Văn - Thầy Phạm Văn An-2 - VAN-HOC DALAT

Gặp Gỡ

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
GẶP GỠ

Anh hỏi tôi (1) “Sao cứ thắc mắc chuyện đi với về, nhờ phương tiện truyền thông nay đã tối tân và phát triển, bên này gọi một cái, chỉ vài giây sau, bên nhà đã nghe được tiếng nói, nếu cần thì có cả hình ảnh người đang nói. Mang cả hình ảnh bên Tây về cũng chỉ mất vài phút, có chi mà phải gặp gỡ trực tiếp, mất thời gian !”

Ở nhà lại nghĩ khác, gặp gỡ như vậy chỉ là sự đánh lừa. Người nói chỉ là kẻ giả danh, mạo danh, đôi khi là kẻ lừa lọc, anh đang nói với tôi đấy ư ? đâu phải ! một hình ảnh biết cử động, một con rotbot cụ cựa, một con rối đang diễn kịch, đang lừa tôi. Tôi đâu có “bắt được tay, day được mặt” nó để biết là đúng anh hay không ! lúc này thiên hạ hay lừa dối lắm, chẳng tin được. Chẳng ai lại đi chuyện trò với một cái bóng, với một bức tranh, dù cái bóng đó, bức tranh đó có giống anh thì cũng gần như thật, chứ chưa là anh thật sự. Tình nghĩa chỉ trao cho người thật và nếu được gặp anh tôi sẽ thấy thỏa mãn biết bao khi được “mắt trong mắt, tay cầm tay” rồi tìm xem sau 40 năm, khuôn mặt anh có còn dấu vết gì của “ngày ấy” không.

Trong ‘Bích câu kỳ ngộ” Tú Uyên dù mua được bức tranh, chàng không thỏa mãn mà lại càng nhớ hơn, chỉ đến khi chàng bắt gặp người yêu thực sự và xé bức tranh đi để nàng khỏi ẩn vào đó nữa, thì tình yêu của chàng mới được mãn nguyện.

Tình cảm thực sự là như vậy đó. Có ai – trừ kẻ tâm thần – lại muốn tâm sự với bức tranh ? làm sao trao gửi nỗi niềm với bức tranh ?

Anh có biết không ? Tết vừa rồi, đã có bao nhiêu người – nhất là những công nhân nghèo – hăm hở về quê ăn tết, trên những chuyến xe chật chội mà vẻ mặt vẫn vui tươi, hớn hở. vì họ sắp gặp được người thân. Có người dành dụm cả vài năm mới đủ tiền để trang trải cho chuyến về quê gặp gỡ, rồi lại có kẻ vay mượn với bất cứ cách nào, để có tiền về quê, để một lần gặp lại người thân vì họ sợ sẽ không có lần sau nữa khi mà người thân đã già.

Tình cảm không “đóng gói” gửi đi được mà phải trực diện trao gửi khi đó tình cảm sẽ nảy sinh thêm và cuộc đời tiếp tục tìm được niềm tin để sống. ”Mặt cách thì lòng cũng xa”, câu tục ngữ đó đã cho người ta một trải nghiệm thấm thía.

Tôi có người bạn ở nước ngoài yêu cầu tôi thỉnh thoảng gửi cho anh “vài dòng” chứ anh không thích nghe điện thoại hay đọc email, anh cho đó là cách duy nhất để nhận biết ra tôi qua nét chữ, có lẩm cẩm không hay đầy triết lý ? Tôi có định kiến với máy móc, phương tiện truyền thông, chỉ có duy nhất một máy điện thoại để bàn. Laptop hay vi tính con cho tôi đều trả lại, vì nó tập cho tôi cái tính dối trá, đánh lừa. Mỗi tuần tôi tới nhà con bảo cháu lên mạng, tìm xem trang Văn Học có gì mới, email có ai nhắn; Xong thì về với sự cô đơn còn lớn hơn trước!

Lặn lội lên Dalat : 3 tiếng đi, 3 tiếng về, đổi lại được 3 tiếng bù khú với “các lão ngoan đồng”(2) là tôi thấy đủ rồi, vui và thỏa mãn hơn cả nhặt được tờ 100.000 đô từ trên trời rơi xuống.

Tháng 4/2015


(1) Ghi tóm tắt câu hỏi còn ý thì vẫn giữ nguyên
(2) Gọi họ là lão vì ai cũng đã trên 60 tuổi rồi. Trong xã hội, họ là ông nọ, bà kia, nhưng tập hợp lại họ vẫn trẻ nên gọi là “ngoan đồng”, vẫn ồn ào, mày tao… chỉ “cái trẻ” chứ không thấy “cái già” lúc đó, và khi thầy hỏi lại dạ, vâng như ngày nào


Về đầu trang


Gần Chùa Gọi Bụt Bằng Anh

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
GẦN CHÙA GỌI BỤT BẰNG ANH (TỤC NGỮ)

Địa vị của ông Thầy , trong đạo Khổng rất cao trọng, chỉ đứng sau vua, trên cả cha mẹ “Quân, sư, phụ”. Cha mẹ sinh con thì ông thầy là người giáo dục cho đứa trẻ thành người vẹn toàn đức trí.

Có khi nào ông thầy bị tước bỏ thứ bậc đó không ?

Bậc Đại giác như Phật mà còn bị người ta gọi bằng Anh huống chi là ông Thầy !

Người ta gọi “Bụt bằng Anh” chỉ vì người ta gần Bụt quá, quen thuộc quá; là hàng xóm với “Bụt” thì từ sự kính trọng, đổi thành thân kính và dần dà thân quá hóa sàm sỡ, coi thường. Cho nên đạo Khổng đặt ra khoảng cách, trật tự, thành tầng, lớp. Kẻ dưới phải kính nể kẻ trên, có khoảng cách mới có sự kính trọng (kính nhi viễn chi) từ khoảng cách cộng thêm với sự nghiêm nghị, kẻ trên luôn là thần tượng, là Ông Thánh. “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa” giáo dục mà không nghiêm ông thầy mang họa vào người.

