy mình vào trong”. Chẳng ai bắt được ta làm gì, chính ta tự nguyện trong mọi việc. Trong khi gia đình gặp nạn, chính Thúy Kiều tự nguyện bán mình chuộc cha để được “nhận” 15 năm gian khổ, luân lạc. “thanh y 2 lượt, thanh lâu 2 lần”. Cứ ngây thơ và hiền lành như Thúy vân, nhà gặp nạn, vẫn ngủ say, lại được hạnh phúc đề huề cùng Kim Trọng.

Đạo Phật chủ trương “xả” “bỏ qua”, mà con người lại chủ “chấp” vơ vào. Cuộc đời, càng vơ vào, càng khổ. Cái gì bỏ được, nên bỏ “ôm rơm dâm bụng”. Đức Phật đã thấy rõ điều đó, nên ngài đã từ bỏ điện ngọc, lầu vàng, bỏ cả vợ con, để tìm sự giải thoát.

Tăng Sán – qua câu hỏi lại – để chỉ cho Đạo tín con đường giải thoát : Phải tinh tấn thấy rõ việc làm của mình, cần hay bỏ được, “xả” là cách giải thoát duy nhất.

Ví dụ 5 : Trở lại với Huệ Năng.

Một hôm ngài đinh truyền y bát cho người kế truyền. Ngài họp các đệ tử lại và ra một đề “trắc nghiệm” xem ai là người đã đạt được tâm sáng nhất ( người hiểu sâu xa triết lý đạo phật. Thần tú là người xuất sắc nhất trong đám đệ tử, làm bài kệ dán lên tường :

Tâm thị bồ đề thụ,

Tâm như minh kinh đài,

Thời thời cần phất thức

Vật sử nha trần ai

Thần là cây bồ đề

Tam như đài gương sáng

Luôn luôn phải lau chùi

Chớ để dính bụi bặm.

Bài kệ của thần tú chú trọng đến “tâm”, mà quên thân. Chỉ chú ý tu tập Tâm, tẩy trừ “bụi bặm” (vô minh) mà không nhớ rằng thân mới chính là nguồn cội của “vô minh”. Đã đành thân là vật “tạm trú” của tâm, nhưng chớ khinh thường thân, chính bụi bặm là từ cái thân này mà ra rồi nhập nhiễm vào tâm khiến tâm cáu bẩn. Không trời “vô minh” tận gốc thì làm sao giữ được tâm trong sáng ? Cho nên Huệ Khả nhận xét “người chỉ đứng ngoài cửa, chứ chưa vô được trong” nghĩa là thần tú chỉ mới hiểu hời hợt lẽ đạo. Huệ năng ở nhà trong (đang bửa củi , quét sân) thoáng nghe được lời bàn tán của chúng tăng về bài kệ của Thần Tú, Ông khoe mọi người là ông cũng có một bài kệ, nhờ người viết giúp (vì ông không biết chữ). Bài kệ được viết , dán bên cạnh bài của Thần Tú.

Bồ đề vốn vô thụ,

Minh kinh diệc phi đài

Bổn lại vô nhất vật,

Hà xá nhạ trần ai ?

Bồ đề là cây mà chẳng phải cây

Gương sáng cũng chẳng cần đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính trần ai ?

Huệ Năng đã thấy được cái “không” to tướng của mọi vật. Mọi vật đều vô thường, chẳng tồn tại lâu bền thì làm gì phải chăm sóc ( chỉ có tâm là trường cửu).

Tâm thế gian là tâm phân biệt : có – không, tốt – xấu. Cái lý luận nhị nguyên của con người làm khó con người. Vô minh là lầm lẫn giữa tốt – xấu, chọn xấu thay tốt, người đạt đạo có tâm “không”. Tâm vô phân biệt (nhất nguyên luận) thì mới khỏi trong vòng sinh tử, đạt được niết bàn (chân lý)

Chân lý là gì ? là sự đúng duy nhất (không thể có 2 cái đúng một lúc).

Nhớ lại chuyện con Rắn và bà Eva.

Trong vườn địa đàng có 2 cây : cây trường sinh (cây hạnh phúc) và cây khôn ngoan ( khôn ngoan theo kiểu của con người) con Rắn, đã dụ bà Eva ăn trái cấm, ngay sau đó, bà xấu hổ vì thấy mình trần truồng, bà đã có ý niệm tốt xấu (nhị nguyên luận) mà khi trước bà chưa hề có (nhất nguên luận). Khi trước trần truồng hay không trần truồng chẳng khác nhau gì cả. Nay thấy khác vì con người đã bày đặt ra ý niệm sai biệt giữa các vật và sự phân biệt này đã khiến xã hội quay cuồng (chiến tranh vì tranh giành hơn – thiệt, bỏ cái di động này để kiếm cái mới vì ý niệm tốt hơn, đẹp hơn…) . Từ đó con người sống bằng vô minh, mà quên cái hạnh phúc đích thực mà chúa trời muốn rao giảng (hạnh phúc đích thực khi tâm an, giảm nhu cầu là giảm khổ đau).

Học thiền là muốn trở về cái hạnh phúc nguyên thủy của cây trường sinh.

Khi nào đến được “tâm không” như bài kệ của Huệ năng ? Kiên trì tu tỉnh, kiên trì đấu tranh với chính mình trong dài lâu, thì họa may tâm sẽ sáng trở lại, một ước vọng hầu như là không tưởng, vì gần 5 nghìn năm qua, chỉ thấy chiến tranh mà chưa thấy người giác ngộ số 2 , sau Phật Thích Ca, là người giác ngộ số 1, có thể là người duy nhất.

Tháng 9/2017

Về đầu trang


Tản Mạn Về Thiền: Phương Pháp Thiền

Thầy Phạm Văn An

Thuở nhỏ đi học, đau đầu vì một bài toán, giải mãi không ra, tức khí, bỏ mặc. Đi chơi một lúc , về, ôi sao sáng dạ chi lạ, chỉ trong nháy mắt, xong cái rẹt, ngộ ghê !

Chẳng có phép lạ nào cả, chẳng qua trí óc làm việc nhiều quá, thành loạn xì ngầu. Một giờ đi chơi là lúc trí óc được nghỉ ngơi nên sáng láng trở lại mà thôi ! Thiền sẽ giúp tâm trí tỉnh táo và kéo dài giây phút đócàng lâu khi thiền được tiếp tục.

Phương pháp thiền không giống phương pháp học các môn khác đòi hỏi bài vở, giáo trình và thầy dạy. Ở đây , tự mình dạy mình. Thiền là luyện tâm mà tâm ai nấy biết. Thầy (nếu có ) cũng chẳng kiểm soát được tâm thiền sinh. Nếu thầy bảo “im lặng” mà anh đang “cười thầm” thì cũng chịu.

Căn cứ vào tâm để tu luyện nên tâm “bình” dễ học thiền; người tâm dữ hay ác tâm thì khó hoặc không tu thiền được. Cho nên người có “căn” như các tu sĩ, dễ tu thiền, người bình thường, luôn luyện tâm cũng tu thiền được, còn kẻ trộm cướp, dân đao búa thì thiền không “dô”.

Muốn tu thiền, trước hết phài “an tâm”, có câu tục ngữ “thứ nhất là tu tại chùa, thứ hai tại chợ, thứ ba tại nhà”. Tại chợ, tuy ồn ào, nhưng với nghị lực, bỏ ngoài tai tất cả, thì tâm vẫn “an’; còn ở nhà, ra vào luôn tiếng “càm ràm” điên lên được, nói chi đến “an tâm”.

Ngoại cảnh tĩnh lặng cũng là điều kiện cần để tâm khỏi xáo động.

Khi hai điều kiện trên đã đủ ta bước vào thế “khởi động”, có nhiều cách khởi động :

+ Tọa thiền là vào thiền trong tư thế ngồi.

+ Ngọa thiền : Thiền nằm

Hai tư thế trên thì ở dạng nào, tùy ý , miễn là thoải mái.

+ Thiền hành : thiền đi ( đi thiền).

Cách này mới nghe tưởng dễ, nhưng người có bản lĩnh mới thực hiện được. Trên đường bao nhiêu trở ngại, xe cộ ồn ào, tránh sao khỏi chia trí.

+ Thiền tự nhiên : Mọi việc đều để diễn ra tự nhiên, tránh can thiệp. Trần nhân Tôn nói : Đói ăn, mệt nghỉ, hỏi chi thiền ! Nói lại : Thiền là làm cho tâm về thế nguyên sơ, chỉ vì tâm bị can thiệp nhiều quá, nên tâm mới mờ ( sai lệch ).

+ Thiền mọi lúc mọi nơi, là mở rộng cách thiền tự nhiên. Bạch cư Dị nói: ăn, nằm, ngủ, nghỉ, thậm chí đến tiểu tiện, đại tiện đều có thể thiền được. Khi thiền đã ngấm vào người, thì hành vi, cử chỉ của thiền sinh đều đầy chất thiền, không phải xếp đặt, không phải cố gắng. Nói ngược lại : Người đã tu thiền lâu dài, thì không thể bỏ thiền trong bất cứ trường hợp nào.

Chẳng phương pháp thiền nào tốt hơn hoạc xấu hơn. Tùy theo người ưa hợp, thì sẽ đem lại kết quả như nhau.

Lựa chọn được tư thế xong, ta nhập thiền – đây là giai đoạn quan trọng gồm thiền và định.

+ Thiền : Ta tìm cách loại bỏ các tạp niệm : những suy nghĩ không cần thiết, thậm chí là hại độc cho tâm đó là cách “ tương kế, tựu kế “ : Anh ( tạp niệm muốn bám vào tôi, thì tôi có cách đẩy anh ra; Tôi sẽ nghĩ đến một đối tượng khác thay anh, làm sao để không còn anh trong tâm trí tôi, mà là đối tượng mới chọn. Ta chuyên chú vào một đối tượng duy nhất và rõ ràng như chỉ chú ý đến ảnh Phật, ảnh Chúa hoặc nghĩ về một câu kinh, một lời nói của đấng giáo chủ… Lựa chọn đối tượng nào cũng được, nhưng phải là đối tượng trong sáng, không gây vẩn đục cho tâm, không hại mình, hại người. Nếu lúc này mà nghĩ đế người yêu thì sinh “thiền loạn” đau khổ sẽ đến và tâm bị tổn thương.

Giản dị là để tâm chú ý đến hơi thở, vì hơi thở vô hình mà lại có thật, dễ quan sát mà không mất công, không chia trí. Chú ý đến nhịp tim : hít vào, thở ra. Một lúc nào đó, ta quên tất cả mọi thứ xung quanh mà chỉ còn thấy hơi thở. Ngồi thiền như vậy bao lâu ? Lúc đầu chưa quen, nên khó ngồi lâu được, nhất là không chịu được sự nhàm chán ( chỉ làm một việc đơn giản ) nên khi không “ muốn” thiền nữa, thì thôi, không gượng ép, gây bực bội có hại ( vì ta đang cần an tâm). Lâu dần thành quen, sẽ ngồi được lâu hơn. Với người tu hành, ít nhất một ngày có 3 thời thiền; họ có thể ngồi nhiều hơn : vài ngày có khi vài tuần. Các bậc chân tu có thể ngồi dài hơn (cả tháng) mục đích là họ có khám phá điều họ đang tìm kiếm.

Khi cảm thấy thiền đã đủ ( có lẽ lâu đấy), thấy tâm không còn vướng mắc gì, thấy người nhẹ nhàng thong dong, thì ta “ xả thiền” và vào “định”.

Ở giai đoạn đầu ( khi chỉ chú ý tới đối tượng thiền) cũng có thể gọi là định, nhưng định “tạm thời” vì chỉ cốt xua đuổi các tạp niệm, nay không còn tạp niệm nữa thì ta định “vĩnh viễn”.

Xả thiền xong, phải vào định ngay, nếu không thì tâm sẽ lơ lững, không biết bám víu vào đâu, con người sẽ ở vào tình trạng vô định như kẻ mất hồn; đi ra, đi vào im lặng, không thích chuyện trò với ai, một ngày nhốt mình vào một nơi, thụ động và ngớ ngẫn như kẻ trầm tư, một kẻ tự kỷ, một kẻ “thiền si” chứ không còn là người “thiền sinh”, kéo dài tình trạng này, thì các tạp niệm dễ trở lại và dễ dàng “hoàn tục”.

Thiền đi đôi với định : định là níu chặt tâm vào mục đích càng sáng tỏ. Lúc này tâm trong sáng sẽ giúp cho các ý tưởng tốt, ý tưởng hay, ý tưởng sâu sắc bật ra, một lúc nào đó những ý tưởng siêu hình cũng sẽ đến. Thiền sinh sẽ thấy được chân lý siêu nhiên như thượng đế, thiên đàng, địa ngục v.v… và những mạc khải như đang nghe được lời chân lý, đó là trường hợp của những nhà tiên tri, nhà hiền triết, nhà thông thái… thiền sinh sẽ đi đến giác ngộ. Phật Thích Ca ngồi thiền liên tục 49 ngày đêm, ngài đã khám phá ra kết luận : Đời là khổ và tìm ra cách giải khổ bằng Tứ diệu đế và Bát chính đạo… nhưng chỉ mới thấy một trường hợp duy nhất của Phật Thích ca đạt giác ngộ, cho nên kết luận lại : thiền không phải dễ có kết quả, thiền đòi hỏi lâu dài, có quyết tâm và phài có “căn” tu; có người thiền cả đời, hỏi lại chẳng dám trả lời mình đã đạt được gì. Lawrence Shainberg trong tác phẩm Ambivalent Zen, người ta thiền đã trên 50 năm đã nói : “nếu có ai nói đã biết được điều gì ở thiền thì đó không phải thiền, cũng như nếu nói là biết được Thượng đế, thì là chẳng biết gì về thượng đế…” Thiền là điều có thật – nhưng biết được (nhận diện được) thiền thì không phải dễ. Học thiền miên mật, thì thiền ngấm dần vào người thành bản tính của ta, khi đó ta sống bằng thiền : hành vi, cử chỉ đều có “dáng” của thiền, nên thiền gia có câu “một mình mình biết, một mình mình hay” là vậy.

Phật nói : “ ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, nhưng “giác ngộ” được như ngài không phải dễ. Nên coi lời ngài nói là một điều khích lệ. Kẻ phàm phu như chúng ta, học thiền ít nhất cũng thu lượm được một chút kết quả có lợi nên đừng chán nản.

Thiền là phương pháp hữu hiệu nhất để ta gột rửa thân tâm , tránh được bụi trần, và tiếp cận tốt với mục đích theo đuổi. Hồng y Phạm minh Mẫn, có lần đàm đạo với Thích Trí Quảng đã cho biết : các nữ tu dùng phép thiền, thấy dễ nhận biết thiên chúa hơn là phương pháp cổ điển.

Ít nhất, thiền cũng là một cách xả stress giản dị và lâu dài. Các cách khác như giải trí, du lịch để quên đi mệt nhọc có thể đem lại kết quả nhưng không lâu bền và không triệt để vì xong là hết, các cách này cũng bắt ta nạp vào các tạp niệm mới – tuy nhẹ nhàng hơn.

Khi tâm đã thảnh thơi, không còn tạp niệm, chẳng lưu gì vào tiềm thức, chẳng đánh thức vô thức nữa, ta sẽ có một giấc ngủ nhẹ nhàng, chỉ còn lẻ tẻ những giác mộng mơ hồ, chứ không còn ác mộng. Ngủ được, sức khỏe sẽ tốt hơn nhiều.

Con người ta sẽ thuần hậu hơn. Thiền đã cải tạo được con người bướng bỉnh ưa chống đối vì thiền cho nếp sống giản dị.

Tâm bình, ta không nao núng trong mọi hoàn cảnh, dễ giải quyết mọi phức tạp bằng sự sáng suốt.

Hành thiền lâu dài, tâm càng trong sáng, nhìn thấu rõ mọi việc, sáng kiến phát sinh, ý hay, lời đẹp nhiều, các sáng tác sẽ có giá trị.

Thiền gọi tâm về với thân, ta nhận diện được con người thực của ta, ta biết người, biết mình, ta là người hòa đồng, bạn hữu của mọi người.

“Tâm bình, thế giới bình” không hoặc chưa đem lại bình yên cho người khác, thì ít nhất ta cũng có được “bình an” yếu tố để yêu đời và thấy đời đáng sống.

Tháng 8/2017

Về đầu trang


Tản Mạn Về Thiền: Tâm Và Trí

Thầy Phạm Văn An

Trước đối tượng hiện ra trước mắt, tâm phản ứng bằng một sự trực nhận : có một người. Tiếp đó trí phân tích và phán đoán : người đó quen hay lạ, gầy hay mập, v.v…

Tâm còn là cảm xúc : Thương quá ! Tội quá !

Cảm xúc ở đỉnh cao là sự hòa hợp, thông cảm. Tâm còn có một khả năng đặc biệt : khả năng trực giác một cảm nhận siêu hình, một linh cảm để con người có thể tiếp nhận chân, thiện, mỹ, có thể tiếp cận đấng siêu nhiên, nghe được, biết được những mạc khải, những siêu ngôn. Đó là khả năng của những thánh nhân, nhà tiên tri, nhà hiền triết… Nhà Phật gọi đây là “ Trí vô sư” ( cái biết không cần thầy dạy).

- Trí nhanh nhạy ở sự phán đoán, suy luận. Trí đi xa hơn nhận biết ban đầu để giải mã sự tìm kiếm và luôn ở thế chủ động để mở rộng nhãn quan hiểu biết .

Nhưng suy đoán luôn tiềm ẩn nhiều sai phạm, lỗi lầm, vì khả năng của con người – về mọi lĩnh vực – luôn bị hạn chế.

- Vì tâm tĩnh tại ( luôn ở thế bị động) nên trí có khuynh hướng lấn át tâm, dẫn dắt tâm, lôi cuốn tâm khiến tâm không phát huy được : Tâm đã bị phủ bởi màn vô minh càng ngày càng dày đặc. Vô minh ( không sáng suốt) là những nhận định, phán đoán thiển cận, thiếu chính xác, chỉ thấy cái trước mắt, vì những ham muốn đê hèn của con người. Don Miguel Ruiz và Janet Mills gọi “ trí thức là kẻ dối lừa (trong The voice of knowlegde).

- Tâm thuần khiết luôn hướng tới cái tốt ( đạo đức). Tứ vô lượng tâm ( Từ, bi, hỉ , xả) của nhà Phật và Bác cứ của công giáo là đỉnh cao của tâm vô ngã. Tâm luôn quên mình để nghĩ cho kẻ khác, nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Cho nên, trong một thế giới manh động như ngày hôm nay, thiện tâm là miếng mồi ngon để kẻ ác trực chỉ để dễ thao túng. Trong một suy luận đỉnh cao của đạo đức, người ta nghĩ rằng : Chẳng hề chi ! Tôi làm theo lương tâm, làm theo lời chúa, còn kẻ lợi dụng, họ tạo nghiệp xấu, họ sẽ bị nhân quả. Tôi làm theo lời Chúa vì Chúa đã nói : hãy tha thứ 10 lần 7, chứ không phải 7 lần; Chúa cũng nói : Hãy giơ má kia cho kẻ đó tát, nếu nó đã tát con má bên này. Thực tế kẻ ác chẳng hề ngưng tay, má anh đã sưng, nó vẫn cứ tát, nếu có thể. Lòng nhân, ở đây, liệu còn cần ?