Tôi lại cho rằng kính trọng quá thì thành sợ sệt, từ mà sợ thầy thì sao thầy dạy được ! Vì giáo dục là truyền thụ mà học trò muốn hấp thụ lời thầy dạy thì thầy phải cởi mở, thân tình chỉ bảo thì học sinh mới tiến bộ.

Trong đời đi dạy, tôi luôn muốn gần học sinh, đôi khi cần, thì bàn bạc, tranh luận giữa đôi bên cũng được. Khổng Tử nói : “Người quân tử HÒA mà không HÙA, kẻ tiểu nhân HÙA mà không HÒA” đó là phương châm để tránh sự lờn mặt. Hòa đồng với người để hiểu người, nhưng không a dua theo người để làm điều mất nhân cách.Đó cũng là điều khó vì từ Hòa thành Hùa khoảng cách không mấy xa. Nhưng ông Thầy là kẻ có học mà sách đại học thì trao cho trọng trách :

“Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân…”

Ông thầy quên làm sao được cái trọng trách này mà a dua với trò được.

Chúa Giê Su khi giao tiếp với quân thu thuế đã bị dị nghị, chê bai, nhưng chúa vẫn là chúa, chứ có bị quân thu thuế tha hóa đâu?

Hôm ngồi ở quán Hoàng Hạc (nơi Thung lũng vàng) anh em vui vẻ, nảy sinh nhiều chuyện tiếu lâm, tôi cũng góp một câu chuyện, mọi người nghe xong, lại im lặng – Không hiểu sao, Ông nhà thầu phát ngôn một câu làm mọi người giật mình : “phải gọi thầy bằng anh mới phải!” Rồi hôm ngồi dự sinh nhật của 3 người ( Cường, Hùng, Cúc) ông “vô phúc” phút chót, mời tôi “đấu rượu”, tôi nhận lời, nhưng ông Ngân hàng viên lý : “Thầy phải ra xe về, kẻo trễ giờ” , tôi đành bỏ cuộc đấu. Ừ, vui trong hòa đồng nhưng vẫn “thân kính” có sao đâu? .Cũng có một trường hợp : một chị đề nghị tôi ở lại, để chiều đi gặp một học sinh việt kiều. Tôi không chấp nhận và giải thích : ít nhất phải có một lời mời, vì thầy không thể đi tới trò được, nếu không có lời mời – trừ khi người trò đó ốm đau nguy kịch. Tôi vẫn khó tính khi cần và vì tinh thần chỉ cần một cú điện thoại là tôi lên Dalat tham dự đám cưới, khỏi cần thiệp báo.

Vậy thì, nhắn riêng ông nhà thầu và chung mọi người : Gọi tôi bằng anh cũng được, nhưng để tránh “chút bờm xờm” có thể có, xin gọi tôi là “Anh cả” để tôi dùng “Quyền huynh thế phụ” giao tiếp với các anh. Để vừa gần, vừa xa, e chừng hợp “đạo lý” hơn.

Tháng 5.2016


Về đầu trang


Gập Ghềnh Đường Tu

Thầy Phạm Văn An


Vị thầy rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Ông nhận thấy người đệ tử không còn cần đến sự dẫn dắt của ông nữa nên ông dựng một túp lều bên bờ rừng để người ấy tiếp tục tu hành.

Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, khi đã xong thời thiền và kinh kệ, ông xuống dòng sông bên cạnh giặt giũ, tắm rửa, phơi chiếc áo trên cành cây, rồi chiêm nghiệm vạn vật, thiên nhiên để thánh tẩy tâm hồn.

Một ngày nọ, ông vô cùng bối rối khi thấy chiếc áo rách một lỗ. Lại phải vào làng, xin mảnh vải để vá chiếc áo.

Lần sau, dù đã cẩn thận phơi chiếc áo trên cao, chẳng biết đàn chuột dùng cách nào, mà lôi chiếc áo xuống, cắn rách bươm. Lần này chắc phải vào làng xin chiếc áo khác. Để tránh hậu họa, ông nẩy sinh ý xin một con mèo về nuôi. Một rắc rối lại xẩy ra : Hàng ngày, khất thực độ thân đã làm phiền dân làng, này thêm con mèo nữa, lại thêm một gánh nặng cho dân làng. Ông nghĩ ra một cách mới : bán mèo đi để nuôi vài con gà con, gà ăn ít lại biết tự kiếm ăn. Đàn gà lớn dần, sinh sôi nảy nở, khiến ông bận bịu, không còn thời gian để kinh kệ, ông bán gà đi để nuôi bò, bò ăn cỏ chẳng phiền đến ai, chăn thả cũng đỡ tốn công.

Thời gian qua đi, con bò đem lại nào bò con, bò cháu, ông định phải thuê một người chăn dắt, cũng chẳng bận bịu và tốn kém gì. Chia cho người chăn dắt con mới đẻ để anh ta cùng chăm nom luôn : lợi cho anh ta, mà đàn bò của ông lại vẫn béo tốt.

Đàn bò, với thời gian, lại gây phiền toái cho ông, vì chúng đông lên, một người không thể cáng đáng nổi, ông lại phải thuê thêm người : một, hai rồi ba.

Sự điều hành trại bò làm ông mất thời gian quá. Kinh kệ bị sao nhãng, mà sự tu hành cũng bị xáo trộn. Thực tế thì không bỏ được đàn bò. Ông nghĩ : thôi thì ngưng việc tu hành lại, để giải quyết công việc trước mắt. Tu thì tu cả đời, chứ đâu phải vài ngày, vài tháng.

Thế là chốn heo hút ngày xưa, nay trở thành một trị bò qui mô.

Thầy, say mê kinh kệ, tu trì, nên quên đệ tử xưa. Nhớ lại, ông hối hận, chẳng biết đệ tử sống chết ra sao, ông khăn gói lên đường, trực chỉ lối cũ, đường xưa. Tới nơi, ông ngạc nhiên, chẳng thấy túp lều đâu cả. Trước mắt ông là một trang trại qui mô. Ông vào hỏi thăm, người làm công cho biết tên của chủ trại thì đúng với tên ông hỏi, nhưng chủ trại không phải là thầy tu. Vị đệ tử vừa thấy bóng ông, đã lẩn trốn, nhưng rồi nghĩ sao, anh lại ra quỳ trước mặt thầy kể lể nguồn cơn và nhận tội.

Vị đại sư không nói gì, lặng lẽ rút lui.

Lạm bàn : Đường tu thật lắm gập gềnh, gập gềnh do ta tạo nên, cũng còn do người khác ngăn trở.

Người tu hành vốn là người thế gian, câu kinh, tiếng kệ không dễ thấm vào lòng người ngay, để người tu hành bỏ đi tham, sân, si của thế nhân thường tình. Một sơ suất nhỏ, một phút thiếu suy nghĩ, thì niết bàn rời xa và địa ngục tới gần, công tu hành thành con số không.

Hồi kết câu chuyện : người đệ tử sám hối , quỳ dưới chân người thầy , mà thầy chẳng mảy may động lòng, lặng lẽ bỏ đi. Sao ngài không cho một lời khuyên? Sự đã rồi, đã trượt dài xuống dốc, tâm đã là tâm tính toán, tâm quay cuồng thì Tâm đâu nữa để mà “biện tâm”. Nếu vị sư phụ tới sớm hơn, thì ngay lúc đàn gà được bán đi để mua bò, có thể còn kịp, vì lúc đó tâm mới bắt đầu “loạn”. Nay tâm đã là tâm trần với một cơ ngơi dồ sộ, thì đường tu đã khóa lại và đường trần đang rộng thênh thang. Sự sám hối, nếu không là hình thức, thì cũng chỉ là sự nuối tiếc của giấc mơ cực lạc, niết bàn; mà vị thầy là hiện thân mơ ước.

Vị thầy thất vọng? chẳng hề , tu là tu cho mình, công tu mình được hưởng trọn vẹn, chứ có chia sẻ được cho ai ? Không tu được thì hoàn tục. Tốt cho mình và tốt cho mọi người. Tu giả là một tội lừa dối, đáng ghét hơn bất cứ sự giả dối nào khác.

Phương ngôn của Pháp có câu : “cái áo không tạo nên thầy tu (L’abit ne fait pas la moiune)” đó là lời cảnh giác cho người tu hành, ở đâu cũng có cảnh thật giả lẫn lộn, ngay cả chốn tu hành trang nghiêm. Câu chuyện Đường tăng đi thỉnh kinh, vì không khéo “ngoại giao” nên chỉ mang về được kinh giả, là một câu chuyện hư cấu, nhưng cũng đáng để suy ngẫm.

Tháng 10/2017


Về đầu trang


Già, Trẻ

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
Bài 4 : GIÀ , TRẺ

Anh nhận xét (1) : “Nhìn thầy trong các ảnh chụp với các bạn nhận ra ngay, tóc vẫn đen, thầy vẫn trẻ…” Tôi chẳng biết phải trả lời anh sao ! tự vấn, thấy mình vẫn như mình 40 năm trước. Thế là được rồi !

Còn trẻ là bởi mái tóc chưa bạc ? Căn cứ vào mầu tóc mà bảo là trẻ hay già thì… như Ông táo văn Học thấy các bà (cô) vẫn giày cao gót, mái tóc mượt mà rồi thắc mắc hỏi Ngọc Hoàng khiến ngài cười… Hôm ngồi ở nhà anh Cường, tôi hỏi các cô (bà) thì bà nào cũng thú nhận có nhuộm tóc.

Thắc mắc thì các cô (bà) trả lời : nó bạc từng mảng, trông kỳ quá! Ừ thì trông kỳ như con chó vá, nên mới đi nhuộm cho đồng màu, chứ không phải vì “cái già sồng sộc nó thì tới nơi” mà thực tế thì các bà (cô) còn trẻ thật, hỏi nhiều câu khiến tôi khó trả lời ! Lại nhớ hôm cô Huyền về, trong khi chờ, tôi ra đường tản bộ, khi vào đã thấy đông đủ, màu tóc trắng xóa lác đác đó đây trong ánh chiều tà. Có một ông cao lêu nghêu, tóc râu bạc trắng, tôi tưởng là một phụ huynh nào đưa cháu tới dự, tiện thể đứng lại trò chuyện, tôi đi qua, ông ta “chào thầy” tôi ngơ ngác, các anh đứng bên cạnh nhắc : “thầy không nhớ thằng MX à ?” thì ra cái anh chàng “vừa chơi, vừa học” ngày trước. Hôm sau , gặp cả đám, trò chuyện thì thấy họ đâu có già; vẫn mày , tao, ồn ào như lúc trước trong giờ ra chơi.

Vậy thế nào là già. Hôm họp mặt với nhóm 74-75 ở vườn Bích Câu, thấy truyền tay nhau bài “tuổi già” của Chu dung Cơ (2),tôi ghé đọc, thấy tuổi già của ông chẳng giống gì tuổi già của tôi, chẳng rút được bài học nào cho tuổi già của mình !

Vậy già không căn cứ vào mái tóc, vậy vào đâu ? Vào sức khỏe ? Chẳng đúng, có anh gọi tôi là thầy, nhưng nhìn dáng đi lụ khụ, nói trước quên sau, thật tội nghiệp ! lại có những anh tuổi dưới tôi cả 10 năm, thế mà đã sang thế giới bên kia chơi rồi đấy ! Thắc mắc điều trớ trêu này, có người bảo “Chúa định” lại đổ thừa, bê tha cho lắm, rồi thì sức khỏe sút giảm, “lỗi tại tôi mọi đàng” câu kinh hàng ngày đọc thuộc, mà quên nghĩa.