Đời là thế đó Hãy cứ chìu con đi – vì thương con mà ! Nó đòi tiền, cứ chu cấp cho nó tiêu xài, vì cha mẹ giàu mà, nó đòi mua nhà , mua xe, hãy mua cho nó. Rồi một hôm nào đó, nó cá độ bóng đá: Tiền, xe, nhà bay và nó cũng bay để trốn nợ. Lòng thương đã tỉnh và đã muộn. Trường hợp này xảy ra ở Bảo Lộc, nhiều người biết.

Ông Trump thấy nước Mỹ bị thiệt thòi vì nước Mỹ quá hào phóng : Viện trợ không giới hạn cho nước ngèo, trợ giúp người nhập cư, ông muốn nước Mỹ trở lại là “nước Mỹ vĩ đại thuở nào” ( chắc là vang bóng thời Tư bản bóc lột) nên Ông chủ trương : Hạn chế tối đa viện trợ, đuổi người nhập cư trái phép, xây bức tường giữa Mỹ và Mehico để dân Mễ nghèo khổ khỏi sang Mỹ, cướp mất việc làm của dân Mỹ, Ông Trump có lý nhưng Tâm của Ông khô cứng.

Tâm và trí luôn xung đột – như 2 ví dụ trên – thật ra tâm và trí nên bổ túc cho nhau thì giấc mơ “thế giới phẳng” mới là hiện thực. Hòa bình trong mỗi người và cả nhân loại chỉ có thể có được nếu tâm con người bớt vô minh, chí ít là tâm và trí làm bạn được với nhau.

Thiền giúp giải quyết sự tranh chấp giữa tâm và trí ít ra là để trí khỏi lấn át tâm, và hơn thế nữa, là để tâm luôn sáng láng.

Câu nói của Kipling: đông là đông, tây là tây, hai bên không thể hòa hợp được, là nhận xét - mà cho tới nay – vẫn đúng.

Người Đông phương duy tâm, sống bằng nội tâm, tôn trọng đạo đức theo nghĩa là một sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, con người với con người, luôn “biết điều” “biết người, biết ta” ít tranh đua, ưa nhường nhịn, còn người tây phương luôn hăm hở, muốn tìm kiếm, mong cái lợi.

Câu chuyện về Chúa Giê Su và người đàn bà xin nước, là phán xét về sai lầm của con người trong tiếp nhận kiến thức : “nếu anh em uống nước này, thì anh em luôn khát, còn nếu uống nước ta ban, thì không còn khát nữa”.

Khát nước chỉ thị cho mong muốn, nhu cầu, nhu cầu của con người là vô giới hạn (khát và khát nữa) chẳng bao giờ thỏa mãn được tham muốn của con người. Nước của Chúa là tâm, đạo đức thương yêu là phép mầu để ta sống an lành với đồng loại.

Những bài sau ta sẽ tìm hiểu thiền với giải pháp cho sự tranh chấp giữa tâm và trí và kết quả của thiền đem lại cho đời sống.
Tháng 7/2017

Về đầu trang


Tản Mạn Về Thiền:Ý Niệm Chân Lý Với Bồ Đề Đạt Ma

Thầy Phạm Văn An

Bồ đề Đạt ma (bodhidarma) là thiền gia Ấn Độ đầu tiên tới Trung Hoa truyền đạo và sau đó kế tiếp có có dòng thiền Trung Hoa.

Khi ông quyết định trở về quê hương (Ấn Độ), ông muốn chọn một người thay mình để kế tục sự nghiệp của ông. Ông triệu tập các đệ tử ra một đề “trắc nghiệm” tâm của đệ tử bằng câu hỏi : Chân lý là gì ?

Trước hết, ta ôn lại để hiểu là con người sống bằng nhị nguyên luận. Giới hạn của trí tuệ là sự phân biệt giữa 2 thái cực : ví dụ như tốt – xấu, được – không… Ngoài giới hạn đó, con người lờ mờ, chỉ cảm nhận được chút ít về thế giới mênh mông, ngoài sự sống của con người.

Triết học – nhất là siêu hình học – chấp nhận nhất nguyên luận, mọi suy luận xuất phát từ một gốc (không có 2), từ cái 1 đó sinh ra tất cả; nên chưa làm quen với lý luận này, ta cảm thấy khó hiểu. Chân lý (cái đúng hoàn toàn mà thế gian không có) là ý niệm như vậy. Ví dụ : Thượng đế từ đâu ? Câu trả lời là : từ chính thượng đế mà ra. Thượng đế là cái duy nhất đúng, cái phát sinh từ thượng đế là hệ luận của cái định đề trên.

Ta xem, các đệ tử của Bồ đề Đạt ma, hiểu thế nào về chân lý :

1/ Dofuku trả lời : chân lý là vượt qua cái khẳng định và cái phủ định , có một khoảng cách giữa cái biết và cái không biết.

Bồ đề Đạt ma nhận xét : người mới ở ngoài dà ta, nghĩa là Dofuku mới chỉ tiếp cận vấn đề. Cái mà trí tuệ con người không với tới được, mặc dù có cảm nhận được – con người là hữu hạn, sống trong thế giới hữu hạn (trái đất vẫn có ngày sẽ nổ tung) nên kiến thức không ra ngoài khuôn khổ đó. Những ý niệm tuyệt đối như Thượng đế, niết bàn, địa ngục không nằm trong khả năng hiểu biết của con người. Có lẽ vì vậy, mà đức phật khi khám phá ra chân lý : đời là bể khổ, đã không muốn truyền bá khám phá này, ngài sợ thế gian không hiểu nổi, sẽ hiểu sai, cho đến khi chúng đệ tử van nài, ngài mới “chuyển pháp luận” và đúng như vậy. Cho đến nay số đông con người vẫn chỉ chấp nhận đời là hạnh phúc và luôn đi tìm cái hạnh phúc đó. Rõ nhất là nhiều người hỏi ngài về những vấn đề siêu hình như sống chết, ngài không trả lời và ngài nói lảng sang một cách khác. Phật đã nói : kiến thức của ngài như lá trong rừng, cái mà ngài nói chỉ là nắm lá ngài đang cầm. Mọi thứ khác đều không cần thiết cho cuộc sống nhân sinh. Nói vậy, không phải ngài không biết, nhưng ngài ngại rằng : nói ra, chúng sinh không hiểu, gây hoang mang không cần thiết. Cái cần nhất ngài nói và cho phương pháp giải quyết : đó là đời khổ đau, diệt khổ bằng Bát chính đạo và tứ diệu đế.

2/ Đệ tử Soji thưa :

Chân lý giống như thị kiến Amenda, nhìn thấy cõi Phật, chỉ một thoáng thôi, nhưng đó là mãi mãi. Bồ đề đạt ma nói : Ngươi đã vào được thịt ta, Soji cũng dùng một hình ảnh, một ý niệm khác để mô tả chân lý (vì ngôn ngữ con người không thể nói đúng, nói đủ chân lý).

Thị kiến Amenda, tương tự như sự giác ngộ. Tâm bừng sáng nhận ra một mạc khải mà thượng đế truyền cho người có tâm giác ngộ, để hiểu biết những điều mà con người bình thường không thể hiểu nổi. Sự giác ngộ đến bất chợt và cũng biến đi mau chóng đối với người có “căn tu” tu đến như Phật Thích Ca, thì sự giác ngộ mới tồn tại lâu dài, có khi là mãi mãi.

Các đấng tiên tri trong kinh thánh ở trong trường hợp này . Ví dụ sau, hơi cường điệu nhưng khá giống với thị kiến Amenda. Tình yêu đến có báo cho ta biết đâu, nó trói buộc ta bao giờ, ta không hay. Giây phút “mắt nhìn mắt, tay trong tay” nói lên nhiều hơn bất cứ ngôn ngữ yêu thương nào của nhân loại.

Rồi thì: Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,

Ngàn năm hồ dễ đã ai quên.

Soji đã đã định nghĩa được chân lý và hình như đã có lần ông tiếp cận được, nên không thể quên cái giây phút tiếp nhận mạc khải đó.

3/ Đệ tử Doiku phát biểu : Bốn yếu tố : hơi, nước, đất, lửa đều là không. Chân lý là không.

Bồ đề Đạt ma nói : ngươi đã vào được ruột gan ta.

Chân lý là không, có nghĩa là người trần gian không với tới được, chân lý không với tới được, không nhìn thấy được, nhưng nó vẫn có – nếu không có sao lại có ý niệm về chân lý ?

Doiku nói bốn yếu tố : hơi, nước, đất, lửa là không. Bốn yếu tố đó tạo nên trái đất, đời sống. Chỉ khi nào ta phủ nhận cuộc sống này (toàn là cái tương đối) thì ta vào được chân lý (hiểu được vấn đề) : chân lý ở ngoài sự sống của chúng ta (cũng như thiên đàng) niết bàn ngoài sự sống của chúng ta, nên ta không hiểu được.

Bồ đề Đạt ma khi nói : người đã đi vào ruột gan ta, có nghĩa là đã hiểu sâu vấn đế,

4/ Đệ tử cuối cùng Eko, không trả lời, chỉ cúi đầu, mỉm cười và lặng thinh.

Bồ đề Đạt ma nói : Người đã vào được tủy của ta. Tủy là phần sâu và kín nhất của cơ thể. Eko đã vào trung tâm của vấn đề.

Dưới mắt kẻ phàm phu, Eko là người kỳ lạ, hình như không biết gì (không biết những điều con người biết), một con người khờ khạo (chẳng hiểu người ta nói gì) nói vậy cũng đúng với con mắt trần tục. Nhưng cái cúi đầu, cái mỉm cười nói nhiều hơn lời thế gian. Chân lý nên được trân trọng (cúi đầu tiếp nhận) mỉm cười có thể là hiểu rồi, nhập tâm rồi và vui mừng khi được chân lý mạc khải.

Đúng như Lão Tử đã nói : Đạo mà nói được thì không phải là đạo . Ngôn ngữ thế gian, tâm thức thế gian, làm sao diễn tả và hiểu rõ chân lý !

Kẻ giác ngộ (như Phật) và kẻ thừa sai của thượng đế (như Chúa Giêsu) mới đủ khả năng để hiểu chân lý.

Trở lại với ví dụ cường điệu ở trên. Ai biết rõ tình yêu. Ai có được tình yêu. Ai ? Có một câu thơ của Vi Khuê, mà tôi chẳng hiểu được.

Tình yêu như chỗ bóng cây

Ta ngồi nghỉ mát một giây rồi lìa

Mai kia mốt nọ đi về

Nhớ cây bóng mát, đầm đìa lệ chăng

(Bóng cây)

Ngồi dưới bóng cây thật mát, thật hạnh phúc giữa trưa hè, nhưng sao chỉ “một giây rồi lìa” và nhớ mãi mãi cây bóng mát đó bằng hàng lệ đầm đìa ?

Tình yêu là giây phút thoảng qua ?Nhưng cái thị kiến Amenda về tình yêu thật không quên được, chỉ một phút thôi cũng đủ để nhớ mãi. Phải chăng tình yêu cũng thuộc một thứ chân lý và con người chỉ có được cái “hình như là tình yêu” chứ chưa đích thực là tình yêu?

Tháng 10/2017


Thân Phận Con Người Qua Sisythe

Thầy Phạm Văn An

Sisythe là nhân vật huyền thoại cổ Hy Lạp, là nhân vật tội lỗi chốn trần gian. Con người ấy, khi còn trên mặt đất, đã từng làm vua thành Corinth, nhưng là vị vua tham lam tàn bạo, luôn phỉ báng thần thánh. Thần Zeus đã bắt ông xuống địa ngục. Sisythe chịu một hình phạt lạ : hàng ngày, ông phải đẩy một khối đá khổng lồ lên đỉnh núi rồi sau đó lại đẩy xuống chân núi, làm như vậy không ngưng nghỉ, từ năm này sang năm khác. Ông chỉ nghỉ được thời gian xuống núi. Hình ảnh Sisythe khiến ta liên tưởng tới thân phận con người trong kiếp nhân sinh này : Cũng như Sisythe, tháng ngày sống, con người miệt mài tạo cho mình cục đá để lăn : cục đá đó là kết quả việc làm hàng ngày; việc thiện tạo ra hòn đá nhỏ, việc ác tạo ra hòn đá lớn. Thiện ác lẫn lộn trong cuộc sống, cho nên ta không thể tránh được hòn đá đó, mà hòn đá thiện thì bé xíu, còn hòn đá ác thì to và rất to, nhà Phật gọi đó là nghiệp – nhân quả tạo nghiệp. Ta đã lăn xả vào cuộc sống, mệt mỏi với cuộc mưu sinh để tạo nên hòn đá nghiệp . Lòng tham thì vô độ nên hòn đá nghiệp to dần với cuộc sống, ta mệt mỏi với nó như Sisythe lăn đá trên dốc, rồi ta lại đắng cay với thất bại, đó là lúc lăn đá từ đỉnh xuống, nhưng mù quáng (nhà Phật gọi là vô minh ) khiến ta đắng cay với thất bại, nên lại chẳng tỉnh ngộ mà làm lại cục đá khác để rồi lăn, lăn suốt đời hòn đá nọ đến hòn đá kia. Lúc Sisythe được nghỉ cũng chính là lúc ta được rảnh rỗi ôn lại cuộc đời, ôn lại công việc mình làm để nhận ra đắng cay cuộc đời, nhưng nào ta có tỉnh ngộ hay vẫn thù hằn, oán giận để rồi lại lăn xả vào vòng vô minh ?

Điều đáng suy nghĩ là Sisythe làm việc này ở địa ngục, nơi tối tăm, tội lỗi; còn ta, ta sống dưới bao ánh sáng : Ánh sáng mặt trời để nhìn rõ cuộc sống mà quên hoa thơm cỏ lạ xung quanh : hoa thơm của tình yêu, của lòng yêu thương, của nghệ thuật, mỹ thuật để rồi bị quyến rũ bởi bóng tối của tà kiến, thù hằn, tham lam. Các ánh sáng khác cần cho nội tâm phong phú, ta cũng không nhìn thấy : ánh sáng của văn minh, văn hóa, truyền thống và tôn giáo.

Chẳng trách gì con người, vì con người – hay theo huyền thoại là ông tổ của con người – đã từ chối thứ ánh sáng tốt đẹp nhất đó từ thuở hồng hoang.

Cựu ước đã kể lại rằng : Khi thượng đế tạo ra loài người, ngài đã muốn con người hoàn hảo; ngài đã dành cho con người cuộc sống vô ưu nơi vườn địa đàng, nơi đó có cây “ hạnh phúc “ và cây “ khôn ngoan “, khôn ngoan hiểu theo nghĩa của người trần thế. Tổ tiên ta đã chọn cây khôn ngoan mà không thiết tha gì đến cây “ hạnh phúc “ (hiểu theo nghĩa cao đẹp của nó) chính sự khôn ngoan ta có hôm nay đã tạo ra hòn đá nặng, thân thiết như người bạn đồng hành, cùng ta đi suốt cuộc đời.

Tháng 9/2014

Về đầu trang


Thấy Nhau Cuối Chân Trời

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: THẤY NHAU CUỐI CHÂN TRỜI (1)

Tôi tìm được câu này (đề bài) trong một bài viết của Nguyễn ngọc Thanh và anh có hỏi : “Không biết thầy còn nhớ con không?”. Này anh Thanh ! Anh nhắc thầy Lễ thì tôi nhớ ra việc anh vào Văn Học; nhưng Văn Học có nhiều Thanh quá, tôi chỉ nhớ anh “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”(2) nghĩa là không nhớ rõ lắm ! Nhớ rõ là có một Thanh trong đội bóng như anh nhắc lại. Đọc câu :”Tạm biệt một nơi, thấy nhau ở cuối chân trời” tôi buồn quá; mới nhớ ra nhau mà đã chào tạm biệt, lại hẹn gặp ở cuối chân trời ! Tôi suy tưởng mênh mang…ừ thì sẽ tạm biệt, chứ đâu đã tạm biệt ? Đến lúc đó, anh tạm biệt, chứ tôi thì xin vĩnh biệt . Ớn quá ! Cái cuộc sống này, nó đày đọa tôi từng giây, từng phút suốt 40 năm qua.

Mà này anh ! trái đất này đã phẳng- như có người nói- đâu còn chân trời nào ? Hay phải hiểu chân trời là một nơi rất xa, ngoài trái đất ? Theo đức tin của người có tín ngưỡng thì đó là một nơi xa lắm với nhiều điều mới lạ, nhưng chắc chắn không phải là địa ngục vì từ này còn dính vào đất (địa) căn ngục tối om ở bề sâu vô tận… Vậy ta sẽ gặp nhau ở miền Tiên cảnh, nơi mà Đường minh Hoàng đã tới. Nơi đó vui lắm, múa hát suốt ngày khiến ông vua này suýt quên đường về và khi về trái đất, ông đã nhớ lại để sáng tác nên Khúc Nghê Thường. Hay là miền LẠC CẢNH – còn gọi là miền Cực Lạc- vui vô cùng với đền đài, thành quách toàn bằng vàng và ngọc mã não. Thiên đàng nữa, nơi ta vĩnh viễn ở bên CHÚA, hưởng tình thương yêu vô hạn.

Còn cõi Niết bàn, cõi này ít người mơ tưởng tới vì rõ ràng đây là nơi của BẬC ĐẠI GIÁC, mà ta là kẻ đang sống trong vòng u minh; tự giác còn chưa nổi, mong chi Đại Giác! Thể trạng và căn tính của kẻ phàm trần, tôi nghĩ : Không hy vọng lọt vào các cảnh giới cao sang đó. Cố lắm thì cũng mấp mé bên bờ; hoặc giả cố tu lắm để lên được đó thì cũng đã là bậc Thánh; mà đã là Thánh thì chẳng còn hoặc không thể, không muốn, không biết tới ý niệm “gặp gỡ” phàm tục như anh và tôi ngày hôm nay.

Hẹn gặp, mong gặp nay là điều khó khăn và xa vời ? nhưng trong cuộc sống, ta lại cần có sự giăng mắc, bám víu để thấy rằng còn ta, còn người.

Khó thay điều mong muốn nhỏ nhoi của kiếp người. Hẹn gặp mà không được gặp hoặc điều được gặp là điều chẳng muốn là nỗi khổ đau lớn lao trong đời như nhà Phật đã chỉ ra. Thấm thía thay cho điều mong ước.


(1) Gửi anh Nguyễn ngọc Thanh
(2) Câu thơ trong cung oán của Nguyễn gia Thiều, ở đây tôi dùng theo nghĩa đen.

Về đầu trang


Theo Ngọn Mây Tần

Thầy Phạm Văn An


Nỗi nhớ quê hương, đất nước của người đi xa là một đặc tính tâm hồn người Á Đông – trong đó có người Việt nam.

Câu thơ Kiều : Hồn thơ theo ngọn mây Tần xa xa,

Nguyễn Du diễn tả tâm hồn Thúy Kiều lạc lõng nơi đất khách, lấy ý từ câu thơ của Hàn Dũ : “ Vân Hoành Tần Lĩnh hà tại ?” ( Mây che ngang núi Tần, không thấy nhà ở đâu ?).

Lý Bạch cũng nhớ nhà trong một đêm thanh vắng nơi quê người :


Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sơn.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu từ cố hương.
Trước giường trăng tỏa rạng,
Ngửa mặt đất đầy sương.
Ngẩng đầu trông trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê hương.

Đào Tiềm cũng có câu :


Đi về, sao chẳng về đi,
Ruộng hoang, vườn rậm còn chi không về ?

Trong văn học Việt Nam, tâm sự xa nhà và nhớ nhà bàn bạc trong nhiều tác phẩm từ cận đại đến hiện đại. Ở thời hiện đại , nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương đậm nét nhất là thơ của những người xa xứ (2) của Trần hoài Thư. Từ đầu đến cuối tập, nỗi nhớ quê hương trải dài.