Cũng có người nói già khi trí tuệ không còn minh mẫn nữa, nhưng minh mẫn hay u tối là tại đâu ? Tại não bộ lười hoạt động hay bắt nó hoạt động quá mức thành chai lì sớm ! Cái già tinh thần này thật đáng sợ ! Trẻ không tha, già không cản !

Vậy làm sao để chiến đấu với thời gian, dành lại phần thắng cho mình?

Anh bạn hỏi tôi : Thầy có bí quyết gì ? Nói là không thì lại nghi là “dấu bảo bối trường sinh” , nói là có thì tìm đâu ra câu giải đáp ! Tôi cứ sống tự nhiên như cuộc đời nó đến, chẳng đón, chẳng đưa . 40 năm qua, có lúc buồn chán thật, nhưng rồi nghĩ : buồn chán cũng chẳng giải quyết được gì ! Cho qua , thiếu thốn à ? thánh kinh nói “Chúa lo cho tất cả”. Cao bá Quát đưa hình mẫu : “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cần no…”. Đọc Trần nhân Tông, ông lại nói : “đói ăn, mệt nghỉ, hỏi chi thiền”, Bạch cư Dị lại nói : “sống tự nhiên là thiền”, té ra mình đang ‘nhập thiền môn” đấy ư ? Xem các sách Thiền, thấy cao siêu, ghê gớm quá ! vượt qua khả năng “nhập đạo” của tôi. Có điều để ý là ở bậc sơ thiền, người ta chỉ cần luyện tập hít thở cho đúng và chú ý đến nhịp hít thở, thế thì làm được, dễ mà lại đang thừa thì giờ. Tôi tập “thở ra dài , hít vào sâu” chú ý đến hơi thở ở mọi lúc có thể; nay thành thói quen. Ngẫm lại thì hiểu được lợi ích : máu huyết đủ O2, lưu thông điều hòa, lục phủ, ngũ tạng hoạt động, thế là có sức khỏe, chỉ chú ý vào hơi thở sẽ gạt ra mọi suy nghĩ vẩn vơ ( chính suy nghĩ này gây đau khổ) trí não có nhiều dịp nghỉ ngơi, calo đỡ tiêu hao (não hoạt động tiêu thụ từ 40 – 60% ca lo của cơ thể) nên ăn ít (đỡ tốn gạo) đỡ nạp độc tố (vì thực phẩm bẩn khá nhiều) sức khỏe được bảo vệ.

Điều quan trọng của thiền là phải định được tư tưởng, nghĩa là phải neo nó vào một nơi (vấn đề, mục đích) chính đáng, đừng để nó vô công, rồi nghề đi hoang. Gia đình đã ổn định, tôi neo trí suy nghĩ của tôi vào lớp học trò cũ, vào trang Văn Học, nhờ vậy mà nhiều lần, tưởng là cạn ý, hết bài, nhưng nay vẫn để dành được nhiều để từ từ trình làng (hay hoặc dở không cần biết, chỉ biết là thành ý).

Đấy tôi đang sống như vậy đó. Tôi già, tôi trẻ, tôi chẳng cần biết, như

Ông Phỗng mà .

Tháng 6/2015



(1) tóm lại lời, giữ đúng ý câu hỏi
(2) Chu dung Cơ, cựu thủ tướng Trung Quốc.


Về đầu trang


Gõ Cửa Tình Yêu

Thầy Phạm Văn An


PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
GÕ CỬA TÌNH YÊU

Có một anh chàng “lao đao” mãi mà vẫn thất bại trong tình trường. Đọc thánh kinh thấy có câu :

Gõ thì mở

Xin thì cho

Tìm sẽ gặp (mt 77 – 111)

Như tìm được đáp số của đề bài, anh ta “tiếp cận” mãi, mà cô nàng vẫn “nguây nguẫy” quay đi, anh ta thật sự đau khổ. Đau khổ về gì còn chịu được, chứ đau khổ về tình yêu thì “hết thuốc chữa”

Đời con đau khổ đã nhiều !

Rất thông cảm với anh chàng, vì ai cũng biết câu thơ “yêu là chết trong lòng một ít”.

Lại đọc trong thánh kinh có câu : “tạo hóa sinh ra con người có nam, có nữ, người ta sẽ lìa cha mẹ mà sống với vợ mình, cả hai nên một xương thịt (mt. 10.11.12).

Anh ta chắc mẫm là “xin Chúa thì được” nhiều lần dự lễ hôn phối tại nhà thờ, thấy vị linh mục hỏi đôi bên đại khái như sau : Hai bên có thật thương yêu nhau không. Nếu cả hai trả lời là “có”, thì vị linh mục tuyên bố thay mặt hội thánh tuyên bố thành vợ chồng, vậy có lẽ anh chàng trong bài hát đã hiểu lầm câu nêu trong kinh thánh. Thật ra lời Chúa là để áp dụng cho những ai muốn vào nước thiên đàng : Còn trong hôn nhân là do đôi bên quyết định như vị linh mục chủ tế đã nói. Phong cho Chúa chức “ông tơ, bà nguyệt” kể ra hơi quá đáng, Chúa bận trăm công ngàn việc, chứ đâu có thì giờ để xen vô công việc yêu đương của loài người.

Tuy vậy : Câu thánh kinh vẫn áp dụng tốt cho đoạn đường “gõ cửa thình yêu”.

Gõ thì mở : Lịch sự thì cô nàng mở ngay, có khi thì người khác ra mở với một câu vội vàng “cô không có nhà” mặc dù nàng đang khúc khích cười bên rèm. Vậy lần sau lại “gõ”, có khi phải gõ cửa vài chục lần mới thành công. Được gặp nàng rồi phải có nghệ thuật chuyện trò. Nên nhớ rằng :”Đàn bà nói có là không, nói không là có” nên phải vận dụng toàn bộ trí thông minh ra để hiểu. Đi học một lớp tỏ tình ? Chẳng ai dám dạy vì đây là một nghệ thuật mà ! Kẻ vụng dại thì thất bại ê chề, kẻ có khoa lẻo mép thì thành công chóng hơn. Vậy liệu cách mà “ăn nói” sao cho hợp với “gu” của nàng.