Ở đâu cũng vẫn đất trời,
Cũng rừng cô tịch, cũng đồi tà dương.
Cũng ngày nắng, cũng đêm sương,
Cũng qua, cũng lại phố phường người dưng .
Cũng trên trời một vầng trăng,
Cũng sông vẫn chảy hai giòng ngược xuôi.
Nhưng lòng sao lại không nguôi !
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên

Tr. 46

Ở đâu cũng có những cảnh đó thật, nhưng lòng tác giả thấy “ không nguôi “ vì nó không mang một dáng dấp Việt Nam. Chỉ một tiếng chim bìm bịp thôi là đủ có Việt Nam trong lòng tác giả.

Cho nên :

Ở đây đất lạ quê người, Mấy mươi năm cũng một đời xứ xa.

Tr. 50 Vâng, sống ở đất nước người “ mấy mươi năm “ chứ sống cả đời ở nước người cũng vẫn cảm thấy lạc loài.

Dưới kia mệt quá cuộc đời, Xa xa, xa quá ,vơi vời Việt Nam.

Sống ở một đất nước giàu nhất thế giới, sao lại “ mệt quá “ cái mệt của thể xác, chẳng thấm vào đâu so với cái mệt tinh thần, cái mệt dằn vặt ngày đêm. Quê hương Việt Nam mỗi ngày một xa trong tâm tưởng xa… xa quá….vời vợi. Những từ không thể thay thế được, để diễn tả nỗi thất vọng. Thật ra, đâu có xa, với phương tiện hiện đại, ta có thể đi cùng khắp thế giới dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng ở đây, xa vời vợi … là khoảng cách tâm lý. Việt Nam quê hương tôi – Việt Nam ngày đó – mỗi ngày một mờ nhạt trong tôi. Có lẽ vậy mà nhiều người Việt về nước như một chuyến du lịch hơn là về thăm nhà, thăm quê. Nỗi buồn xa xứ đeo đẳng tháng ngày, nên nếu bắt gặp một hình ảnh nào giống quê nhà, dù rất tầm thường, cũng gợi lên những quặn đau. Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc, Chuối mẹ, chuối con, trời hỡi quê nhà !

“ Trời hỡi, quê nhà “ một tiếng reo vang hay một nhói đau con tim ? Bốn chữ giản dị mà thấm thía. Rồi dịp tết đến, một ngày lễ rất quan trọng, linh thiêng của người Việt, nỗi nhớ nhà càng lồng lộn :

Ừ nhỉ, hình như lòng rướm lệ, Như một người không có quê hương.

Tr. 16

Ừ nhỉ, cuối năm nơi đất lạ, Mưa mênh mông và sông mênh mông.

Tr. 16

Hẹn với lòng tháng chạp sẽ về quê, Mà hơn ba mươi năm vẫn chưa về cố xứ.

Tr. 76

Thông cảm cho tác giả vậy, một lý do mà chẳng muốn nói ra ; để bù lại, tác giả có cách của mình,

Em có hỏi sao ta chưa về cố xứ, Ta trả lời : ta về chứ đêm qua, Ta vẫn về, rất thầm lặng, thiết tha.

Tr. 79

Ừ thế cũng được, đó là một giải pháp khả thi, để ru nhẹ con tim thao thức một nỗi niềm. Tình quê – tình người, người và mình, một câu hỏi mà bế tắc ở câu trả lời, một sự bế tắc mà tác giả hé mở :

Tôi đứng giữa nỗi buồn lịch sử, Lẫn ngông cuồng của tuổi trẻ hôm qua.

Tr. 56

Nguyên nhân từ “ lịch sử “ và cũng từ sự “ ngông cuồng “ của tuổi trẻ, có đúng thế chăng, trách người rồi lại trách ta, phải chăng là để che lấp cái thế “ chẳng đặng đừng “ !

Dù sao thì vẫn quý hóa tấm lòng “ trung trinh “ của người xa xứ :

Vỏ tôi đó nhưng hồn tôi trôi dạt, Em ở quê nhà có hiểu lòng tôi ?

Tr. 60

Học giả Hoàng xuân Hãn, vì môt lẽ riêng, phải sống rồi chết ở quê người, cũng đã tâm sự vào lúc cuối đời :

Thể gửi xứ người, Hồn về đất Việt.


(Viếng quê nhà- H.X.H)

Nỗi buồn lịch sử vẫn chưa chấm dứt, dù ngày ấy đã cách xa 40 năm, đủ để một người trưởng thành. Vẫn có người ra đi, rời quê hương nhiều hơn là qui cố hương. Một hậu quả dai dẳng, đau nhói trái tim mẹ Việt Nam.

Tâm tình một nẻo quê hương, Người về cố quận, muôn trùng ta đi.

Huy Cận

Mượn tạm 2 câu của Huy Cận để diễn tả phần nào nỗi lòng ngổn ngang của kẻ ra đi trễ muộn.

Thế mới hay : Quê hương là chùm khế ngọt Dù khế có ngọt mấy, thì dư vị của nó vẫn chua kèm lẫn chút chát.
(1) Xa xứ của Trần hoài Thu, Bảo Lộc, tháng tết 2015
Thư ấn quán xuất bản 2010

Về đầu trang


Thông Minh, Ngu Dốt Và Vấn Đề Kiến Thức

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ,PHỖNG SUY:
THÔNG MINH, NGU DỐT VÀ VẤN ĐỀ KIẾN THỨC

Phản ứng của trí tuệ trước một vấn đề, sự kiện, diễn ra

- Nhanh chóng đối với người thông minh

- Chậm chạp đối với người dốt

- Quá chậm hay không có phản hồi đối với người ngu

Kết quả này cho biết chất lượng của não bộ con người.

- Có thể cải tạo hai lớp người dưới ( dốt và ngu ) để họ khá hơn không ?

Để họ được ngang hàng với lớp thông minh thì không thể; vì yếu tố thông minh là quà tặng của trời, chứ không phải là sản phẩm của con người. Tục ngữ có câu : “Cần cù bù thông minh”, người ta có thể kiên trì, chăm chỉ và cố gắng sẽ được như người thông minh, nhưng chỉ phần nào. Đừng nên quá chú ý về câu tục ngữ này để bắt con “học ngày chưa đủ, tranh thủ học đêm” “học trường chưa xong, long rong chạy lớp”, nhảy sô tối ngày để mong nhồi nhét cho đầy kiến thức, thì kiến thức sẽ rơi vãi khắp nơi chứ không nạp vào đầu được. Khối óc chỉ chứa kiến thức ở một mức độ nào đó mà thôi.

- Còn lớp người ngu, xem ra chẳng phương pháp nào hiệu quả. Ta không thể dạy một con vật ( bộ não kém phát triển ) thành có trí khôn của con người. Nghề chân tay đòi hỏi những thao tác đơn giản sẽ phù hợp cho loại người này.

Vậy thì chắc chắn có 3 loại người này, căn cứ vào trí khôn phát triển, nếu không muốn nói thêm một hạng người nữa là hạng người “khôn cho người nhái” (bắt chước) dở cho người thương, dở dở ương ương khiến người bực mình.

Đừng ngạc nhiên khi thấy một người ít học (dốt) mà thành đạt. Chắc chắn là họ thông minh, nhìn thấy trước giải pháp của vấn đề, thêm nữa, trời cho họ gặp nhiều may mắn (gặp thời, trời cho). Loại người này, nếu được học tới nơi, tới chốn, họ sẽ thành công lớn. Đó là trường hợp của vị doanh nhân nào đó ở bên chợ Dalat xưa kia. Phục cho vị này “biết người, biết ta” khi trong mọi cuộc họp, chỉ ngồi nghe chứ không phát biểu. Ông đã biết áp dụng nhuần nhuyễn phương châm “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” nghe để có thêm chút kinh nghiệm, kiến thức bồi đắp cho sự thiếu thốn của mình, và ông biết chắc là nếu phát biểu thì chỉ là mớ kinh nghiệm không hẳn đã hữu dụng trong mọi trường hợp. Một người cán bộ dày dạn kinh nghiệm thời bao cấp mà cất nhắc lên thành Ông lớn thời đổi mới thì công ty không đóng cửa thì cũng sập sệ, đừng hy vọng phát triển.

- Sự thông minh cộng thêm năng khiếu bẩm sinh về một số lĩnh vực nào đó có thể cho một “ngôi sao sáng”; đó là trường hợp của tiểu thuyết gia Kim Dung một thời, nhờ thêm “nàng tiên nâu” đưa đường, chỉ lối, ông chỉ cần xem qua đoạn cuối rồi ro ro viết tiếp đoạn tiếp, dài bao nhiêu cũng được, mà chẳng cần nghĩ đến đoạn tiếp theo phải thế nào (đến lúc đó sẽ tính ) xin lưu ý rằng tài năng này chỉ giới hạn trong năng khiếu trời cho, rời lãnh vực này, sẽ thất bại vì thiếu kiến thức chuyên môn.

- Vì vậy thông minh phải đi kèm kiến thức, mà kiến thức (sự học) thì mênh mông. Nhiều người dựa vào chỉ số thông minh và mớ kiến thức hổ lốn, với cái miệng dẻo quẹo, có thể thao thao, bất tận lừa bịp thiên hạ, đó là trường hợp “thùng rỗng, kêu to” Ông Khổng cảnh cáo hạng người này : “biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết mới thực là biết”.

- Ấy thế mà, xã hội xưa lại nói “sỹ kiêm bách nghệ”. Kẻ sĩ, người trí thức cái gì cũng viết, cái gì cũng lãm được. Đừng ngạc nhiên, vì đó là xã hôi khép kín với một triết lý, học thuật duy nhất có trong tứ thư ngũ kinh. Họ cho rằng học thuộc 9 quyển sách này là đủ kiến thức, vì cổ nhân đả thu gom tất cả túi khôn của thiên hạ vào đó rồi. Hãy thuộc kỹ mà mang ra áp dụng là thành công. Một bài giảng, một khảo cứu nếu dẫn được câu cổ nhân nói thế là xong. Chân lý đã rõ, khỏi bàn cãi gì nữa.

- Thế giới nay đã “phẳng” giao lưu văn hòa đã đi sâu khắp năm châu, chẳng ai dám vỗ ngực là minh biết hết, dù trời có cho người đó sống vài trăm năm như Ông bàng Tổ, để thâu tóm sự hiểu biết. Nói điều gì cũng phải “uốn lưỡi” bảy lần như câu ngạn ngữ Pháp rồi hãy phát ngôn và cần khiêm nhượng như ông cha ta khi phát biểu : “Theo tôi” “theo ngụ ý” “theo hạ nhân thì” và cẩn thận thì “em chịu, em chả biết gì, xin nghe…”.


Thơ Thơ Thẩn Thẩn

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ , PHỖNG SUY:THƠ THƠ, THẨN THẨN (1)

Hôm họp mặt ở Cáp treo Dalat, nẩy ra một cuộc tranh cãi khá ồn ào : Một anh hứng lên đọc một bài thơ tâm đắc, liền nhận được lời phản bác cho rằng không phải thơ : Mi không hiểu được thơ tao, tao làm đến mấy trăm bài…anh kia đế tiếp : cần chi mà hiểu….Tôi đứng lên hòa giải : cả 2 anh đều đúng : hứng thì ra thơ, xuất khẩu ( khẩu đây là cửa miệng, chứ không phải cửa biên để xuất hàng) thành thơ mà. Còn anh kia cũng đúng : Cứ nói toẹt ra còn dễ hiểu hơn là vần với điệu ! Cuộc hòa giải ba phải thế mà hiệu nghiệm, vì chẳng ai thắng ai thua !

Định nghĩa thơ là điều khó, chưa ai đưa ra được, chỉ là tổng quan về thơ, cho nên mới sinh ra nhiều trường phái thơ. Trường phái này tàn lụi thì trường phái kia xuất hiện, nhưng chỉ có thơ đích thực là còn sống. Thơ cũ ở Việt Nam có nhiều gò bó nên đầu thế kỷ 20 nhân có phong trào đòi đổi mới toàn diện xã hội, người ta đã trình làng loại thơ mới rồi thơ tự do ít gò bó hơn. Song song với thơ mới thì thơ cũ như thơ đường vẫn có những bài sáng giá như thơ của Quách Tấn chẳng hạn, rồi loại thơ mới như thơ 12 chân của Nguyễn Vỹ, cho đến những năm 70 thế kỷ trước, vẫn được Ông hô hào, nhưng nay đã không thấy.

Nói chung, thơ vẫn là thơ, dù thơ mới hay thơ cũ. Làm thơ, vẫn cần có vài điều kiện để tuân thủ, chứ không hoàn toàn tự do được. Nói mà cũng phải ‘uốn lưỡi 7 lần, trước khi nói” huống chi là thơ, một cách nói hay nhất trong các cách nói. Hình thức, thì ít nhiều phải có vần, có điệu, nếu không thì thành văn xuôi rồi. Vần, điệu để dễ ngâm, để diễn đạt cho du dương, dễ thấm vào lòng người. Thơ tự do, bỏ đi hết vần nhưng điệu thì vẫn còn, chữ dùng trong thơ còn được chọn lựa, các chữ dung tục thì dành cho văn nói, văn viết còn không dùng, huống chi là thơ. Nhưng dùng chữ tục mà ý nghĩa lại thanh như Hồ xuân Hương thì chẳng ai địch nổi : “Thân em vừa trắng lại vừa tròn…. Quân tử có thương thì đóng cọc, xin đừng nắn nót nhựa ra tay…”. Nhưng nếu chú ý quá nhiều về vần, điệu mà quên nội dung thì chỉ được những bài văn vần, bài vè, bài thơ con cóc, mà nội dung là ý chứa đựng trong bài thơ, người xưa đã từng ngẫm nghĩ và buồn khi nói rằng :


Ngã kim nhật tại tọa chi địa,
Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi.

(Mảnh đất ta đang ngồi đây thì ngày xưa đã có người ngồi đó rồi). Cái ta nghĩ, người xưa đã nghĩ như vậy, có gì mới đâu ? Nhưng ca dao cho ta bài học về cách “làm mới”, cách diễn đạt, cho tư tưởng ngàn xưa khoác bộ áo mới. Cùng nói về tình yêu, về sự thương nhớ, ca dao có những cách diễn tả khác nhau :


1- Qua đình ghé nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
2- Thương nhau cởi áo trao nhau
Về nhà mẹ hỏi : Qua cầu gió bay
3- Yêu em, thất bát sông anh cũng lội, tam thập lục đèo anh cũng cứ anh leo.

Cung bậc tình yêu đâu khác nhau, nhưng cách diễn tả ở mỗi câu đều “mỗi câu một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Do đó làm thơ đâu có dễ, trong một bài thơ ta chỉ tìm được vài câu, vài chữ mang chất thơ. Làm thơ đòi hỏi một tâm hồn nhạy bén, không thể học làm thơ bắt chước làm thơ được. Đa số là những thợ thơ,thi sĩ, thi nhân, thi hào thật hiếm hoi.
Tháng 10.2015

Về đầu trang


Thuyền Nhân,Ngày Trở Về

Thầy Phạm Văn An

Tôi gọi anh là thuyền nhân. Anh nghiêm giọng nhắc tôi : “Thầy đừng dùng từ đó ! Chẳng vui vẻ gì, thầy khiến em nhớ lại những ngày lênh đênh trên biển, đầy tuyệt vọng, lại nhớ đến nhiều người cùng đi, nay không còn nữa, những cô thiếu nữ xinh đẹp, những em bé ngây thơ, những cụ già yếu đuối từ từ chìm theo con thuyền; thấy mà chẳng làm gì được, may mà em vớ được mảnh gỗ, cố bám vào, đầy tuyệt vọng, thế mà , trời xui đất khiến thế nào, lại được thuyền lạ cứu thoát”.

Suy đi, nghĩ lại, tôi vẫn phải dùng từ thuyền nhân, một từ đã được từ điển nhiều nước chép thêm vào ngôn ngữ của họ, một từ được khai sinh cùng với biến cố 1975. Biến cố mà chẳng người Việt nào lại không bị “sứt mẻ” trong tâm thức lẫn cuộc đời.

Nhìn thấy anh, tôi thấy rõ từ đó đã để trong anh những vết hằn không phai, cả trong lòng lẫn trong đời.

Anh đi từ dạo ấy, 40 năm sau, nhiều người đã về thăm lại cố hương, thế mà, với anh, nay mới thấy “vác” mặt về.

Phút gặp lại, thật kỳ lạ : anh ôm chầm lấy tôi, ôm chặt như không thể chặt thêm; chẳng khóc mà cũng không cười, chằm chằm nhìn tôi rồi nhả ra nhận xét : thầy vẫn như xưa. Mừng quá ! mừng quá ! mọi người đứng quanh, lặng im. Anh trưởng lớp cũ nhanh miệng phá tan phút căng thẳng, mời mọi người cùng vào nhà hàng. Buổi hội ngộ bắt đầu và anh trở lại như xưa - hồi còn đi học - nhanh miệng, nhanh cả tay chân đẩy mọi người vào chỗ, bắt tay một loạt rồi yên vị, tâm sự. Anh cho biết được cứu thoát rồi sau đó được chính phủ Úc cho nhập cư. Lúc đầu muôn vàn khó khăn : lạ nước, lạ cái, lại bất tài vô tướng, làm đủ mọi nghề, làm ngày làm đêm vì sợ chết đói – Từ khi được cứu thoát, anh ham sống hơn bất cứ bao giờ và nhờ ham sống, anh quên quê hương và người thân bao giờ không biết. Khi thấy nhiều người về, anh dửng dưng với ý nghĩ mình đã mất quê hương hay nói đúng hơn không còn quê hương, nước Úc hào phóng cho anh ngày hôm nay được đầy đủ, nhưng anh vẫn không thể coi Úc là quê hương anh được, vì ở đó không có bờ tre, dòng sông cũ, không được “mày,tao” văng tục như xưa. Anh nhớ lắm những ngày là người Việt Nam, ở quê nhà Việt Nam và căm thù, căm thù…

Giọng gay gắt bỗng vụt tan, nhìn mọi người, anh cười và đưa ly bia lên, dõng dạc : “nào chúng mày cùng chúc cho sự đoàn tụ này”.

Sau hồi nhao nhao, ồn ào, dằng co, vật lộn trong những cái ôm, cái hôn, mọi người cùng lên xe, đi thăm phố phường. Anh dặn : đi đâu thì đi, nhưng đừng qua nhà cũ của tao. Anh trưởng lớp biết ý, đưa đoàn đi trước.

Trên xe, anh ngó nghiêng mọi vật. Bỗng, anh yêu cầu đến trường cũ, mọi người thuận theo. Dừng chân trước cổng trường cũ, anh lại ngó nghiêng rồi vào. Anh đi từng bước, dừng chân hết chỗ này đến chỗ khác rồi thắc mắc hỏi anh trưởng lớp : phòng chúng mình học ở đâu ! Rồi anh tiến đến vị trí anh trưởng lớp chỉ : mọi thứ đều đã thay đổi nhiều : bàn, ghế cũng đã đổi mới. Anh quan sát mãi rồi nhất quyết chỉ : “đúng là chỗ này, dãy bàn này, tao ngồi ở đây…”. Anh lặng im lúc lâu rồi đột ngột ra cửa, lên xe giục mọi người ra về.

Có lẽ tiếc cho buổi gặp mặt ngắn ngủi, anh rủ mọi người đi uống cà phê. Bốn cái bàn được kéo lại, xếp thành hàng dài, những ly cà phê mang ra, rồi tiếng ồn ào nổ lên “mày, tao, thằng, đứa” được mang ra xưng tụng cuộc gặp gỡ. Tôi ngồi yên một góc, thấy mình thừa, tỏ ý muốn về. Anh không chịu, nhưng theo ý nhiều người : thầy mệt để thầy về. Anh đứng dậy, đưa tôi ra khỏi quán, không ôm chầm mà cũng không bắt tay, cúi rạp đầu chào, tiến tới gần nói nhỏ : thưa thầy sang năm em sẽ về, mong lại gặp thầy !

Tháng 3/2018

Về đầu trang


Tìm

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: TÌM

Tôi nhặt được một từ mà từ điển không ghi – Tự tìm – từ này có nhiều cách giải thích.

Tự tìm là tự đi tìm lấy cái mình mất (thất lạc), chẳng ai giúp đâu. Điều này khó đa, vì nếu tôi đã tìm được, tôi đã không cần nhờ ai. Vì chủ quan – con người vốn rất chủ quan – nên nhiều khi tìm mãi mà không thấy, trong khi vật kiếm tìm thì chình ình trước mắt – người khác thấy, mình thì không.

Nếu tìm là thấy, biết như câu “Hãy tự biết mình” (Connais toi, toi même) thì sự tự biết là điều thức tỉnh, biết rõ mình, thì tự tìm rất cần thiết để khỏi rơi vào bẫy chủ quan, mù quáng do chính mình tạo ra. Tục ngữ có câu “thùng rỗng kêu to” để chỉ kẻ ngoa ngôn, tán phát như “con ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung” chỉ có một mớ kiến thức hão, đong chưa đầy một muỗng cà phê, mà tưởng mình biết rõ “cả gần trời”. “Biết tuốt” là kẻ nông nổi, hồ đồ. Nên Khổng Tử nói : “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, mới là người biết”.

Khả năng nhận biết là một đặc tính nổi trội của con người. Socrate nói : “Con người là một cây sậy, nhưng là cây sậy biết tư duy” và Descartes dùng cái tư duy ấy đã đưa đến kết luận : “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”. Từ điều nhận biết ra “cái tôi” nhân loại đã biết ra ngoài cái tôi còn có người khác, rộng ra nữa là có cả vũ trụ. Sự tiến triển của tư duy tạo nên sự tiến bộ của nhân loại. Nhân loại ngày nay đã biết rất nhiều, đến độ tưởng như không gì ngăn cản được cái biết ấy. Cứ kiến thức sau thay thế kiến thức trước, bao nhiêu phát minh đã ra đời, đến nỗi nhân loại tưởng như đang tiến gần tới “chân lý” biết được cả “Ông trời” Nhà Phật gọi cái biết này là “Trí hữu sư” cái biết được dạy; người này dạy người kia, nó vẫn nằm trong giới hạn của con người, mà con người là hữu hạn nên cái biết của con người cũng giới hạn như chính bản thân nó, do đó nó vẫn bị sai lầm.

Còn hiểu tự tìm là tìm kiếm xem bản thân mình có những góc khuất nào mà ta chưa biết hết (chưa khám phá được, khó khám phá) thì có đó.

Chẳng hạn sức mạnh vật chất của con người, thấy các võ sư, võ sinh dùng tay không mà đập vỡ cả chồng gạch hoặc để cái xe hơi to đùng đè lên mình mà không sao. Ta thấy cái thân hình nhỏ bé này chứa đựng nhiều sức mạnh vô song, nhưng đừng vội thí nghiệm, kẻo mất xác oan uổng !

Còn sức mạnh tinh thần, đã có một khoa học chuyên khám phá sức mạnh vô hình này như “nhân điện học”, “thôi miên học” và vài kết quả bước đầu đã được kiểm nghiệm, như dùng chúng để chữa bệnh, điều hòa tâm tính, thậm chí để liên lạc với thế giới vô hình.

Dùng được các sức mạnh này phải có người dạy và đòi hỏi thời gian dài kiên trì luyện tập. Thầy kém hoặc thời gian luyện tập không đủ và sai phương pháp sẽ cho hậu quả nguy hiểm, khó lường, như trường hợp học yoga sai sẽ sinh ra chứng “tẩu hỏa nhập ma” một chứng về thần kinh, thành kẻ dở hơi, điên khùng.

Trong phân tâm học các chiều sâu của vô thức, Jung đã thấy các hố sâu của vô thức con người, có những sức mạnh vô hình, thiện ác lẫn lộn, cho nên có câu nói : “Con người vừa là quỷ dữ vừa là thánh nhân”, biết khai thác các “hố thẳm” này, ta sẽ có được những khám phá nội tại vô giá, nhà Phật gọi những kiến thức ấy là “Trí vô sư” sự hiểu biết không cần thầy, sự hiểu biết trực quan, sự hiểu biết siêu nhiên, sự hiểu biết trời cho.

Phật Thích Ca sau 49 ngày thiền định, đã có cái biết này. Thiền học nhận thấy con người có một khả năng nhận xét về cảm nhận chân lý từ phần tinh thần gọi là “Tâm” , sở dĩ con người không nhận ra phật tính của mình vì vị vô minh che khuất. Tước bỏ được cái vô minh, con người trở nên sáng láng trong nhận thức, hành động và Thiền chính là phương pháp gột rửa vô minh, đem tâm về thân, làm được điều này ta là người “giác ngộ” nhà Phật là bậc “đại giác”.

Kẻ học thiền như ta, đạt được cái tâm ổn định để “Tâm, thân an lạc” là tốt rồi, còn muốn nhìn thấy “niết bàn” thì… đã mấy ai được như đức Phật. Nên phải tu hoài, tu mãi, tu đến hơi thở cuối cùng cũng chưa chắc đạt được gì nếu không biết cách tu. Đông phương coi tu là việc làm cần thiết và trên hết, để thành người trước đã như Khổng Tử nói : “Từ bậc thiên tử cho tới kẻ thường dân, ai ai cũng phải lấy sự tu thân làm gốc” và câu nhật tụng của nhà nho là : Tu, tề, trị, bình. Thân có tu, thì mới làm gương sáng để sắp xếp gia đình, gia đình có ổn thì mới có khả năng trị nước rồi mới đem lại thái bình, ấm no cho nhân loại.

Giản dị Tu là để thành người đích thực, kẻo

Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.

Vậy tu là tự tìm ra giá trị của bản thân.

Tháng 11/2016


Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO

Hôm ngồi ở nhà Ông ngân hàng chờ anh, tán gẫu miên man thế nào mà thành ra vấn đề tôn giáo. Có vị nói là theo Phật giáo, có vị gãi tai cười trừ mà rằng : không biết; có vị thật tình khai là chỉ thờ cúng tổ tiên, có vị lại thở dài : không hiểu chết rồi sẽ đi đâu đây !

Trừ những tín đồ Công giáo, Hồi giáo là tôn giáo có giáo lý và lễ nghi rõ ràng, bắt buộc tín đồ thực hành định kỳ, thì đa số người Việt Nam mù mờ về tôn giáo của mình.

Thống kê của nhà nước thì chỉ có 20% người Việt Nam là có tôn giáo rõ rệt; đa số là theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Và những người theo “đạo ông bà” này cũng lân la đi lễ chùa tuy chẳng biết một câu kinh bẻ đôi. Thắp nén nhang, lễ ba vái rồi lễ ông Phật nào đấy ? Biết Phật là được rồi ! không cần biết Hồng Danh ngài là gì .

Đạo Phật ở Việt Nam, đa số thuộc phái đại thừa (người Kmer theo phái tiểu thừa) rất thoáng. Người ta bảo : Cửa Phật là cửa Không, cửa chùa mở rộng ai muốn ra, vào tùy ý (theo hay bỏ đạo là tùy mình, không sao) Ta tìm đến Phật, chứ Phật không tìm đến ta (nên Phật giáo không có khái niệm truyền giáo) vả lại “Tâm tức Phật” Phật tính ở sẵn trong ta, đâu cần tìm. Cho nên chỉ trừ hàng cư sĩ, Phật tử có quy y thì còn biết lễ nghi, kinh kệ, còn đa số tin Phật, thờ Phật là từ lòng thành mà ra.

Nhưng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì nhà nào cũng biết, tượng trưng là bàn thờ gia tiên đặt nơi trang trọng nhất nhà. Hàng ngày thắp một nén nhang, thường là ông già, bà cả làm việc này, còn mọi người cũng ít để ý tới. Có chăng là ngày giỗ tết thì mọi người lăng xăng hơn, nhưng phần lễ nghi vẫn giành cho người lớn tuổi, con cháu thắp cho tổ tiên một nén nhang là xong bổn phân. Giản dị là thế, nhưng nền nếp gia đình từ xưa để lại vẫn được bậc trưởng thượng nhắc như mọi người giữ gìn thành một thứ đạo đức khẩu truyền : tôn kính mọi người, thương yêu giúp đỡ mọi người v.v…

Bên cạnh đạo đức gia đình, thì người Việt cũng tin một đấng thần linh cao cả gọi là Ông Trời, nhưng Trời chỉ vua mới được thờ (tế Nam Giao mỗi năm) thường dân chỉ tôn kính. Có việc gì quá sức thì xin “Trời Phật” chứng giám, phù hộ . Khổ quá thì kêu “trời ơi” như xin minh oan, xin trợ giúp. Sướng quá cũng “trời ơi” như câu cám ơn , câu ca ngợi.

Dân gian còn đúc kết những kinh nghiệm ngàn đời để răn dạy như “nhờ phúc đức tổ tiên để lại” “Ở hiền gặp lành, ở ác tan tành ra tro” “quả báo nhãn tiền” v.v… Kinh nghiệm thực tế như “cha mẹ hiền lành để phúc cho con “có đức mặc sức mà ăn”, câu “thương người như thể thương thân” là triết lý dân tộc mà bất cứ người Việt nào cũng biết, đã cụ thể thành lòng nhân ái của dân tộc Việt.

Chẳng triết lý cao xa, nhưng đạo làm người của dân ta có cả những nét chính của các tôn giáo như : Từ bi, hỷ xả của Phật giáo; Công bằng, bác ái của Công giáo.

Sống theo đạo lý dân tộc như vậy, chết đi có được lên thiên đàng không? (hay niết bàn, miền cực lạc cũng vậy).

Trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Peter Sewald với Hồng y Ratzinger (sau này là giáo hoàng Benedilô XVI ) năm 1996 có câu hỏi đại ý là : Nếu một người ngoài Công giáo sống hoàn toàn theo tính bác ái, lẽ công bằng, tin có trời thì khi chết, có được lên thiên đàng không ?

Đại khái , Hồng y trả lời :

Nước thiên đàng dành cho người Công chính. Vậy ai sống công chính thì họ thấy được nước thiên đàng. (Tác phẩm Muối cho đời, bản tiếng Việt, trang 25 ).

Vậy theo tôn giáo là một chuyện, thực hành lẽ đạo (của mọi tôn giáo ) là một chuyện. Cứ sống hợp lòng người là đẹp lòng trời. Phút lâm chung sẽ thảnh thơi ra đi về một thế giới an lành, cứ tin như vậy đi vì tổ tiên ta đã tin như vậy.
Bảo Lộc, Việt Nam

Về đầu trang


Tớ Thích Cậu Thật Đấy

Thầy Phạm Văn An


Đó là một đầu đề một phim ngắn trên Facebook tuổi trẻ (W.W.W. Facebook.com.tuoitre ) nói về tình yêu tuổi học trò. Một đề tài chẳng có gì mới – Chúng ta ai cũng đã qua khoảng khắc này

– có điều ở người này thì thoáng qua, ở người khác in đậm những dấu ấn khó quên. Ở đây tôi chỉ muốn đề cập những khía cạnh khác của vấn đề.

Ta có những rung động đầu đời từ khi nào ? Trong truyện Kiều, đoạn Kim Kiều gặp gỡ trong lễ thanh minh có câu :

Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo,

Kim Trọng đã bắt đầu từ giã, mà hai Kiều còn “ghé” theo, nếu không có tình ý gì, coi đó là kẻ gặp bên đường thôi, thì nhìn theo làm gì cho mất thì giờ ! Ở một chỗ khác , Nguyễn Du nói rõ hơn :

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.

E lệ với người khác phái thì chẳng là dấu hiệu của tình yêu sao ! Khi đó hai Kiều bao nhiêu tuổi ? Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp kê . Tuổi cặp kê là tuổi 15, xấp xỉ vậy 2 Kiều chỉ độ 14 – 15 có khi chỉ 13 – 14 tuổi; trùng với kinh nghiệm của các cụ : Gái thập tam, nam thập lục. Theo đó thì các cô biết yêu trước các cậu. Ấy vậy mà trang nam nhi tưởng mình đảm lược trong tình trường mà té ra bị phe liễu yếu xỏ mũi bao giờ chẳng hay. Xỏ mũi bằng nhiều chiêu thật bài bản : Dáng đi, nụ cười, khóe mắt v.v… Tôi nhớ có loài hoa bắt mồi tiết ra chất thơm; côn trùng nào léng phéng tới gần, đậu vào vòi nhị là bị tiêu luôn !

Ngày nay, quyền tự do được “ quảng cáo “ rầm rộ thì sự tỏ tình không còn rắc rối như thời Kiều nữa. Cái việc “ Tớ cũng thích cậu thật đấy “ diễn ra nhan nhãn ở các công viên vào bất cứ giờ nào trong tuần !

Có điều ở tuổi này, có nên để tình yêu mới chớm phát triển không ?

Người bảo có vì cho rằng đó là tình cảm tự nhiên, trời cho, cấm cũng không được ! Người khác lại bảo phải cấm vì cho rằng ở tuổi này “nghĩ chưa tới nơi, chơi không chọn chốn” nên dồn sức vào học đã rồi tính sau. Ngẫm lại câu thơ của Nguyễn gia Thiều trong Cung Oán :

Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán, Chết đuối người trên cạn mà chơi.

Đúng là Ông trời “trớ trêu “ thật ! cho người ta biết yêu sớm mà lại không cho người ta các điều kiện “ cần và đủ “ để cuộc tình suông sẻ.

Một mái nhà tranh, hai trái tim vàng .

Thật lãng mạn , nhưng vẫn thiếu 1 điều cốt yếu cho cuộc sống là lu nước lã thì duy trì được mấy ngày ? mà cuộc sống yêu đương lại còn cần nhiều cái đắt giá hơn lu nước nữa ! làm sao có thể đủ đầy ! cho nên lời than trong bài hát : Em ơi nếu mộng không thành thì sao ! Thật là mối đe dọa tiềm tàng.

Đợi đến lúc điều kiện đã đủ, đôi khi đã dư thừa, thì tình yêu đâu còn như “ Thuở ban đầu”, lúc này là tính toán, kế hoạch…. Một thứ tình yêu đi kèm điều kiện, dù chẳng ai muốn nói ra. Thế cho nên, một triết nhân đã nói : chỉ có cái “hình như là tình yêu” chứ chưa có cái tình yêu đúng nghĩa. Xa hơn triết học coi tình yêu như một thứ chân lý, một ý niệm siêu hình như ý niệm trong tôn giáo, cho nên con người tìm ở đó một sự cứu rỗi cuộc sống hơn là một sự thụ hưởng, chiếm đoạt.

Tản đà đã từng nói :


Một là duyên, hai thời là nợ,
Sợi xích thằng đố gỡ cho ra.

Đã là con người thì phải đi tìm tình yêu, may mắn thì được cuộc tình đẹp (duyên), hẩm hiu thì mang nợ vào người, mang một bản án khổ sai chung thân.
Tháng 8/2015

Về đầu trang


Tờ 20 đô la

Thầy Phạm Văn An

Đề bài có trong nguyệt san Giác ngộ số 168 của tác giả Minh Phú (1); nói về giá trị của con người. Đại khái có những đoạn sau :

…Một diễn giả giơ tờ 20 đô la lên, hỏi : “ Ai thích tờ giấy 20 đô la này ?” nhiều bàn tay giơ lên…Ông vò nát tờ giấy bạc rồi lại hỏi : “ ai vẫn thích tờ giấy bạc này ?” Nhiều cáng tay đã được giơ lên cao. Ông thả tờ giấy bạc xuống nền nhà và dùng giày chà đạp. Ông nhặt nó lên và lại hỏi : “ Bây giờ có ai vẫn thích nó ?” nhiều cánh tay vẫn giơ lên.

Diễn giả nói tiếp : “ Các bạn đã được một bài học rất có giá trị. Bất kể là tôi đã làm gì với tờ giấy bạc này, bạn vẫn thích nó, vì nó không giảm giá trị đi… Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta cũng bị rơi xuống, bị nhàu nát và bị nhiễm bẩn bởi những quyết định chúng ta đưa ra hoặc tại hoàn cảnh, nhưng dù điều đó xảy ra…bạn cũng không bao giờ mất giá trị của mình… dơ hay sạch, bạn vẫn vô giá đối với ai yêu thương bạn…

- Trước hết, so sánh đồng đô la với con người là một sự so sánh khập khểnh. Sự tương đồng trong phép so sánh chỉ áp dụng trong cùng chủng loại. So sánh khác chủng loại, đôi khi đưa đến kết luận buồn cười. Ví dụ ta nói: con người là động vật đi bằng 2 chân, tay để cầm.Vậy con khỉ theo phép so sánh này – cũng là con người. Cho nên Darwin đã phải căn cứ vào sự tiến hóa để phân ra : loài người, đười ươi, vượn, khỉ v.v… Cao bá Quát cho ta một so sánh vui vui : “ Học trò dăm đứa, nủa người, nửa ngợm, nửa đười ươi “.

- Những chi tiết khác cũng cần đươc bàn

+ Nếu ta bị nhiễm bẩn, bị nhàu nát là do chính ta : Vô ý, chủ quan, kém tài… dù vì nguyên nhân nào, ta cũng phải chịu trách nhiệm; không thể lấy phương tiện để biện minh cho cứu cánh.

+ Nếu sự nhiễm bẩn, nhàu nát là do người khác, thì phải xem chân lý khách quan thuộc về ai ? Hoàn cảnh cũng vậy, nhiều người vịn vào hoàn cảnh để trốn trách nhiệm. Nếu hoàn cảnh khách quan, ngoài sự chi phối của ta, thì sự thất bại không làm mất giá trị tự thân ta có. Một giai thoại về trường hợp này: Đặng trần Thường và Ngô thì Nhậm (TK 18) là bạn thân. Trần Thường theo Nguyễn Ánh (Gia Long), và Thì Nhậm theo Tây Sơn. Khi Tây Sơn sụp đổ, Thì Nhậm bị bắt xử tội đánh roi trước Văn Miếu. Trần Thường ra câu đối :

“ Ai công hầu, ai khanh tướng. Trong trần ai, ai dễ biết ai ?”

Thì Nhậm đáp lại :

Thế chiến quốc, thế Xuân Thu. Gặp thời thế, thế thời phải thế ! Thời thế thay đổi, chứ chưa chắc, ai đã hơn ai !

Cũng nên nói thêm : Với kẻ sĩ xưa, thì dù không gặp thời, vẫn phải giữ khí tiết (giá trị). Không vì lý do gì mà thay đổi lòng dạ, làm hoen ố tiếng tăm của mình, nhà nho có câu :


Phú quý bất năng dâm,
Bần tiện bất năng di
Uy vũ bất năng khuất.