Xin thì cho, chẳng có ai cho không ! cái gì cũng phải có điều kiện, nàng nào cũng có sẵn điều kiện, nhưng chưa tiện nói ra mà thôi.

Ngày xưa, có câu ca dao :

Chẳng tham ruộng cả ao liền,

Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ.

Vì khi anh đồ đã đỗ đạt, thì cô nàng được hưởng lây:

Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

Thật là rạng danh cho câu “tô điểm má hồng, răng đen” !

Thời Pháp thuộc, khi mà “cái học nhà nho đã hỏng rồi” (Tản Đà) thì tiêu chuẩn đổi ngôi:

Phi cao đẳng bất thành phu phụ.

Cao đẳng là các trường người Pháp mở ra để dào tạo công chức phục vụ chế độ. Đỗ trường này ra thì được chức : tri phủ, tri huyện hoặc thông phán, ký lục…

Tiêu chuẩn tuy có mới, nhưng chỉ là “bình mới, rượu cũ” vẫn là làm quan và các bà vẫn muốn “theo đóm ăn tàn” để bỗng chốc được làm bà phủ, bà huyện.

Với thời gian, xã hội bị Âu hóa nhiều, thì ngoài ông thông, ông phán, tiêu chí mở rộng thành : “đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu”, vật chất hóa tình yêu. Điều kiện càng thêm phức tạp ! Đẹp trai để xứng đôi vừa lứa với “gái thuyền quyên” trong những buổi gặp gỡ. Còn học giỏi là thuộc tầng lớp trí thức, lớp người mà xã hội nào cũng trọng vọng. Con nhà giàu để có xe hơi, nhà lầu, ăn ngon mặc đẹp.

Còn bây giờ thì tiêu chuẩn trở nên đa dạng. “rổ nào cạp ấy” cứ hợp gu là được, mà gu thì đổi thay mấy hồi, nên cần xem mình, xem người có tương xứng không thì hãy ngỏ lời.

Tìm sẽ thấy : Bây giờ tìm người yêu khó hơn xưa, vì tiêu chuẩn đa dạng, nhưng tìm sẽ thấy : đốt xương sườn gầy tất nhiên sẽ phải đi tìm đốt xương sườn kia để ghép lại. Cố lên ! cố lên !

Thường thì anh không chịu tìm, cứ chờ để người khác tới nên anh thất bại, hoặc vì anh khó tính quá, tiêu chuẩn cao quá nên “ế”. Có khi chẳng cần tìm mà “ người ấy” lù lù trước mặt, hoặc có khi tiếng sét ái tình ập đến, ông thầy tu cởi áo ta dễ dàng mà thấy ngay thiên đàng hiện hữu.

Tình yêu vốn phức tạp và người yêu thì cứ “nguây nguẫy” nên phúc cho ai tìm được tình yêu đầu cũng là tình yêu cuối và rủi cho ai gặp cảnh “yêu nhau lắm, thì cắn nhau đau”.

Dù ở trường hợp nào, cũng nên ngẫm nghĩ câu thơ của Tản Đà :

Một là duyên, hai thì là nợ

Sợi xích thằng đố gỡ cho ra.

Dù “hên” hay “xui” chẳng ai thoát khỏi chữ “yêu” và khế ước hôn nhân vẫn là bản án khổ sai chung thân cho nhân thế đa tình .

Tháng 8/2018


Về đầu trang


Hạ Đến, Đông Sang

Thầy Phạm Văn An

Có người hỏi vị thiền sư : hạ đến, đông sang, làm sao tránh được cảnh này?

Sư đáp : Sao không đến chỗ không hè, mà cũng không đông?

Người kia hỏi lại : Biết tìm nơi đâu !

Nhà sư lại nói : Lạnh thì run rẩy, nóng thì đổ mồ hôi.

Đọc chuyện thiền, ta thấy một sự lẩn thẩn, vô vị. Chuyện chẳng ra truyện hay đó là việc thường tình, nói mà chi, nghĩ mà chi ! Nó vốn vậy, muôn đời vẫn vậy, nói ra có giải quyết được gì đâu! Nếu bình tâm, ừ thì thế, nhưng đó là việc của chúng ta, chúng ta luôn thắc mắc về những điều đương nhiên và muốn câu trả lời. Tìm kiếm suốt đời mà câu trả lời vẫn vắng bặt.

Ừ nhỉ, xuân , hạ , thu, đông. Lẽ tuần hoàn là thế, đâu có thay đổi được ? Nhưng tại sao người ta chỉ thích mùa xuân, mùa thu mà lại sợ mùa hạ, mùa đông?

Câu chuyện nhắc ta việc con người giải quyết khổ đau và hạnh phúc. Thường thì con người tránh khổ đau và tìm đến hạnh phúc, sự vui sướng có càng nhiều càng tốt và khổ đau càng giảm càng hay. Thực tế thì lại khác hẳn : “ngày vui chẳng được tày gang” và nỗi buồn thì “ buồn ơi ! man mác mênh mang là buồn !”. cái vui thì hiếm thế, nhưng có được vui thì con người lại vung vãi, chẳng muốn dè xẻn cho ngày mai. “Cuộc vui suốt sáng, kéo dài canh đêm” là việc thường thấy và hậu quả lại là những ngày khổ đau bệnh tật! Có hạnh phúc thì lại vung vãi hạnh phúc, rồi một hôm nào đó, hạnh phúc bay xa, thì lại thấy đau khổ là sự đầy ải không chịu đựng nổi. Chỉ có kẻ nghèo, kẻ luôn chịu đau khổ, thì khi hạnh phúc tới, họ biết trân trọng niềm vui và luôn chia sẻ niềm vui với mọi người.

Tổng kết cuộc đời : vui ít, khổ nhiều. Tôn giáo thì cho rằng nỗi khổ là sự thử thách để con người biết chọn đường “tu” cho thế giới bên kia được hưởng niềm hạnh phúc viên mãn. Thế nhân không muốn sự lý giải đó, nên câu hỏi vẫn nguyên câu hỏi:

Hạ đến, đông sang, làm sao thoát được cảnh này ? bế tắc, vẫn là bế tắc. Đau khổ vây bủa cuộc đời thì vô phương trốn tránh !

Câu trả lời của nhà sư thật giản đi :

Sao không đến chỗ chẳng hạ mà cũng không đông ?

Chỗ nào trong thế gian này không có hạ mà cũng chẳng có đông ? Sư đã giải quyết vấn đề bằng một xác quyết thực tế :

Rét thì tê buốt ! nóng thì toát mồ hôi.

Đó, một bản án chung thân khắc nghiệt chờ đợi cuộc đời. Người trí vẫn tìm cho mình một lối thoát trong sự bế tắc đó. Ráng mà chịu đựng, vì sức người vô cùng và vô song, ta không chịu khai thác mà thôi : miền Bắc cực vẫn có người sống, miền sa mạc đâu vắng bóng người. Thiền gia lại cho rằng vì vô minh, con người tự đầy ải mình đó thôi ! Đa phần sự đau khổ do chính ta tạo ra, không có nỗi khổ, không có niềm vui, mà chỉ có người khổ, kẻ vui. Vui khổ là một ý niệm tự lừa dối mình. Này nhé : 1 kẻ qua đời, kẻ đau khổ là thân nhân, nhưng sao lại tạo cho mình sự đau khổ ? Vì chết là lẽ tất nhiên. Hãy bình thản đối mặt với nó như đối mặt với cuộc sống hàng ngày. Rồi ông dịch vụ mai táng sao lại vui ? Ông sẽ có môt món hời trong sự kiện này.

Nói gì thì nói, chẳng ai muốn từ bỏ cuộc sống – dù cuộc sống đó đau khổ muôn vàn, người tự tử là kẻ yêu đời nhất, chỉ vì họ không được sống như ý thích của họ mà thôi. Xin chép lại bài thơ “thần chết và lão tiều phu” của La Fontaine mà Nguyễn văn Vĩnh đã Việt dịch, để kết thúc bài này :


Lão tiều phu, củi cành một gánh,
Củi đã nhiều, niên tuế lại cao.
Lật lè chân thấp, chân cao,
Lom khom về chốn thảo mao tối mù.
….
Hỡi thần Chết thương tình chăng tá ?
Đến lôi đi cho dã một đời.
Chết đâu dẫn lại tức thời,
Hỏi già khi nãy kêu vời lão chi ?
Lão tiều thấy cơn nguy, cuống sợ,
Nhờ tay ngài nhắc đỡ lên vai.
Thơ rằng : chết là hết nợ !
Sao mà ai cũng sợ :
Mới hay bụng thế gian,
Khổ mà sống còn hơn.


Tháng 3/2016


Về đầu trang


Hiện Tiền Tri Ngộ

Thầy Phạm Văn An


Ta đang sống,nghĩa là thời hiện tại, ta biết rõ ta đang làm gì, nghĩ gì, đó là điều chắc chắn ta nắm bắt được vì ta biết rất rõ nó thuộc về ta và cho ta cơ hội tốt đẹp nhất để ta tạo một cuộc sống có ý nghĩa, nếu ta muốn.

Còn quá khứ, nó đã không còn, nếu ta cố nắm bắt cũng chỉ là những bóng mờ, nếu ta cho quá khứ một giá trị thì chỉ vì chủ quan, nó có tồn tại đâu, mà mang một giá trị nào? Ở sâu xa trong cõi lòng là sự nuối tiếc, dư hưởng của thời vàng son. Quá khứ có lưu lại một giá trị nào thì đó là truyền thống dân tộc, nền nếp gia đình, nó đã tạo nên một nếp sống, một nếp nghĩ cho thời hiện tại của ta, nghĩa là nó trở thành một phần của hiện tại. Nhiều người đã không có được cái phần tốt đẹp đó của quá khứ: Cả vài nghìn học sinh Văn Học, bao nhiêu người đã biết có trang Văn Học trên Internet, có bao nhiêu người đã lưu luyến nó, tìm đọc nó và có tìm đọc thì đọc qua, đọc chơi hay để làm giàu cuộc sống của mình?

Tương lai là điều chưa có, làm sao tưởng tượng được điều chưa có ? Ta có thể có một dự phỏng cho tương lai, đó chỉ là ước mong. Bao nhiêu người đã sống đúng với dự định của mình? Bao nhiêu người đã sống với nghề tay trái. Chuẩn bị và dự phòng cho tương lai là tính tốt, nhưng rồi bất trắc xảy ra, để rồi phải“ trơ mắt ếch lên mà nhìn, để phải nghe tiếng con tắc kè tiếc nuối thốt lên từ hang tối “.

Vậy, cuộc đời chỉ còn hiện tại. Phúc âm bảo ta phải giết cái tôi, để phục sinh, phúc âm ngầm chỉ bảo phép bí tích rửa tội và rước mình thánh là tẩy rửa con người cũ đầy tội lỗi để sạch sẽ tái sinh trong một con người mới. Phúc âm đã mang lại cho ta một hy vọng, một lạc quan trong cuộc sống hôm nay : với sức sống mới, ta sẽ yêu đời hơn để dấn thân vào cuộc sống với lòng thương yêu chứ không phải là hận thù, ta sẽ sống với thực chất cuộc sống là vì người mà không còn trở ngại nào trong cuộc sống.