(Được giàu cũng không làm điều xấu xa, bị nghèo khổ cũng không thay lòng đổi dạ và sức mạnh cũng không bị uy hiếp ) Trong Hàn nho phong vị phú, Cao bá Quát cho vài hình ảnh về khí tiết kẻ sĩ không gặp thời
Đói rau rừng; thấy thóc Chu mà trả,
Đá Phú Dương chơm chởm; xanh mắt Di nằm tốt ngáy o o
Khát nước sông, trông dòng đục không vô
Phao vị thủy, ngồi im ho lụ khụ.

+ Tác giả viết : “ dù bạn bị nhàu nát… bạn vẫn là vô giá đối với những người yêu thương bạn… câu nói cần được xem xét lai. Yêu thương là một tình cảm, mà tình cảm thì dễ thiên lệch, cho nên đánh giá một tài năng bằng tình cảm thì không được chính xác. “ Yêu nên tốt…” “Yêu thì quả ấu cũng tròn “chớ nên vì vẫn được người khác yêu, mà lầm tưởng giá trị của mình. Nhưng nếu mọi người vẫn quý trọng bạn, khâm phục bạn thì đúng là bạn có giá trị với họ.

+ Dù sao, cái tài có giá trị hay không còn phụ thuộc vào xã hội, xã hội thay đổi thường kéo theo sự lật đổ mọi giá trị cũ, dù các giá trị đó có giá trị trường cửu, khi đó anh khó mà được coi là người tài, nếu anh không biết “ bó giáo lai hàng “ mà kẻ sĩ thì không uốn lưng cong lại được.

+ Cái tài cũng không được đánh giá đúng trong một xã hội chưa tiến bộ. “ trong xứ mù, kẻ chột làm vua “ kẻ chột là đủ, không cần kẻ lành cả 2 mắt, nhất là 2 mắt đó nhìn xa quá.

+ Kẻ tài cũng cần một chút khiêm nhường thì dễ hòa đồng và thuận tiện để phát huy tài năng của minh.

Và tài là để phục vụ xã hội thì lợi ích hơn là để phục vụ cho chính mình. Nho giáo trao trách nhiệm cho kẻ sĩ.

Vũ trụ chi gian giai phận sự Nam nhi đáo thử thị hào hùng

Bàn về cái tài, thì còn nhiều, có điều người tài cần lưu ý câu Kiều của Nguyễn Du : “ Cái tài đi với cái tai một vần “. Bảo Lộc, tháng 5/2015


(1) Chú thích của bài Tờ 20 đô la,
Tác giả Minh Phú ghi là biên dịch, mà không cho biết nguyên tác. Vậy tạm để tên Minh Phú là tác giả.

Về đầu trang


Tôi Nhớ Tôi Quên

Thầy Phạm Văn An

Hình như con người chỉ muốn nhớ và dạy nhau ( vô tình hoặc cố ý). Nhớ , chứ chưa thấy ai dạy cách quên. Nhà nho thường nói :“ Người quân tử trả thù 10 năm chưa muộn” nghĩa là phải nhớ mối thù càng lâu, càng tốt. Trong suốt thời gian ấy, mối thù ngấm độc đến thối cả ruột gan. Lại có cách nói mạnh mẽ hơn : mối thù truyền kiếp, mối thù ngàn năm, nghĩa là phải nhớ truyền lại mối thù đó trước khi nhắm mắt, để thế hệ sau tiếp tục thù.

Thi sĩ T.T.Kh có một nỗi nhớ từng được ca ngợi : br>


Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lặng lẽ của chồng tôi.
Và từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn dấu trong tim bóng một người.

Hình ảnh cũ dấu kín đã lâu : Từng thu, từng thu ; không biết bao nhiêu mùa thu….

Trong xã hội trí thức hiện đại, người ta phải nhớ quá nhiều, nên nhiều bệnh tâm thần xuất hiện. Đầu óc phải nhồi nhét quá nhiều, chỉ chực bung ra., nếu không thì cũng bị rối loạn, căng thẳng, Chứng stress là hiện tượng phổ biến. Mục đích của các phương pháp thiền là ổn định tâm, nghĩa là đưa trí não về trạng thái cân bằng, vì vậy tây phương rất chuộng phương pháp này. Họ ngồi thiền không phải để giải thoát hay nói đúng hơn họ ngồi thiền để giải thoát căng thẳng trí não mà bình thường ta gọi là xả stress. Nhưng xả xong, họ lại làm việc trở lại để bắt đầu căng thẳng hay họ nạp stress lại. Đây là điều đáng bàn của liệu pháp thiền trong thời đại hậu công nghiệp này.

Kinh nghiệm cho thấy : Nhớ dễ hơn quên, một bài hát nào đó nêu một nhận xét nghiệm ra hay hay : khi muốn quên là khi nhớ thêm.

Lại nghe có bệnh alzheimer cho ta sự quên. Có những người, sau bao năm chung sống, một hôm ngã bệnh, không còn nhận ra người thân và không cả nhận ra chính mình nữa. Họ có những hành động không kiểm soát được, có thể đưa đến tự sát. Theo khoa học, nguyên nhân của căn bệnh này là sự suy thoái thần kinh do một biến đổi gène nào đó. Tôi nghĩ một cách đơn giản : Có lẽ, người ta phải nhớ nhiều quá, sức chịu đựng của bộ não thì có hạn, nên bộ não bị tê liệt và vô dụng. Phải chăng ta cố nhớ và khi không cố được nữa, mới chịu quên ?

Bản thân tôi thì trí óc có nhớ, có quên. Trí nhó khá tốt, nên tôi nhớ rất rõ thời thơ ấu, lúc đến trường, nhớ nhất là cái áo the và cái quần trắng, cố bôi đầy mực cho ra dáng học trò, mà quên thì cũng lắm : Hôm họp mặt ở nhà hàng “Không Tên” Dalat, tôi quên khá nhiều, những gương mặt cũ, có người thì nhớ tên mà quên mặt, có người thì nhớ mặt mà quên tên ( tất nhiên là khuôn mặt 40 năm trước) và nhiều người thì quên cả mặt lẫn tên khiến nhiều buồn vui xẩy ra. Sự quên ở đây thật đáng trách. Không nhớ lúc này thì khi sang thế giới bên kia, hy vọng gì nhận ra nhau ! Giá như có cách nào đó để đẩy ra khỏi bộ não những thứ không đáng nhớ để dành chỗ cho những thứ không đáng quên, thì hay biết mấy.

Tôi lại nghĩ : nếu lúc gần chết được mắc bệnh Alzheimer thì tốt quá. Thường, người ta sợ chết vì nuối tiếc cuộc đời với bao điều quyến rũ : tiền tài, danh vọng v.v… nên không muốn chết, cố níu kéo cuộc đời. Bệnh Alzheimer lúc này có thể mở cánh cửa thiên đàng cho họ : họ quên hết, họ sẽ thảnh thơi rảo bước vào miền cực lạc. Mong lắm thay !
Tháng 11/2014

Về đầu trang


Tội Nghiệp Cụ Khổng

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: TỘI NGHIỆP CỤ KHỔNG !

Đọc một bài của anh Cu Đen, thấy anh thắc mắc về cụ Khổng. Đại khái rằng : Bây giờ mà người ta còn góp tiền xây miếu thờ Khổng Tử…ở tây phương lại có các viện nghiên cứu Khổng giáo… còn ích gì mà nói đến Khổng giáo.

Xin có vài ý vụn vặt to nhỏ cùng anh.

Về việc xây dựng Khổng miếu, chắc anh lầm với xây dựng chùa. Chùa thì càng ngày càng xây nhiều, còn Khổng miếu thì tuyệt nhiên không ! Chỉ duy nhất ở Biên Hòa, chục năm trước, có khôi phục lại văn miếu Trấn Biên (một văn miếu xây vào thời Nguyễn, tượng trưng cho văn hiến phương Nam) nhưng ở công trình mới này, người ta đã đưa cụ Khổng ra ngoài sân, trong một cái miếu nhỏ (như nhà bia) với một phù điêu nghuệch ngoạc vài nét hình Khổng Tử. Trong chính điện thì thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam, nhất là các nhà giáo phía nam như Nguyễn Thông, Ngô nhân Tịnh…

Còn các viện nghiên cứu Khổng học ở phương Tây có nguyên nhân như sau : Khi các con rồng châu Á nổi lên như : Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Phương tây ngơ ngác, chẳng hiểu sao các nước này – vốn là nước chậm tiến, lại thành công “thần kỳ” như vậy. Họ tìm và thấy được là chữ “Tín” của Khổng giáo đã giúp họ nhanh chóng thành công . “Tin” nhau là đủ để hợp tác. Hợp đồng theo kiểu tây phương là e sợ nhau; đặt điều kiện để trói buộc, bắt bí nhau, đôi khi là gài bẫy. Làm ăn mà cứ nơm nớp lo sợ “chiến hữu” phản thùng, quay giáo đâm sau lưng, thì còn tâm trí đâu mà tính toán, chớp thời cơ ! Lúc đầu các con rồng châu Á gồm những tập đoàn dòng họ, bà con, anh em, sau họ thu dụng thêm bạn hữu tin cậy. Chữ “Tin” của Khổng Tử cho họ một sự chí cốt làm ăn, hết lòng với nhau vì sự tiến bộ chung. Họ đã theo đúng phương châm của cụ Khổng : ngũ thường là đức tính quí nhất trong đó có chữ Tín làm đầu. Vì “một sự bất tín, vạn sự bất tin”. Tây phương đã lập các viện nghiên cứu Khổng giáo để xem có moi được thêm ở ông già này “chiêu” nào khác, hấp dẫn hơn. Tìm thì thấy nhưng không áp dụng được vì tư duy hai bên có căn bản hoàn toàn khác nhau : một bên thiên về lý, một bên thiên về tình, thì làm sao hòa nhập được, Ông Khổng lấy “tâm và đức” làm đầu, còn kinh tế phương tây thì vì lợi nhuận mà dùng lý, lý dẫn đến mưu mô, hãm hại kẻ khác để mong có lợi.

Ở Haward có cả viện nghiên cứu Trần nhân Tông. Không hiểu họ đã tìm được gì ở ông vua thầy tu này ? mà có tìm được, họ cũng không áp dụng được ! quan điểm của Trần nhân Tông là “Hòa quang đồng trần” đem cái sáng (cái biết) của mình ra để cùng sống với mọi người (dạy mọi người cho được sáng như mình). Các đại gia Microsoft, Apple kiện nhau ơi ới vì “anh đã ăn cắp bản quyền” của tôi, rồi thỉnh thoảng tin tặc lại “lấy nhầm” tài liệu, sáng kiến của người khác thì làm sao “hòa quang” được !

Tư tưởng Khổng Mạnh còn phù hợp với thời đại mới ? Tất nhiên là khó và có khi là không ! một hệ tư tưởng có từ cách đây 4.000 năm, sao trụ nổi với thời gian ? Ông Khổng nghĩ khi mới có “con trâu đi trước cái cày theo sau” thì nay ông có sống lại cũng phải “đổi mới tư duy” cứ nhìn bộ quần áo thụng thịnh với mái tóc, bộ râu dài, trắng bạc, thì người ngày nay đã thấy là không hợp “gôut” rồi, chứ đừng nói gì đến việc lắng tai nghe ông nói.

Khổng Tử đã chết từ lâu rồi, sao sống lại được để “tự thân đổi mới”! Nhưng nhìn cách sống của các dân tộc đông Bắc Á ( Nhật, Hàn, Trung, Việt) ta thấy tư tưởng Khổng Mạnh còn có ảnh hưởng đậm đà. Thủ tướng Nhật Sato, mỗi khi họp báo, cứ cúi “gập” mình lại để chào mọi người. Còn các đại gia Hàn quốc thì nghiêm chỉnh cúi chào, ít khi bắt tay. Đó là chữ “lễ” của nhà nho. Dù đó là hình thức, nhưng hình thức chưa chỉnh thì tâm sao ngay được ? Ở Việt nam, tư tưởng Khổng Mạnh đã suy giảm nhiều, nhưng ở các trường học vẫn còn thấy kẻ trước trường câu “Tiên học lễ, hậu học văn” mặc dù việc thầy đánh trò, trò đánh thầy, trò đánh lẫn nhau thì không hiếm. Cứ vào mạng sẽ thấy nhiều cảnh ẩu đả hấp dẫn nhất là cảnh nữ sinh đánh nhau. Duy nhất trong phạm vi gia đình, tư tưởng Khổng Mạnh vẫn là chủ đạo, dù đã suy giảm nhiều.

Tư tưởng đó đã ăn sâu vào tâm khảm mỗi thành viên gia đình đến nỗi họ coi là tất yếu. Và đó chính là nét đậm đà trong gia phong, gia giáo của gia đình Việt.

Anh không để ý đó thôi ! Ở anh vẫn còn nhiều nét Khổng Mạnh đáng yêu ! Anh định kỳ về thăm nhà, đó là chữ “hiếu” với cha mẹ. Anh có dự định lo cho các cụ sau này đó là “đại hiếu”. anh khen xôi mẹ nấu ngon, con anh về được các cụ đi đón, đó là chữ “nhân” chữ “thứ” của những người ruột thịt. Các bạn của anh đón, đưa anh thật nồng nhiệt, đó là tình “bằng hữu”v.v… chắc là cần phải sửa đổi cho phù hợp với thời đại. Nhưng thay đổi ra sao? Lấy cái gì dể thay thế còn là bài toán khó. Đầu TK 20, nhóm T.L.V.Đ rồi nhóm Phan bội Châu, Phan chu Trinh cũng đã hô hào đổi mới nhưng chiến tranh đã làm cho dở dang. Sau 1975, người ta thấy “bếp ăn tập thể” “nhà tập thể” rồi bỗng chốc biến mất. Rồi gia đình VN lại trở lại như xưa với nhiều xáo trộn. Cái áo thuở nhỏ đã chật rồi ! sửa lại. nới rộng ra hay thay áo mới là điều phải làm, nhưng đó không phải là việc của Anh, của tôi.

Vậy hãy Wait and see.
Tháng 01/2016

Về đầu trang


Triết Lý Thằng Bờm

Thầy Phạm Văn An

Bài ca dao “Thằng Bờm và cái quạt mo” thì ai cũng biết. Câu cần suy nghĩ là câu cuối “Phú Ông xin đổi nắm xôi Bờm cười!”. Cười đây là chê (chê cười) không thích, không muốn đổi. Từ chối theo cách tế nhị “em chả đổi đâu!” hay cười là đồng ý, “Ông đã đáp trúng tim đen em rồi !” Ô kê luôn…hì …hì.. Bản thân Bờm là một đứa trẻ ngây thơ, quê mùa, đôi khi khờ dại theo cái tuổi ngớ ngẩn của trẻ đồng quê, hay Bờm là đại diện cho cả tầng lớp nông dân Việt Nam thời xưa ?

Ông Lý minh Tuấn trong “Công giáo và Đức Ki Tô” cho rằng Bờm là đại diện cho lớp nông dân cũ, người nông dân chẳng khao khát gì hơn được cơm no, giàu sang phú quý họ không nghĩ tới ! Ba bò, chín trâu, ao sâu cá mè…mà làm gì. Có nắm xôi cho chặt cái bụng là được rồi !

Cách giải thích có phần kiên cưỡng !

Trước hết, sao lại là nắm xôi, mà không là bát cơm ? Người ta ăn cơm hàng ngày, chứ ai ăn xôi trừ bữa ? mà xôi thì đắt hơn cơm. Cơm độn khoai, độn sắn là thức ăn thường xuyên, được bát cơm trắng là tốt lắm rồi. Xôi chỉ dành riêng cho ngày lễ, tết.

Vả lại chẳng người nông dân nào mà không biết . Ba bò, chín trâu giá trị gấp trăm lần nắm xôi. Có bò, có trâu đã là trung nông, ngưỡng cửa của sự giàu sang, ai mà không ham ! mơ còn không thấy được khi phải đi thuê trâu, bò về cày, không tiền thì người cày thay trâu !

Thằng Bờm chỉ là thằng Bờm, không đại diện cho ai cả. Đời nó cũng khổ sở như cha mẹ nó. Tuổi đang lớn, thèm đủ thứ nhất là thèm quà vặt. Mẹ đi chợ về, ngồi ở cổng đợi mãi, được cái kẹo bột, quả chuối là mừng lắm rồi, còn xôi thì phải chờ tết nhất, giỗ chạp, đâu có thường xuyên.

“Tò te, Tí tị, Tò te, bà chết cháu được ăn xôi, ăn chè”, Câu ca dao nói lên tâm trạng của Bờm. Bà chết không buồn mà vui vì được dịp ăn xôi chè. Chữ “được” nói lên niềm khao khát của nó; khao khát được dịp ăn món khoái khẩu của con trẻ - nhất là con trẻ nhà nghèo. Đối với Bờm : ba bè gỗ lim, ao sâu cá mè là việc của cha mẹ nó, chứ đâu phải là việc của nó phải lo ? Cho nên việc trước mắt là “nắm xôi” xá chi cái quạt mo tầm thường – một vật dễ làm, so với nắm xôi là vật quyến rũ, hiếm có ! cho nên Bờm vui sướng trao đổi.

Phần triết lý của bài ca dao nằm ở đâu ? Ở Phú Ông. Kẻ giàu sang hợm hĩnh, giàu sang do ti tiện, do bóc lột dân nghèo : phát canh, thu tô, cho vay nặng lãi…Loại phú ông này đầy rẫy trong làng quê xưa và là hạng bị nông dân căm hờn, khinh bỉ. Phú Ông giàu sang mà không được kính trọng đó là điều ấm ức của Ông; vì thường giàu thì sang ( sang trọng ) phú thì quí ( được mọi người kính trọng), ở Ông có giàu (phú) nhưng không có sự quý trọng của mọi người. Sống trên của cải ê hề ( ba bò, chín trâu, ao sâu cá mè…) Ông vẫn không cảm nhận được hạnh phúc, cho nên khi thấy Bờm hí hửng vui đùa với cái quạt mo, Ông thấy đó là hạnh phúc đích thực. Điều nông nổi của Phú Ông là Ông tưởng cái quạt mo tạo nên hạnh phúc ( thật ra thì tuổi thơ nào mà chẳng có cái hạnh phúc trong trẻo trong tâm mình ) cho nên ông quyết đổi được cái hạnh phúc đó bằng cả gia tài của mình ( cái gia tài đã không tạo nên hạnh phúc cho Ông).

Đi tìm hạnh phúc là điều chính đáng của mọi người, nhưng chân hạnh phúc không dễ gì cảm nhận được để mà tạo nên. Kẻ giàu xổi thường mắc vào trường hợp của Phú Ông và cho nhiều gương soi để đời. Cái thị xã nhỏ bé như lòng bàn tay, thế mà nhiều xe hơi, lại là xe hơi đời mới. Các đại gia “hai lúa” trúng vài vụ cà phê – mà trí óc và đạo đức thì chỉ đong được vài muỗng cà phê – thi nhau làm nhà theo kiểu Thái, mua xe đắt tiền để chở con đi học, chở vợ đi chợ, trong khi chợ và trường chỉ cách nhà vài trăm mét. Về đến nhà ngài cởi trần, xách xô nước ra lau xe, chờ xe khô, trùm xe lại, ngồi uống bia, ngắm xe. Các ngài đang hưởng hạnh phúc do cái xe hơi đem lại. Thiên hạ thì mỉm cười.