Người ta thường nói : tình yêu mãnh liệt nhất, khi nó đang hiện diện, khi đang yêu :” yêu em, thất bát sông, anh cũng lội, tam lục đèo, anh cũng cứ anh leo “, người ta cũng nói :” một mái nhà tranh, hai trái tim vàng”, có thể hiểu là khi yêu ( đang yêu hay hay đang tiếp tục yêu) thì mọi trở ngại đều là thứ yếu.

Các nhà khoa học làm việc cũng với tinh thần “ cho hiện tại“ chẳng vì quá khứ và cũng không vì tương lai, vì họ đã vượt quá khứ để sáng tạo tốt hơn quá khứ và tương lai sẽ có những nhà khoa học khác. Khi sáng tạo, họ chỉ biết họ đang sáng tạo, nếu họ tiếp tục sáng tạo là vì cái sáng tạo trước đã thuộc về quá khứ, không còn thích hợp nữa và hiện tại cần những sáng tạo tốt đẹp hơn, vì thế, thị trường điện tử sôi động hàng ngày, một sáng tạo điện tử mới ra, sẽ có một sáng tạo khác sắp thay thế ngay thôi. Cho nên chạy đua trong lĩnh vực này, người sáng tạo và kẻ thụ hưởng luôn luôn mệt mỏi trong trông chờ; có 2 điều để lựa chọn : một là đứng yên (nghĩa là không sáng tạo, không thụ hưởng) sẽ lập tức là kẻ lạc hậu, là người của quá khứ. Hai là tiếp tục con đường sáng tạo để có cái mới, có sự văn minh. Cuộc sống hiện tại tươi đẹp và hạnh phúc biết bao khi con người biết làm chủ thời gian hiện hữu.

Vậy hãy sống hết mình với hiện tại. Hãy nhớ rằng: ta chỉ sống có một lần, nên phải biến hiện tại đang sống là thời gian vàng ,brbạc và sống cho có ý nghĩa, đừng hiểu một cách tầm thường rằng : quá khứ không còn, tương lai mù mịt, nên phải mau “ hưởng đời“ kẻo uổng một kiếp phù sinh : “ Sáng say, tối xỉn, đêm lăn quay“ không phải là sống hiện tại, mà là sống ký sinh. Cuộc sống đó là gánh nặng cho xã hội chứ không góp gì cho sự tiến bộ của hiện tại.

Tháng 8/2014

(1) Hiện tiền, tri ngộ: Biết rõ cái hiện tại, thấy đúng cái hiện tại, nhận chân


Về đầu trang


Hoàng Thành Huế

Thầy Phạm Văn An



Hoàng Thành còn gọi là Đại nội, một thành nhỏ nằm trong một thành lớn là Thành nội.

Hoàng Thành là nơi vua và gia đình ở, nơi Hoàng đế làm việc. Ra vào Hoàng Thành được qui định nghiêm ngặt, nên Hoàng Thành còn gọi là Cấm thành (Tử cấm thành), nhìn chung thì Hoàng Thành Huế nhỏ, nếu so sánh với các thành ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Thành nội có một khu giữa cửa Thượng Tứ và cửa Đông Ba là nơi ở của quan lại và công sở của chính quyền Trung ương đóng như Lục bộ, Tam tòa, Quốc sử quán, v.v…Nhà ở đây làm theo lối cổ, bằng gỗ, thấp, có tường bao quanh. Thời Pháp thuộc đường Mai thúc Loan ở cửa Đông Ba còn có một dãy nhà do người Pháp xây dựng cho công chức ở. Nhà song lập với một mảnh vườn. Kiến trúc nửa ta, nửa Tây. Phía sau Hoàng Thành là khu Tịch điền, mỗi năm theo tục lệ, vua ra đây làm lễ “tịch điền” cày luống ruộng đầu tiên, khởi động cho mùa vụ trong năm.

Dân chúng sống chung quanh, nhà thấp lè tè, dù nhà giàu cũng không được xây cao quá qui định – cao bằng hay hơn nhà trong Hoàng Thành. Nhà sang thì xây gạch, xen lẫn nhà tranh, nhà có vườn bao quanh trồng cây ăn trái, nhà nọ cách nhà kia một dậu xanh, thường là cây Trà tàu. Nhìn chung thì Hoàng Thành đường bệ, uy nghiêm, tỏ rõ quyền uy trước đám hạ dân xung quanh. Trước 1975, thì trong Thành nội đã có nhà xây kiên cố, có tầng nhưng chỉ lác đác, còn đa số vẫn là nhà cấp 4. Nay thì khác, Thành nội đã thành một đô thị mới, kiến trúc tây phương, hầu như không còn những căn nhà cũ. Khu lục bộ với nhà truyền thồng, khu Mai thúc Loan với nhà Tây cũng không còn. Sót lại vài căn nhà gỗ phía Hoàng Thành, nhưng là các quán ăn, quán cà phê, dùng kiến trúc cũ để làm đẹp cho mặt bằng xung quanh. Nay, ta có cảm tưởng như thần dân của Hoàng đế xưa kia đã nổi dậy, lấn át vua chúa để khoe cái hiện đại với cái cổ kính của Hoàng Thành. Hoàng thành trở nên lạc lõng trước cái đổi mới của thần dân xung quanh.

Vào Hoàng thành để xem lại nét xưa, nhưng lại thấy nét xưa trong vẻ hoang tàn.

Trước mặt Ngọ môn là Điện Thái Hòa, còn nguyên vẹn nhưng cũ kỹ hơn năm 1975. Nội thất không lộng lẫy mà đen sến vì màu thời gian đã phủ kín, từ ngai vàng đến cột nhà. Màu lung linh của sơn son, thếp vàng mất rồi và nay là màu tàn phai; hoang vắng, thiếu sự xếp đặt và bày biện để xứng danh là điện chầu. Ngoài ngai vàng trơ chõng thì vật tìm thấy chỉ là hai hộp cành vàng, lá ngọc nhỏ, cái dựa tường, cái dựa cột..