Tháng 5.2016

Về đầu trang


Truyền Thống Và Thói Quen

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: TRUYỀN THỐNG VÀ THÓI QUEN

Mười hai giờ trưa, tôi nhận được điện thoại của người cháu từ CA gọi về, anh ta nêu một thắc mắc :

- Cháu hứa với chú là hè này, nhất định cháu sẽ về thăm chú …

Tôi nghĩ là tôi đã làm phiền anh, nên vôi vã ngắt lời :

- Ừ, mà nếu bận việc thì thôi, để lúc khác, không vội gì, chú khỏe mà…

Giọng anh có vẻ tức giận, nói tiếp :

- Không phải vậy, chữ “nhất định” cháu có dùng sai không ? Xem TV, thấy người ta nói : Thu được kết quả “nhất định”. Thế là sao ?

Tôi trả lời :

- Cháu dùng từ không sai. Có phải ý cháu muốn nói việc cháu về là

điều chắc chắn, không sai hẹn chứ gì ?

- Vâng, ý cháu là thế. Vậy “kết quả nhất định” là gì ?

Tôi đáp :

- Người ta muốn nói thu được một kết quả nào đó, một kết quả chưa xác định được rõ ràng, nhưng chắc chắn là có kết quả.

- Sao một chữ mà đến hai ý, mà ý chẳng liên hệ gì cả ! Người cháu than. Tôi nhẫn nại giải thích :

- Từ ngữ cũng biến chuyển theo thời gian, một từ ngữ được dùng ngẫu hứng, nếu nhiều người dùng rồi thành thói quen. Nghĩa mới có khi cách xa nghĩa cũ cả 100km. Người cháu lại bắt sang chuyện khác : Cháu thấy người ta cấm dùng con sư tử Trung quốc mà phải dùng con nghê Việt Nam; Vậy các đình chùa đầy rẫy chữ tàu, sao không bỏ đi, thay bằng chữ quốc ngữ để mọi người đều hiểu, có tốt không? Tôi luống cuống, nhanh trí có câu trả lời : - Chữ nho ở các đình chùa có từ xưa, đó là di sản cha ông để lại, phải giữ gìn để lưu giữ như một vốn có quý giá của dân tộc. Cháu tôi lại ậm ự, có vẻ không đồng ý vì câu trả lời không được thỏa mãn, anh ta tâm sự, đổi sang một hướng khác.

- Mấy thằng Mỹ hỏi cháu về con sư tử, cháu trả lời được , còn mấy cái chữ nho thì cháu chịu thua, nó bảo cháu đọc, cháu cười, nó cũng cười. Thật là xấu hổ.

Anh ta có cái lý của anh ta, và cũng chứa cả tình cảm của người Việt đối với đất nước Việt. C

ái lý của anh ta là việc nên làm thì làm đi, sao lại để “chướng tai, gai mắt” mất tinh thần dân tộc (chữ nho) còn cái không cần làm thì đừng làm, gây phức tạp và lộn xộn không cần thiết ( các từ cũ có nghĩa mới). Nhàn cư, nên xin tỏ lộ một tâm sự vụn : một hôm, tôi tới nhà con, thấy để trên bàn mấy giấy “gia đình văn hóa”, về nhà, chờ nãi chẳng thấy phường tới ban phát cho tờ nào (mà mấy năm trước tôi được). Lẩn thẩn, tự vấn không hiểu mình có làm điều gì sai trái không ! Xét đi, nghĩ lại thì 40 năm nay “một ngày như mọi ngày” vẫn sống vậy, có bê bối gì đâu. Nếu tìm được tội lỗi thì xin các cha giải tội hoặc lên chùa làm lễ sám hối, cho nhẹ người.

Trước được cấp giấy, nay không được thì mình là người “vô văn hóa” rồi còn gì ! Ở VN, người ta xác nhận có nền văn hóa đá cũ, đá mới, đồ đồng từ hơn 2 ngàn năm trước; Ở thế kỷ 21, tôi thuộc nền văn hóa nào ? vô văn hóa thì chắc kém cả người thuộc văn hóa đá cũ; hay tôi thuộc người tiền sử ? Unesco có bảng xếp hạng các nền văn hóa ở TK 21, chẳng lẽ tôi không ở thứ bậc nào trong bảng đó ? Sợ có một hôm nào đó, người ta đưa tôi vào rừng để sống với đười ươi ? chẳng biết sao nữa ! Chờ xem ai là người vô văn hóa, ai không văn hóa !

Tháng 8/2015

Về đầu trang


Trước Cổng Thiên Đàng

Thầy Phạm Văn An

Trong giấc mơ, vị đại gia thấy mình được thiên thần dẫn tới trước cổng thiên đàng. Anh đi đầu, phía sau, rồng rắn một lớp người nối đuôi. Thế mới biết thiên đàng hấp dẫn biết bao, mà cổng thiên đàng thì hẹp (lời chúa), nên họ xô đẩy nhau là phải. Anh mỉm cười, nghĩ mình số may, mình chắc chắn vào được thiên đàng, hạnh phúc đang đón chờ.

Đang suy nghĩ miên man, anh giật mình khi phán quan hỏi :

- Người là ai ?

- Dạ con là đại gia.

- Ta không hỏi ngươi giàu sang đến độ nào, ta chỉ hỏi : ngươi là ai ?

- Dạ con là giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị.

- Ta không cần biết chức danh của ngươi, ta hỏi : Ngươi là ai ?

- Dạ con đã đỗ tiến sỹ, nhưng là tiến sỹ nội.

- Con đang vận động để ra ngoại quốc tu học.

- Ta đâu có hỏi học lực ! Ngươi là ai, nói mau !

Xem chừng , chẳng câu trả lời nào thỏa mãn Phán quan nên ông đuổi đại gia ra sau (1)

Người thứ hai, diện mạo hiền lành, miệng luôn lẩm bẩm câu kinh . Phán quan lập lại câu hỏi :

- Ngươi là ai ?

- Dạ con xưng tội, rước lễ hàng ngày, con chẳng bỏ buổi lễ nào, nhất là lễ trọng.

Phán quan trịnh trọng kết luận :

- Xem ra người đang mê mẫn với những nghi lễ trần gian. Nó đã bám chặt vào đời sống của người rồi, vậy ngươi hãy về thế gian để cầu nguyện và xem lễ (2).

Người thứ ba, đã nghe rõ các lời cật vấn của Phán quan, Ông nghĩ chác lần này ông đáp trúng câu hỏi, ông sáng mắt chờ phán quan lên tiếng :

Lại câu hỏi cũ, Phán quan lập lại :

- Ngươi là ai ?

- Tôi là tôi !

Phán quan quyết định “cái rẹt”

- Cho ngươi trở về thế gian. Đây không có “cái tôi”, thế gian lắm cái tôi, ngươi hãy về chọn xem phù hợp với cái tôi nào, rồi lên đây cũng chưa muộn ! (3).

Người thứ tư nghĩ mình thông minh hơn người thứ ba nên giục phán quan hỏi :

Ngài hỏi đi !

- Vậy ngươi là ai ?

- Tôi là người !

Phán quan nghiêm nét mặt :

- Đã tới đây rồi, mà ngươi còn bám vào cái thân xác xấu xa của người à? Cho ngươi về thế gian để tiếp tục kiếp con người .

Bà lão và đứa trẻ là người tiếp theo.

- Vậy cụ là ai ? Phán quan hỏi

- Dạ con quên rồi, lâu rồi còn gì nữa !

Già lú lẫn : Khi ở với cha mẹ, cha mẹ gọi con là “cái hĩm” lấy chồng thì được gọi là “bà nó ơi” có con thì được gọi là “mẹ thằng cu”, có cháu thì được gọi là “bà”. Hàng xóm gọi con là “ bà lẫn thẩn” vì con hay đi xin quần áo cũ, giặt tinh tươm, rồi mang cho các hội từ thiện, để biếu người nghèo, con cháu cho tiền thì dành dụm để phòng khi có ai cần thì giúp người ta, giúp mà chẳng lấy lời, bao giờ trả cũng được. Mấy đứa cháu nhỏ học tôi, đêm, sáng, ngày, thỉnh thoảng, thấy tội, con cho chúng vài nghìn để uống nước.

- Ta nghe đủ rồi – Phán quan nói và hỏi tiếp :

- Còn thằng nhỏ này, cháu là ai ?

Thằng bé toét miệng cười, tròn xoe đôi mắt nhìn :

- Dạ… dạ…con là…

Bà lão vội đỡ lời :

Thưa… thưa… người ta gọi nó là “Thằng Bờm”… Thằng Bờm có cái quạt mo đó ngài ! suốt ngày chỉ cười, chửi, mắng, khen, chê gì, nó cũng cười.

Nét mặt bỗng dịu lại, Phán quan ra lệnh cho thiên thần :

- Ngươi hãy rước bà cụ và thằng bé tới cửa thiên đàng, Thánh Phao Lồ đang chờ.

Một già, một trẻ đi tới… trên bước chân của họ, hoa muôn màu nở rộ, thơm ngát hương.

Lời tạm bàn :

Người theo đạo – dù đạo nào – cũng mơ ước sau khi chết được sang một thế giới sung sướng vì kiếp thế gian này quá nhiều đau khổ. Tôn giáo hứa hẹn : một cuộc sống tốt lành ở thế giới bên kia : Thiên đàng, Niết bàn hay cõi cực lạc.

Riêng đại gia (1) đã có một cuộc sống thế gian may mắn, thế mà vẫn hướng tới thiên đàng. Chẳng ngạc nhiên, vì ước mơ luôn theo sau mơ ước. Dục vọng thì không ngừng. Có lẽ, đại gia thấy hạnh phúc thế gian đã đủ, nên mơ ước một hạnh phúc khác để đổi “gu” ? – Hạnh phúc nước trời.

Mà tại sao Đại gia lại lọt vào hàng đầu trong đoàn người ? có lẽ do ngẫu nhiên găp may, cũng có thể quen thói đại gia, lắm mưu mô, nên đã lọt vào tốp đầu ! Cũng không loại trừ “sự hối lộ” mà đại gia rất sở trường. Đoàn người mới chỉ tới cổng thiên đường, nghĩa là còn mang “tâm thế” hạ giới, nên “hội đồng ngửi thấy” vẫn ham.

Còn người thứ (2) Ông nghĩ đã trọn đời tu, nay là lúc hưởng ân phúc ! Nhưng ông nghĩ chưa đến nơi : nghi lễ, kinh kệ chỉ là phương tiện để nhắc nhở người thế gian “lời thánh”. Quan trọng là thi hành lời thánh bằng việc làm cụ thể, như vậy mới mang lại lợi ích đích thực cho mình và cho mọi người. Ở các nước văn minh, họ không còn chú trọng đến nghi lễ bằng làm việc thiện, nên nhà thờ thì vắng bóng tín hữu ra vào, nhưng các hội thiện thì phát triển. Ở các nước chậm tiến, vẫn tôn trọng hình thức nhiều, nên nhà thờ thì chật kín người mà hội thiện thì thoi thóp.

Người thứ 3 và thứ 4 : Não trạng trần gian của họ còn nguyên vẹn. Họ bám vào “cái tôi” của họ, tôn trọng “con người” của họ, chính vì họ thấy ta hơn người nên lòng thương của họ ít ỏi, thậm chí là không có. Tôn giáo lại đòi hỏi “quên mình” ( Phật giáo có Tứ vô lượng tâm, Công giáo có bác ái, Khổng giáo có nhân ái ) để yêu thương người. Thiếu điều này là ích kỷ. Thiên đàng tuyệt đối không có loại người này.

Bà cụ và em bé đáng sống “cõi thiên đàng” nơi thế gian mà họ không biết. Quên mình ( bà cụ ), chẳng để ý tới mình ( đứa trẻ ) là đỉnh cao của dường “tu”, mà các tôn giáo cần.. Riêng đối với họ, có được bình an, thanh thản ( cõi tịch tĩnh của Phật giáo) và người khác có sự thương yêu.

Thiên đàng hay niết bàn là một ý niệm siêu hình, đời sống ở thế giới bên kia cũng là một ý niệm mơ hồ với chúng ta.

Nhưng ta có thể tạo cho Tâm an để thế giới Bình. Khi ta có tình yêu thương vô lượng, nhà Phật gọi đó là cõi “hữu dư niết bàn”. Hãy hưởng niết bàn này đã trước khi đến với “ vô dư niết bàn”, niết bàn vĩnh viễn ở thế giới bên kia.

Tháng 7/2017

Về đầu trang


Tự Tin

Thầy Phạm Văn An

Tự tin là tin ở chính mình, tin vào khả năng của mình trong việc giải quyết một công việc.

Sự tự tin xen lẫn yếu tố chủ quan và khách quan. Chủ quan vì ai cũng yêu mình, chẳng ai nhận mình ngu, mình dốt, cho nên trước một công việc, thường thổi phồng tài năng mình lên và cảm thấy mình có thể làm được. Người tự tin sáng suốt thường phải “biết mình, biết người”, thầm kiểm điểm chính mình và nhận xét tài năng của đối phương để so sánh.

Trong một cuộc thi, người con e ngại, vì thấy nhiều bạn thi hơn mình về tài năng. Ông bố khuyên con “hãy tự tin”, lời khuyên có “lệch” không? Vì chính bản thân đứa trẻ đã hồ nghi về tài năng của mình, vậy bảo nó “tự tin” là không có cơ sở. Nếu khuyên nó hãy “cố gắng” hơn thì hợp lý hơn. Đối phương tài sức hơn, do đó sẽ chủ quan, lơ là mà phạm sai lầm. Sự cố gắng sẽ giúp kẻ yếu hơn lướt qua và thắng thế. Lời khuyên “cố gắng” sẽ như một đồ uống tăng lực, tiếp sức cho tâm lý e sợ của đứa trẻ, nó có thể nhất thời thành người “đủ sức” hoặc mạnh “phi thường” trong cuộc chơi.

- Tôi lại nhớ đến chủ nghĩa “Duy ý chí” một thời được cổ xúy. Hoàng Trung Thông có câu thơ “với sức người sỏi đá cũng thành cơm”, nói tức cười: sỏi đá là sỏi đá, thành cơm thế nào được? ngoại trừ có ông Bụt, bà tiên hiện ra giúp sức với phép màu, mà đấy là trong chuyện cổ tích và chuyện cổ tích chỉ là những ước mơ. Trong thực tế, vấn đề ở đây là tài năng và sức mạnh.

- Huyền thoại khác không kém ly kỳ là dùng thân người bịt lỗ châu mai, cho đồng đội tiến lên. Công việc này khi ấy là việc làm của người anh hùng, còn nay là việc làm mù quáng, ngu dốt, bị xúi dại để cho ai đó hưởng lợi.

Rồi chiến thuật biển người, cứ ào ào tiến lên, hết lớp này đến lớp khác, đạp lên xác chết của đồng đội mà tiến. Tất nhiên đối phương sẽ thua vì luống cuống, vì mất tinh thần, và cuối cùng người chỉ huy sẽ lãnh huy chương.

- Trong truyện Kiều, nói về cái chết của Từ Hải, Nguyễn Du phán một câu:

Hại một người, cứu trăm người.

Từ Hải nghe lời Kiều ra hàng để cứu muôn dân khỏi nạn binh đao thế là tốt. Cái “chết đứng” của Từ hải có đáng không ? Kiều là kẻ sát nhân hay tay tế độ? Chớ xúi con theo kiểu này “Tiến lên, tiến lên, toàn thắng ắt về ta” nếu “toàn thua” thì sao? Mà “toàn thua” thì chắc hơn vì chưa “biết người, biết ta”. Nếu thất bại ê chề, đứa trẻ sẽ có mặc cảm, tự ti và đầy chán nản, e dè những lần sau, khi gặp đụng độ.

Trong thành công, cần có tài đã đành, nhưng một yếu tố “may, rủi” giáng xuống chia phần, cũng không phải là chuyện hiếm gặp. Chính người cha cũng đã thú nhận cuộc đời anh cũng nhiều phen được trời “ị” trúng đầu mà thành công. “Thành, bại tại trời” là câu tục ngữ đúng, tuy mang chút yếu mềm.

Trần tế Xương than thở:

Học đã sôi cơm, nhưng chửa chín,

Thi không ăn ớt thế mà cay.

Vì Ông đã :

Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui.

Nhưng lại có câu tục ngữ khác lạc quan hơn : “có trời mà cũng có ta”, và Nguyễn Du phát triển rõ ràng hơn bằng câu Kiều :

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng thường!

Trong một công việc, trời và người cùng tham dự vào kết quả cuối cùng và “biết mình, biết người” trăm trận trăm thắng. Người Pháp đã bổ túc bằng một câu châm ngôn của họ : “Hãy tự giúp mình, trời sẽ giúp sau” (aide – toi, le ciel t’aidera) và Khổng giáo đã nêu lên thuyết “Tam tài” (Thiên, địa, nhân)(1) trong việc phân định thành công hay thất bại.

Tháng 6/2017
(1) Ba yếu tố : Trời (giúp đỡ), người (mình) cố gắng và hoàn cảnh (địa) thuận lợi.

Về đầu trang


Văn Chương Phỗng

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: VĂN CHƯƠNG PHỖNG

Đọc loạt bài “Phỗng nghĩ, phỗng suy” có người hỏi tôi :’Sao lại bày đặt ra một thứ “Phỗng nghĩ, phỗng suy” làm gì cho phức tạp ! Cứ gọi là văn cho gọn.
Ấy chết, tôi đâu dám !
Này nhé, dở tự điển ra, thấy ghi rõ ràng :
Văn : Vẻ đẹp, vẻ sáng.
Chương : Câu nói hay.

Văn chương lung linh, cao vời vợi, chứ đâu như những gì như Phỗng viết.

Người ta dễ dãi mà nhận cho nhau nhiều phát ngôn, nhiều ghi chép là văn. Thậm chí nói càng nhiều, viết càng dài sẽ được khen là viết khỏe, viết hăng… mặc nhiên là người “văn hay, giỏi chữ”. Trong làng văn, người ta phân biệt rạch ròi văn nói và văn viết.

Văn nói thì ít “văn chương” hơn văn viết, thậm chí chẳng có chút văn chương nào cả ! (như các bài “văn” cãi nhau). Nếu không phân biệt như thế, thì ngoài chợ, người ta làm “văn chương” ồn ào suốt ngày còn gì ! Họ nói đến da miệng không kịp khép lại. Có người “giỏi” khoa nói, họ nói “ba hoa” từ giờ tý đến giờ mùi, khiến người nghe “chết mê, chết mệt”, nhưng nếu gạn lại thì chưa được một muỗng cà phê ý tưởng !

Còn văn viết thì phải cẩn thận ! Lời nói gió bay, nhưng chữ viết thì còn lại. Anh viết dở thì còn “vật chứng” rõ ràng, liệu mà viết cho ra hồn.

Còn nhớ Phạm Quỳnh phê bình văn của Tản Đà :”…những bài viết không đầu, không đuôi… đầu Ngô mình Sở… chắp chắp, vá vá…” (1)

Vẻ sáng, vẻ đẹp của văn là câu gãy gọn, chữ dùng chính xác chứ không dài lê thê khiến ý loãng, người đọc mệt, chán không muốn đọc tiếp.

Ý phải hay, phải mới, phải bổ ích. Ý người ta “biết rồi, nói mãi, khổ lắm” thì đừng viết.

Có những bài văn hư cấu (2), lạm dụng quá thành lộ liễu; lộ ra chất “phịa” chẳng lừa được ai, mà chỉ khiến người đọc bực tức vì bị khinh thường. Do đó, phải lựa vấn đề mà viết, không phải muốn viết gì cũng được, bịa thế nào cũng xong ! loại văn này được gọi là “văn lá cải” nôm na người ta gọi là loại văn “chó cán xe, xe cán chó” xảy ra nhan nhản ngoài đường, chẳng ai thèm để ý vì mất thì giờ vô ích.

Các bài “Phỗng nghĩ , Phỗng suy” ghi lại các vấn đề “vớ vẩn” mà người đọc nêu ra và câu trả lời cũng “ngớ ngẩn” không kém, mục đích là: “mua vui cũng được một vài trống canh” (3),xin người đọc hiểu như vậy, chứ đừng nghĩ to tát, phức tạp ra.
Tháng 6/2015


(1) Phạm Quỳnh chư bút báo NAM PHONG, viết văn rất kỹ. Tản Đà làm thơ thì hay, nhưng văn ông viết thì rất khó đọc. Chẳng hạn, ông bàn luận về việc ĂN có câu : Đồ ăn ngon, chỗ ăn ngon, người cùng ăn ngon, thì ngon
(2) Hư cấu là thêm thắt vào câu chuyện những tình tiết tự nghĩ ra, mục đích để bài thêm mượt mà.
(3) Các bài viết trong mục Phỗng nghĩ, Phỗng suy khi đăng lên thấy bị bỏ đề mục này. Xin chớ đánh đồng với các bài văn thực sự tôi viết.

Về đầu trang


Văn Hoá Giao Tiếp

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY: VĂN HOÁ GIAO TIẾP

Anh Cu đen kể rằng : Nói chuyện với Ông Ngân Hàng, thì thì thấy miệng ông nói mà mắt cứ nhìn đâu đâu, trong khi anh Cu đen – quen thói Tây phương – nhìn trực diện mà nhã tiếng.

Văn hóa khác nhau, cử chỉ và điệu bộ tất khác nhau. Ở Việt Nam, nói chuyện mà cứ nhìn chằm chằm vào mặt người ta mà xổ tiếng là điều bất lịch sự. Hành vi này chỉ có khi tranh luận, nhất là trong cuộc cãi lộn. Khi đó, không những người ta nhìn thẳng vào mặt nhau mà to tiếng, mắt còn long sòng sọc, chân tay chỉ chỏ như đang biểu diễn một bài quyền, còn trong đối thoại phải giữ lễ. Lễ là lễ phép, là cung cách trong hành vi và cử chỉ, lời nói sao cho đúng cương vị trên dưới, thứ bậc. Dù bình thường hay thân mật thì cũng không nên nhìn thẳng mặt nhau. Hành động đó bị hiểu là dò xét, soi móc, tọc mạch. Nhìn xa, nhìn gần, chậm rãi trong đối thoại và khi tiếng cười được thốt ra, đó là lúc “được nhìn” người đối diện như cùng chia sẻ một điều tâm đắc. Kẻ dưới với người trên, thì nên cúi đầu mà nói, tỏ sự kính trọng. Sự kính trọng rất cần thiết khi nói với những vị “Tai to, mắt lớn” như với Sếp. Ngày xưa quan tâu bẩm với vua, khoanh tay, cúi đầu rồi nói chậm rãi, rõ ràng. Nghe xong lệnh trên, thì đi lùi ra sau, mới quay lại để đi thẳng.

Đó là nghi thức giao tiếp trong xã hội nho giáo, một nghi thức bắt buộc nếu đã là kẻ được giáo dục vì ngũ thường ( 5 điều căn bản phải có của một người được giáo dục ), nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Lễ đứng hàng thứ 3 , vui vui khi thấy trước các trường học – hình như là một sự bắt buộc, chứ không phải là sự bắt chước – trường nào cũng kẻ câu : “Tiên học lễ, hậu học văn” và ngay từ lớp mẫu giáo, các cô bảo mẫu đã dạy các cháu cách chào hỏi. ra đường, tôi vẫn gặp các cháu nhỏ :”chào ông ạ”, có cháu còn khoanh tay trước khi chào. Tôi chào lại và khen ngợi các cháu, nhưng có ông bạn đi bên tôi lại thắc mắc : “quen gì đâu mà chào”, do đó chắc là rút kinh nghiệm, kinh nghiệm đầu đời – nhiều cháu ra đường không còn chào hỏi “bừa bãi” nữa, mà quen, hoặc thấy quen với bố mẹ, ông bà đi theo, mới chào.

Cái lễ của Đông phương khi gặp cái lễ của Tây phương trong lịch sử đã cho những giai thoại cười ra nước mắt. Người ta kể rằng : Khi sứ thần Anh vào bệ kiến Từ Hi Thái Hậu (Trung Quốc) đã đứng nghiêm và nhìn thẳng. Thái hậu cho đó là hành vi bất kính, không tiếp. Người ta cũng nói, sự kiện này cũng là một trong những nguyên nhân khiến “Bát quốc liên quân” đánh Trung Quốc.

Ở thời Nguyễn (Việt Nam) sự giao tiếp giữa Pháp và Hoàng đế nhà Nguyễn cũng gặp trục trặc : Người Pháp đòi vào hoàng thành bằng cửa chính của Ngọ môn, không đi cửa 2 bên không phù hợp cho quan niệm bình đẳng giữa các quốc gia điển lễ. Triều đình thì quy định cửa chính chỉ dành riêng cho Hoàng đế, rồi lại tranh cãi về việc tiếp sứ thần. Bên Việt Nam, theo điển lễ, vua vẫn ngồi trên ngai, sứ thần cúi lạy, Pháp thì đòi vua Việt Nam phải đứng lên,v.v…

Đến đời Khải Định, thì điển lễ triều đình không còn quan trọng vì vua Khải Định đã vui vẻ bắt tay rồi cùng sứ thần Pháp song hành trong giao tiếp.

Ngay cả hiện tại, giao tiếp ở Việt Nam còn khá “lộn xộn”, cho thấy là hình như Việt Nam chưa có văn hóa giao tiếp của riêng quốc gia. Trước năm 1975, ở miền Nam, ít thấy phụ nữ bắt tay mà chỉ cúi chào, nay các bà bắt tay lia lịa, bắt tay cả các ông. Còn các Ông thì hình như “tùy nghi” giao tiếp : gặp khách là người Tây phương thì dễ rồi; bắt tay chứ sao, nhiều khi tỏ ra thân mật thì bắt chặt tay rồi lắc mạnh, nhiều khi còn vỗ vai khách. Khách thuộc các quốc gia Phật giáo, thấy người ta chắp tay trước ngực, mình cũng chắp tay rồi quen lệ, lại dơ tay ra bắt, còn “ôm hôn thắm thiết” thì dành cho các “đồng chí anh em”.

Nhìn sang các nước cung văn hóa như Hàn Quốc, Nhật Bản, ta thấy nét Khổng giáo còn in đậm : cúi chào nhẹ, cúi chào sâu trong dịp quan trọng.

“Chào” đi liền với “Hỏi” thành “Chào hỏi” Chào xong thì hỏi thăm một sự thân tình, chứ không chỉ là xã giao như người Tây phương, nhưng nhiều Việt kiều về thăm nhà, được hỏi thăm kỹ lưỡng thì lại khó chịu, xem như bị tra khảo, tọc mạch nhiều khi lại như moi móc, xâm phạm đời tư, như khi bị hỏi về lương bổng, nhà cửa, con cái. Thực tình thì khi người Việt mình hỏi kỹ như vậy là chỉ muốn chia vui, chia buồn, chứ không có ý định “mờ ám” nào khác. Lẩn thẫn tuổi già, tôi chỉ được biết là Nhị Anh một vợ, 2 con; Huyền ma sơ đỗ cử nhân toán; Anh Cu đen gửi thiếp tết thấy có một vợ hai con còn nhỏ, đó là những thông tin do các đương sự trực tiếp hay gián tiếp cho biết, chẳng dám tò mò biết thêm, dù đôi khi cũng tò mò.

Người Việt vốn có tính tò mò, muốn biết, nhưng đôi khi lại không dám biết như ví dụ của anh Cu đen : có một cô Việt kiều chỉ chờ một lời tỏ tình để ký bản án chung thân, nhưng đối tượng ( là người Việt ) cứ lượn lờ, nói lời trăng sao, khiến cô chẳng biết làm sao mà lần. Nhận xét về ví dụ này, tôi nghĩ là cô Việt kiều đã mất “chất” Việt nam rồi, đừng trách anh chàng kia. Anh chàng vẫn giữ bản chất Việt Nam 100%. Trong tình yêu, người Việt Nam –đến tận bây giờ - Vẫn nói bằng mắt hơn là bằng miệng. Nay, anh thanh niên nào hỏi “trực diện” vấn đề yêu đương vẫn bị các cô coi là sổ sàng, thiếu văn hóa và anh có thể bị “out” oan uổng dù đối tượng vẫn còn yêu.

Cuộc đời là sống với người khác. Trong một thế giới phẳng ngày nay, sự giao tiếp là cần, nhưng sao phức tạp quá vậy. Cho nên cần biết văn hóa của đối tác – dù để làm gì – kẻo ân gia hóa oan gia.

Tháng 10/2016

Về đầu trang


Văn Hoá Võ Biền

Thầy Phạm Văn An

Văn là vẻ đẹp, hóa là biến đổi. Trong sự giao tiếp, tâm thức luôn biến đổi cho phù hợp với sự ứng xử. Hoàn cảnh, thời gian khiến cách cư xử phải chuyển biến cho phù hợp, dần thành những thói quen, những thói quen được xã hội chấp nhận cấu thành một nền văn hóa chung.

- Một thời gian dài, các nền văn hóa luôn xung đột, tạo ra những cuộc tranh cãi và thành những cuộc chiến khốc liệt. Văn hóa võ biền xuất hiện : sức mạnh là chân lý, kẻ thắng nắm lẽ phải. Lâu dần, nhân loại ý thức được sự tai hại của chiến tranh : đau thương là kết quả chung cho mọi người, nên người ta thấy cần phải ngăn chặn chiến tranh. Các tổ chức quốc tế đã thành hình để làm nhiệm vụ đó : Hội quốc liên rồi Liên hiệp quốc ra đời qui định một văn bản gốc, lấy quyền của con người làm nền tảng : con người có quyền sống, có quyền mưu đồ hạnh phúc. Không ai – dù với bất cứ lý do gì – có thể tước đoạt các quyền con người. Phải hòa giải mọi mâu thuẫn, mọi tranh chấp, chiến tranh bị đẩy lùi.

- Trong chiến tranh có người gây hấn và có kẻ bị xâm hại. Riêng Việt nam, một đất nước nhỏ bé, nhưng lại ở một vị trí quan trọng của thế giới, nên luôn bị ngoại bang rình rập và chiếm đóng, nên lịch sử VN là lịch sử của chiến tranh, nổi bật là chiến tranh chống ngoại xâm. Ta từng thấy nhiều thế lực quân sự to lớn đến gây hấn, Vậy, Việt Nam là một dân tộc hiếu chiến ?

Không, ta không muốn đánh nhau, nhưng ta phải chiến đấu để bảo vệ đất nước. Chính lòng yêu nước đã thúc đẩy dân ta chiến chứ không lùi, vì lùi là chết.

Sau chiến thắng Nguyên Mông, vua Trần về quê tế cáo tổ tiên đã có câu thơ :

Tổ quốc hai phen buồn ngựa đá,

Giang sơn muôn thuở vững âu vàng.

Giang sơn đã thanh bình, độc lập. Con ngựa đá ( ở lăng tẩm các vua Trần ) đầy dấu tích chiến tranh (vết bùn) có thể mừng rồi.

Trong cuộc chiến chống Minh, Nguyễn Trãi viết trong Bình ngô đại cáo :

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo.

Chiến tranh là cốt để dân được an lạc, hạnh phúc nên quân xâm lăng phải bị trừng trị.

Quang Trung khi đem quân Bắc phạt, đã nói trong hịch :

Đánh cho để tóc dài, đánh cho để răng đen,

Cho quân xâm lăng biết nước này có chủ.

Đánh quân Thanh là để bảo vệ Văn hóa dân tộc, để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Rồi trong cuộc kháng Pháp ở miền Nam, Nguyễn trung Trực đã không theo lệnh vua để đầu hàng, mà quyết chiến với Pháp với câu nói lừng danh : Khi nào nước Nam hết cỏ, thì quân Pháp mới dẹp được người Việt.

Vậy, rõ ràng là người Việt đánh nhau là để giữ gìn đất nước, chứ không phải để gây hấn.

- Trong nước, nội chiến cũng liên miên, nhưng người dân thấy rõ đâu là bên phải bảo vệ. Triều đình đồng loạt coi nổi dậy là loạn, là phản động, nhưng người dân vẫn suy tôn các thủ lãnh chiến binh có chính nghĩa như cuộc nổi dậy của Nguyễn (Tạ) văn Phụng, Phan bá Vành (mà Cao bá Quát là cố vấn).

- Về phía cầm quyền thì cũng theo xu thế thời đại, cậy nước lớn ( An nam đại quốc triều Nguyễn) Đại Việt (các triều trước ) để lấn át nước nhỏ như Lào, Miên. Thậm chí đã xóa sổ cả một dân tộc là Chiêm Thành ( Chăm), điều này có thể thông cảm được.

- Ca dao, - tiếng nói của người bình dân – chẳng thiếu những vần thơ ca ngợi hòa bình, lòng nhân ái :
Bầu ơi, thương lấy bí cùng…
Một sự nhịn, chín sự lành,
Thương người như thể thương thân.

- Xét riêng về con người, con người VN có phải là loại thích vũ lực không ? Không. Kẻ “vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu” chỉ dùng để sai khiến. Kẻ được tôn trọng phải là kẻ sĩ “dài lưng, tốn vải” Hình tượng “lý toét, xã xệ” là một cách phê bình khôi hài.

- Triều đình có võ quan, nhưng không có trường đào tạo. Họ là văn quan vì có mưu lược, đảm lược, nên được chuyển sang chỉ huy quân lính : như Nguyễn tri Phương, Hoàng Diệu. Thời Nguyễn , vì chiến tranh, triều đình có mở khoa thi tiến sĩ võ ( tự do, không có đào tạo) nhưng võ quan cấp có cao mà hàm vẫn thấp so với văn quan.

- Có những nước có truyền thống võ nghệ như Nhật Bản, thì võ được tôn lên thành đạo : võ sĩ đạo; nhưng người học võ chỉ dùng để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ trật tự xã hội. Võ sĩ Sumorai tương tự chàng hiệp sĩ ( Chevalier) trong văn hóa Pháp. Thiền Trung Hoa cũng sản sinh ra một môn phái võ : thiếu lâm tự võ, đây là đỉnh cao của sự tu thiền : vận động tinh thần thành lực này để duy trì sức khỏe, tinh tấn tinh thần chứ không phải để đánh nhau.

Từ ví dụ trên – Nhật và Trung Hoa – Ta thấy Đông phương nói chung và Việt Nam nói riêng ý thức rõ sức mạnh và đạo đức. Sức mạnh là để phục vụ đạo đức, như kiểu “giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”. Võ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh của cuộc sống.

- Lý luận trên giải thích được hiện trạng bạo lực trong xã hội ngày nay : Bạo lực gia đình, bạo lực học đường, bạo lực xã hội đều thuộc loại “vô đạo đức”.

Nguồn gốc phát sinh bạo lực là việc hiểu sai nhiệm vụ (trách nhiệm, bổn phận) và quyền hành (1).

- Lui về quá khứ, để xét hiện tại, ta thấy đạoKhổng chỉ dạy con người chữ “trách nhiệm”, khi thực hành thì trách nhiệm bị tha hóa thành quyền hành, nhất là từ khi chủ nghĩa cá nhân lan rộng thì chữ quyền đã thay thế chữ trách nhiệm.

Cha mẹ dạy con sống theo đạo nghĩa (Khổng Mạnh) con không hiểu, không nghe thì phải làm cách nào đó cho nó nghe, nó theo, cho đúng gia phong cha ông để lại (truyền thống). Thiếu kỹ năng dạy dỗ, người ta bắt buộc phải dùng sức mạnh tinh thần (dọa nạt) hay vật chất (đòn roi), đó là quyền.

Tao là cha (mẹ) mày, tao nói mày phải nghe, không nghe thì ra khỏi nhà (hoặc thì ăn đòn). Trường hợp thầy đánh trò, trò đánh nhau, đấu võ sau bữa tiệc cũng chỉ là hình ảnh trên mở rộng.

Xã hội chưa tạo lập được một nền đạo đức mới, nền đạo đức cũ (đạo đức Khổng Mạnh )thì cũng đã mờ nhạt, ít ai còn hiểu rõ, cái biết về Khổng Mạnh nay chỉ do di truyền, thói quen, thiếu cơ sở, nên người lớn lúng túng mà trẻ con thì ngu ngơ.

Vấn nạn này còn xảy ra dài dài vì một nền đạo đức mới chưa hình thành, người ta còn đang dò dẫm đường đi.

- Nhiệm vụ là điều người ta phải làm cho người khác chủ yếu là làm cho người ta tốt lên, theo chuẩn mực đã được chấp nhận.

Quyền là đặc ân người ta có, thường là người trên nghĩ là mình có quyền đó và kẻ dưới phải nghe theo, thường thì hai khái niệm này trái ngược nhau hay tách biệt nhau. Ví dụ : Tôi là công dân, tôi có quyền đi bầu hay không đi bầu.

Nhưng cũng có khi nó bổ túc cho nhau hoặc hòa quyện vào nhau. Ví dụ : Công dân bắt buộc (nhiệm vụ) phải đi lính, không đi là bị tước các quyền khác; Hoặc bỏ phiếu vừa là quyền, vừa là trách nhiệm.Nếu anh không đi bỏ phiếu thì người được chọn sẽ thiếu chính xác, họ không đại diện đầy đủ cho ý nguyện của dân.

Tháng 4/ 2017

Về đầu trang


Về Thăm Chơi

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
BÀI 7 . VỀ THĂM, VỀ CHƠI

Lần đầu về Bắc thăm quê, tôi có được nhiều cảm tưởng lạ. Cái lạ đầu tiên là cách chào hỏi của người thân : ‘Anh về thăm quê đấy à ! quí hóa quá” rồi : “Anh về chơi, đã đi được nhiều nơi chưa ?”. Lúc đó tôi chẳng để ý, sau này ngẫm nghĩ lại, thấy câu chào hỏi, hình như mang nhiều ý nghĩa. Về thăm có nghĩa là trở lại nơi mình đã ra đi để xem lại, tìm lại cái gì đó, còn về chơi thì rõ rồi : để giải trí, vui chơi. Ông chú tôi - khi đó – có một thái độ khác : Ông lầm lì, ừ hử đáp lại mọi câu hỏi. Cả một tuần sau, thấy tôi chỉ la cà khắp làng tới nhà bà con, ông mới đổi cách cư xử cho thân tình hơn. Thì ra ông đang dò xét tôi xem ý định đích thực của tôi chuyến về này. Nhận xét những Việt kiều về nước – chỉ một số ít tôi gặp – cũng thấy có người về chơi, có người về thăm.

Tôi nhớ một lần nhà bên cạnh có bà chị về, ông em và các con tất bật cho bữa ăn. Họ có mời tôi sang dự - vì bà chị rất thân tôi . Trong bữa cơm bà chỉ ăn qua loa, ông em thắc mắc, bà chị trả lời : “tôi thèm món canh rau đay và cà pháo”, Ông em tần ngần, im lặng. Cuối bữa, Ông em mời chị về khách sạn nghỉ. Bà thủng thẳng hỏi :”nhà chú không có chỗ à ? hay là trải chiếu xuống đất cho tôi nằm cũng được. Ông em bối rối, lí nhí trong miệng :… nhà chật hẹp, sợ chị… Bà chị ôn tồn tuôn ra một tràng : Tôi về thăm chú, muốn hưởng lại không khí gia đình… Khi xưa, nhà mình nghèo… cả nhà chỉ có 2 cái giường, thế mà mình vẫn ngủ ngon. Vậy thì tại sao tôi lại phải ra khách sạn ?... Ông em dạ dạ… vâng vâng.

Về chơi, khi họ mua một tour du lịch; đi chán chê rồi để ít ngày cuối về thăm thân nhân. Cũng phải, bỏ một số tiền lớn ra, cũng phải tính toán sao cho xứng chứ, chẳng đáng chê trách, vì họ cũng dành ra chút ít thì giờ cho thân nhân, đủ để hàn huyên. Lại có những người về rõ ràng là để đi du lịch, thăm người thân là phụ : loáng thoáng một, hai ngày qua một bữa ăn có đông đủ mọi người. Thế là xong, thì giờ còn lại thì đi theo tour, sau đó ra thẳng máy bay, khỏi đưa, khỏi tiễn.

Còn người ở nhà, cũng có những thái độ khá khó hiểu, được tinn người thân về thì sửa sang nhà cửa, dọn dẹp phòng ốc. Họ về thăm người hay họ về thăm cái nhà ? ( ấy là tôi chưa kể một tiểu phẩm trên tivi : người ta đi thuê hẳn một căn nhà để đón người trở về, sau khi người thân đi thì trả lại nhà cho chủ).

Cảnh hay gặp là người về mang đủ quà cáp cho mọi người. Con cháu xa gần tới đông đủ để hí hửng xòe tay ra nhận. Người về vui vì được ban phát, người ở nhà thì như được trúng số.

Người về - tung cánh chim tìm về tổ ấm – con chim lìa đàn, trở về tìm hơi ấm anh em, và chẳng gì so được với tình nghĩa đó, chẳng gì đẹp hơn được cái tổ ấm, cái nôi, góc nhà, dãy phố, nơi từng in dấu cuộc sống một thời, nay tiếc là không còn giữ được cho mảnh đời còn lại. Kẻ ở nhà, sao lại mừng vì món quà, mà quên rằng người gặp lại hôm nay sẽ xa mãi mãi, hiếm khi gặp lại và có khi không còn gặp lại nữa.

Nhớ câu thơ của Nguyễn Khuyến :

Bác đến chơi đây , ta với ta.

Vậy ta về với ta, ta gặp lại ta, ta còn thấy ta, như vậy là đủ, mọi thứ ngoài chữ “ta” đều không giá trị.
Tháng 9/2015

Về đầu trang


Vong Bản Và Vong Thân

Thầy Phạm Văn An




PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
VONG BẢN VÀ VONG THÂN

Vong bản là mất gốc, vong thân là quên mất thân phận của mình, không còn biết mình là ai; ai ở đây là căn cước của mình, đặc tính riêng của mình, mình là người dân tộc nào, thuộc quốc gia nào.

Cây mà mất gốc thì cây chết, có khi gốc (rễ cái) đã mục, vẫn còn rễ phụ , rễ con (rễ cám) cây vẫn sống được, nhưng sống èo uột, lá cành, hoa trái nếu có thì cũng không thể to lớn được.

Người mất gốc là người bỏ quên cội nguồn, cái cội nguồn này rất sâu xa, nó sinh ra từ khi nước sinh ra, được hấp thụ những tinh hoa của giống nòi, hình thành bởi những thăng trầm của lịch sử, nên một dân tộc có lịch sử lâu đời , một nền văn hóa lâu đời, hình thành ra một nền văn hóa riêng, không trộn lẫn với bất cứ nền văn hóa nào.

Nước Mỹ là một quốc gia trẻ, hình thành bởi sự tập hợp của nhiều dân tộc, nên có nền văn hóa đa sắc màu. Không biết sau 200 năm lập quốc, nước Mỹ đã tạo được một nền văn hóa riêng biệt chưa ? Một hồi người ta bảo anh chàng cao bồi Texas là biểu tượng của nước Mỹ, nay đã có biểu tượng mới chưa ?

Nói vòng vo là để kết luận rằng, gốc rễ một dân tộc không phải một sớm, một chiều là hình thành được, cũng có nghĩa rằng văn hóa của một dân tộc không dễ gì mất đi, dù một dân tộc bị lưu đày, nhưng bản chất của nó vẫn tiềm tàng đâu đó chờ dịp bật lên; đó là khi có một sự kiện lịch sử nào đó ghi nhớ lại. Lấy ví dụ như người Do Thái thời Đức quốc xã và nhà nước Do Thái bây giờ.

Trong chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của VTV1 tháng 10/2016 : một đứa bé 11 tuổi, dân “da vàng mũi tẹt” cứ bám chặt lấy mảnh giấy khai sinh , xin mọi người trong hội trường tìm cha mẹ cho em. Người cha người anh cho biết đã nhận em từ một trại trẻ mồ côi trong chương trình “cha mẹ nuôi quốc tế”. Vài năm nay, em khẩn khoản xin cha mẹ nuôi về VN tìm lại gia đình. Đấy, truyền thống dân tộc trong huyết quản em đã thúc đẩy một cách vô hình để em quyết tâm tìm lại nguồn cội. Cũng tương tự, một đứa trẻ tự mày mò chiếc đàn bầu, vô tình bật lên thang âm của chiếc đàn, đã nhận ra đây là âm thanh Việt Nam.

Người ta đã biết là : từ khi bào thai được 3 tháng tuổi, thai nhi đã cảm nhận được tiếng mẹ đẻ, từ câu hát, lời ru. Và giọt sữa mẹ, cái bế ẵm, ôm ấp đã cho nó một cảm nhận rõ ràng về cha mẹ, và khi lớn lên, sinh hoạt xung quanh đã in đậm vào phần vô thức và tiềm thức cội nguồn của mình. Cho nên mất gốc chỉ xảy ra khi có nạn diệt chủng. Còn một dân tộc chiến bại thành một dân tộc thiểu số, chứ văn hóa tộc người của họ không biến mất hoàn toàn.

Còn vong thân thì dễ - quá dễ là đàng khác – chỉ cần sự thiếu ý thức thì vong thân xuất hiện. Người Việt ta – nhất là hạng trí thức nửa mùa – Khi nói chuyện, thường đệm vào tiếng nước ngoài; không phải tiếng Việt thiếu từ để diễn tả mà vì thói quen hay ý tưởng muốn nổi trội hơn mọi người thì lâu dần quên tiếng mẹ đẻ, để rồi có một lúc nào đó không diễn tả bằng tiếng mẹ đẻ được. Ở Dalat, mà muốn về Cali, khi nhìn thấy thức ăn đường phố ở đây, ruồi nhặng bu vào nhiều quá. Đây là cảm giác mới đứng bên bờ của sự mất gốc. Tại sao ta không nghĩ kỹ hơn ? đó là hình ảnh đáng buồn mà đồng bào ta đang sống, tại sao tim ta, lúc đó không nhói đau vì dân ta vẫn là thân phận nhược tiểu, tại sao ta không uất hận vì ta không làm được gì cho đồng bào ta trong hoàn cảnh này ? Nếu chỉ thấy ở Cali đẹp hơn, sang trọng hơn, văn minh hơn, mà muốn lìa bỏ ngay mảnh đất “dơ bẩn” mà ta từng sống là một sự vong thân muốn chối bỏ nguồn cội – dù nguồn cội đó có tệ hại gì đi nữa. Có khi một thắc mắc nhỏ; một cái xét lại nhỏ, một suy nghĩ trầm tĩnh sẽ cho ta một phút vui hơn là cái vui ta đang có.

Hãy cố kiểm soát mình, nhận diện đúng mình trong từng thời khắc thì tránh được sự đánh mất mình.

Sống ở trong nước thì ít bị vong thân hơn sống ở nước ngoài vì xung quanh, nếp sống dân tộc còn – ít hay nhiều – nó luôn là sự cảnh tỉnh để mình khỏi quên nguồn cội. Ở hải ngoại, sự vong thân là điều dễ dàng, vì xung quanh là những nền văn hóa khác mà người Việt Nam có thể hay bắt chước, mà bắt chước thuộc vô thức, ta không kiểm soát được, từ đó ta thành Mỹ lai, Tây lai bao giờ không hay.

Tiếng nói (ngôn ngữ) của một dân tộc là vũ khí quan trọng để giữ gìn bản sắc dân tộc, vì tiếng nói chứa đựng đầy đủ bản sắc văn hóa dân tộc người. Tây chỉ có Je, vous, tu; Mỹ thì I và You là đủ, nhưng Việt Nam, ngoài tôi ra thì còn con. em , cháu… theo từng hoàn cảnh mà dùng cho đúng thứ bậc và tình cảm. Để con không biết tiếng Việt hoặc không sành tiếng Việt, khi nào đó, nó sẽ gọi cha là mày, ông bà cũng là mày thì gia đình trong văn hóa Việt không còn, khi đó, đúng chính ta “tự diễn biến hòa bình” chứ không cần đến “địch” nữa.

Đứa trẻ gốc Việt ở Mỹ học tiếng Mỹ là chính, nói tiếng Việt là do gia đình bày cho, chứ không theo ngữ pháp, văn phạm Việt, thế nên khi bí, đứa trẻ pha trộn với ngữ pháp Mỹ để tạo ra từ mới như “chảyging” và mẹ đang tắm là “Tắm-ing” là điều sáng tạo thông minh “cười ra nước mắt”, nay lại cho nó học tiếng Nhật (mà không học tiếng Việt) thì sau này, thằng bé sẽ tạo ra nhiều tiếng Việt mới mà gốc ngữ pháp là tiếng Nhật. Buồn hay vui ?

Ở trường hợp này, ta khâm phục người Tàu trong cách bảo vệ bản sắc của họ. Tới Chợ Lớn, vào chợ Bình Tây mua bán, ta thấy thương nhân Tàu nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Tàu, bất chợt gặp khách hàng Việt, họ đổi sang tiếng Việt và chào mời một cách lưu loát. Về nhà, họ toàn nói tiếng Tàu với nhau. Tôi để ý một chi tiết nhỏ trong bữa cơm của họ : có một nồi cháo nhỏ bên cạnh nồi cơm, cơm xong, mọi người húp lưng chén cháo. Hỏi, họ trả lời : để nhớ lại thời hàn vi khi mới sang Việt Nam. Ngày nay, người Hoa không được phép mở trường riêng, nhưng bằng mọi cách, họ vẫn tổ chức được các lớp học tiếng Hoa cho con em họ. Lễ hội của người Hoa, vẫn không lặp lại với văn hóa VN, người Hoa ở Việt Nam, dù sang VN, từ TK 16,17 hay TK 19,20, dù ở đâu trên đất Việt, họ vẫn giữ được văn hóa của họ, do đó sự đoàn kết rất khăng khít.

Người Việt ở hải ngoại nay đã nối tiếp thế hệ thứ 3, thứ 4. Bao nhiêu phần trăm đã vong thân, bao nhiêu phần trăm đã mất gốc, tùy theo ý thức của mỗi người, và cũng phụ thuộc vào văn hóa Việt còn giữ đúng bản sắc của mình hay không; điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà yếu tố chính là người có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam. Đừng dùng những từ kêu : Khi thì đậm đà bản sắc dân tộc, khi thì giữ gìn truyền thống. Hãy có chính sách rõ ràng.
Tháng 5/2017

Về đầu trang


Vọng Cảnh: Cảnh Đó, Người Đâu

Thầy Phạm Văn An


Ra khỏi Huế, về phía Tây nam, từ đàn Nam Giao trở đi là những dãy đồi thoai thoải, trùng trùng, điệp điệp, có nơi lan ra tận mép sông Hương. Đỉnh cao nhất của dãy đồi này mang tên Vọng Cảnh (nhìn ngắm cảnh, thưởng thức cảnh).

Đây là nơi đắc địa nhất để ngắm sông Hương từ trên cao, non nước chỗ này thật hữu tình. Vào buổi sáng sớm hay lúc chạng vạng, gió, mây hòa quyện vào nhau, trùm lên cảnh vật, tạo nên cảnh nửa thực, nửa hư, cho người ngắm cảnh có cảm giác như đang ở trên tiên giới nhìn về hạ giới : mọi vật đều nhỏ bé, xinh xinh : con thuyền như chiếc lá; dòng Hương như dải lụa và con người là những chấm nhỏ. Phía tây thượng nguồn có bến đò Tuần (làng Bảng Lãng) và phía đông phía Huế là điện Hòn Chén (Ngọc Trảng) những địa danh đã vào thi ca Huế.

Trong cảnh xế chiều, lặng lẽ và tĩnh mịch, lòng người nổi lên một nỗi buồn xa vắng.

Nay thì bến đò Tuần đã thay đổi, nhưng vẫn còn những nét xưa, đủ để ta cảm thông với Bà Huyện. Cảnh đô thị chỉ mới dừng chân quanh Vọng cảnh.

Villa, Resort thấp thoáng đó đây, nhưng dự án khách sạn nghỉ dưỡng bên chân đồi đã bị dừng lại vì vấp phải sự phản đối của dân Huế, Vọng Cảnh có hy vọng còn tồn tại lâu dài để người dân Huế, nhất là lớp già, lớp trung niên còn giữ được một “ngày xưa thân ái” mà ở đó “anh để lại cho em” và “em để lại cho anh” nhiều kỷ niệm lung linh. Đồi Vọng cảnh, thực chất chỉ là khu đồi hoang, không một công trình tô điểm, ngoại trừ chiếc lô cốt bằng bê tông, Pháp xây để chắn giữ ngã ba sông này, nhưng nó là những lâu đài kiên cố xây trong lòng người một thời : “lâu đài tình ái” của bao lớp người yêu nhau đã đến đây để cùng nhau xây “mộng ban đầu”.

Thuở xa xưa, tôi vẫn nghĩ là người ta vô tình không chăm sóc Vọng cảnh, nhưng nay nghĩ lại thấy mình sai, vì nơi hò hẹn cần gì ghế đá, lầu các, vườn hoa? Hơn 50 năm trước, tôi tới đây lần đầu với ý nghĩ sai lầm đó : buổi sáng vắng hoe, dần dần cô cậu dìu nhau tới, hình như họ đã chọn sẵn chỗ cho mình, cặp thì kéo nhau ra tận cuối đồi dựa vào gốc thông trò chuyện, cặp khác thì bách bộ đó đây – hình như họ mới quen nhau, có những người ngồi chơ vơ một mình, nhưng chỉ chốc nữa thôi, nhìn lại đã thấy có người ngồi bên cạnh. Vọng cảnh thành ra vọng tình. Tuyệt nhất là ở đây không có trẻ em bán dạo quấy rầy như vườn thú Sài gòn, Hà Nội. Thông ở đây trước kia và bây giờ cũng không lớn lắm; anh học sinh cũ đi với tôi lý giải là đất xấu, toàn là sỏi cát ( không như thông bên tu viện Thiên An đã thành rừng) tôi lại nghĩ khác : Thông cố tình không lớn để người xưa còn tìm được vết cũ, Tôi vẫn nhận biết được hai gốc thông xưa, có cây thông vẫn còn vết năm tháng ghi trên thân, tuy đã mờ, nhưng chưa phai. Ở cây khác, vết thương đã nổi sần thành bọng, hình như để ôn lại kỷ niệm cũ. Xưa tôi cũng có ý nghĩ ngớ ngẩn là nếu mưa bất chợt thì sao nhỉ ? Chẳng sao, càng tốt, càng đẹp, càng thơ mộng vì sẽ (hoặc đã) có những người tìm nhau trong mưa, đi trong mưa song hành chậm rãi, hoặc là dịp để chụm đầu vào nhau. Chiếc lô cốt Pháp xây có thể là nơi trú tránh khi gặp mưa, đó là ý nghĩ ngày đó, nhưng nay lại thấy là trật lất ! Như vậy Vọng tình, thì đúng hơn là Vọng cảnh, chắc là người đất thần kinh đã né tránh ông Khổng để đặt tên này , nhưng muốn Vọng cảnh thì cũng có “cảnh” để “vọng” chứ sao ! Bà Huyện Thanh Quan đã đến bến đò Tuần, phía sông Hương thượng nguồn, chẳng biết bà có “trèo” lên đây để vọng cảnh không ! nếu muốn “thưởng” cảnh sông Hương, thì trên đồi Vọng cảnh là điểm tuyệt hơn cả. Cảnh bà Huyện thấy thì nay không còn vì cuộc sống cả hai thế kỷ, đã tiến bộ nhiều : Tiếng tù và thu không đã được tiếng xe gắn máy điền chỗ. Mục tử cũng không còn, còn chăng là vài con trâu, bò nhà ai nuôi để phát triển kinh tế gia đình, đò ngang bến Bãng Lãng còn đấy để chở các bà qua sông thăm viếng đôi bờ, người mạnh khỏe thì sợ chi đường xa, họ đi xe máy. May là còn bắt gặp một lão ngư quăng lưới. Hỏi ra mới biết lão nhớ nghề mà làm, chứ theo lão nói thì : “tôm , cá chẳng còn bao” đò dọc thì thưa, chỉ còn vài ba thuyền lớn, chạy máy, chở cát sạn thừ thượng nguồn về. Tuy vậy, cảnh sông Hương khúc này vẫn là cảnh đẹp nhất, còn mang nhiều cảnh vật tự nhiên : làng mạc, bờ sông xum xuê, nhất là vườn bưởi Thanh Trà vùng Thủy biều gần đây. Phía về thành Huế thì có điện Hòn Chén (Ngọc Trảng) một miếu vũ lâu đời với tín ngưỡng đạo mẫu (pha tạp với tín ngưỡng thờ thiên y A na) của người Chàm để lại. Cảnh điện Hòn Chén, nhìn từ phía Vọng cảnh, thật thâm nghiêm, mái ngói của đền ẩn hiện trong rừng cây, phía trước là bến đò với vài con đò luôn túc trực để đưa, đón khách hành hương. Nếu vào ngày lễ hội ( tháng 3 và tháng 8 âm lịch) thì khúc sông này thành một đô thị nổi, chật ních thuyền rồng. Con công, đệ tử hầu bóng ngay trên sông. Ban đêm, hoa đăng lửng lơ dưới nước, trên trời – nếu đẹp trời – thì sao sáng ẩn hiện; Cảnh thần tiên nào bằng ! Ngay chính nơi vọng cảnh nhìn xuống , thế đứng này cho một cảnh sông Hương đẹp, nhất là vào lúc bình minh và lúc hoàng hôn. Mặt nước xanh biếc, vì đây là nơi sâu nhất của sông Hương, lượn lờ, lười biếng xuôi dòng, con đó chỉ như chiếc lá, và con người chỉ là những vết đen. Buổi sáng thì cảnh vật chìm trong một màu sương mờ ảo như bức tranh tàu. Buổi chiều khi phía thượng nguồn đỏ rực một màu rồi thành tím, tím thẵm rồi đen kịt ( nếu lúc này gặp một hồi chuông chùa thì đẹp biết mấy) phía thành Huế đã thấp thoáng đèn chiều : cảnh hư, thực lẫn lộn, thôi thì người trần mau về nhân gian kẻo lạc đường lên tiên cảnh.

Lớp trẻ thì nay chẳng cần tới vọng cảnh nữa, vì đã có karaoke, facebook v.v… nhưng cũng chẳng sao ! Vọng cảnh đã làm xong sứ mệnh lịch sử một thời : “một thời để nhớ, để thương” cho một lớp người cũng đã gần xong cuộc sống. Vạn vật xoay vần, biết làm sao ?

Những ngày ở Huế tháng 4/2016

Tháng 6/2017

Về đầu trang

Powered by SmugMug Log In