Phía sau, đống đá gạch đổ nát của điện Cần Chánh đã được dọn, trơ ra nền điện cao, chứng tỏ đây đã có một cung điện uy nghi.

Hai hành lang nối diện Thái Hòa với các điện phía sau đó sửa chữa xong, nhưng nối với nó vẫn là những cung, những điện đổ nát. Vài cung nhỏ đã được phục hồi nhưng lại để bán đồ lưu niệm. Một cung nọ, chắc chưa biết để làm gì thì thấy một bên là chiếc kiệu, một bên là cỗ xe, giữa là chiếc sập cũ, trên bày bộ ấm chén và bộ chơi xâm hường, chẳng thấy một lời ghi chú và cũng chẳng ai hướng dẫn, giải thích. Có lẽ đây tạm là nhà kho.

Các điện dài khác có bảng chỉ dẫn, có tên điện, cung nhưng chỉ là đống gạch vụn hay nhà đang đổ. Vào Thế miếu và Hiển Lâm Các, cũ kỹ như xưa, đồ tế khí đen xỉn màu thời gian. Ảnh các vua, vị nào trông cũng ngơ ngác nhìn du khách. Cảnh chẳng có gì trang nghiêm.

Duy nhất có Duyệt thị Đường là được chau chuốt kỹ từ sân khấu, tường, mái, trần đến cả ghế ngối xem hát, chắc để thỏa mãn du khách tới đây xem trình diễn.

Đi mỏi chân, theo chỉ dẫn từ cách biển cắm theo đường đi, mà chẳng tìm được gì thêm, tôi ra đường chính để về, thì gặp một xe ngựa chở du khách tham quan. Khách nghỉ chân, Bác Xà Ích giới thiệu đây là lối di chuyển của các bà hoàng và cung nữ từ điện này sang điện khác. Không phải xe ngựa của các bà Hoàng mà là xe ngựa “dân gian” với con ngựa gầy. Bất chợt nhớ tới bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan tả thành Thăng Long thế kỷ 19

Lối xưa xe ngựa hồn Thu thảo
Nền cũ, lâu đài, bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước cũng trau mày với tang thương.

Tuy nói về thành Thăng Long, nhưng cũng đúng với Hoàng thành Huế nay.

Hóa ra, thời Hoàng kim đã mất, thì sự suy tàn của triều đại nào cũng giống nhau vì sự quên lãng của con người và vết tích của sự suy tàn đó, dưới bóng tịch dương, đều cho một cảm giác ngậm ngùi như nhau.

Trở lại cổng Ngọ môn, thì cảm giác có vui lên đôi chút nhờ Lầu ngọ môn vừa được tu sửa, phía sau Ngọ môn thì lầu Tứ Phương cũng đã được sửa xong, nhưng sự tráng lệ của 2 lầu này cũng chẳng che được bao nhiêu những hoang tàn xung quanh.

Tường bao Hoàng thành tróc lở từng mảng, một góc Hoàng Thành trơ ra vết nứt, muốn sập. Mái tường rất nhiều chỗ không còn nguyên vẹn . Chẳng nhìn đâu xa , ngay bờ hào trước mặt Ngọ môn một chỗ sập được xây lại, nhưng chỗ sập khác cách đó độ 20m, sập tiếp và giữ nguyên.

Trước khi thăm Hoàng thành, các anh học sinh đã nói : “Có gì đâu mà xem”.

Tôi chỉ thấy phế tích và được xem phế tích cũng thú vị vì cảm được nỗi buồn của kẻ Hoài cổ, dù nỗi buồn đó chẳng ích gì cho ngành du lịch.

Cuộc Huế du tháng 4.2016


Về đầu trang


Huế: Ăn Và Uống

Thầy Phạm Văn An



Địa phương nào cũng có các món ẩm thực riêng của mình, ta gọi là đặc sản.

Riêng Huế - đất của vua chúa xưa, đất thần kinh – hẳn có nhiều đặc sản nổi tiếng.

Về thực “ăn” trước tiên, hãy nói đến bánh, kẹo mà món xuất xứ riêng ở Huế (nay thì nhiều nơi làm được) là kẹo mè xửng. Hãng mè xửng lớn nhất Huế từ xưa vẫn là Mè xửng Thiên Hương. Trước ở cuối đường Phan bội Châu ( nay là đường Phan đăng Lưu) nay ở đầu đường Chi Lăng Gia Hội. Đến Huế, một bảng hiệu to đùng của hãng này đập vào mắt du khách ngay ở trung tâm thành phố : Chợ Đông Ba. Hang cùng, ngõ hẻm cho chí các cơ sở du lịch đều có mè xửng Huế; nói thế , không có nghĩa là Thiên Hương độc quyền, món kẹo này từ cung đình mà ra. Con cháu của các thợ làm trong cung đình truyền ra ngoài, nên thợ làm mè xửng không thiếu và các hãng mè xửng cũng không hiếm. Ăn thì na ná giống nhau : vị ngọt và dai, làm khéo thì vị thanh dòn.

Bánh lá cũng là loại phải kể đến, ngọt thì có bánh phu thê ( xu xê ) bánh gai, bánh phu thê ở đây không dai mà dòn, bánh gai, đúng là dùng lá gai, màu đen xám, ăn có vị nồng của lá gai, chứ không đen xẫm và dẻo như các nơi khác. Các thứ bánh này thường được du khách mua làm quà. Bánh mặn thì có bánh ít mặn, các loại mặn ăn ngay như bánh bột lọc, nậm, bèo v.v… tìm thấy ở các gánh hàng rong. Cứ tìm các mệ, các o quê, quê một chút là ta thưởng thức được hương vị gốc; còn ở nhà hàng, thì đã lai tạp phần nào từ nước chấm cho đến bột bánh.

Miền nam có bánh xèo, thì Huế có bánh khoái, áo giòn tan, chiếc bánh nhỏ gọn nhưng nhân thật nhiều gồm cả trứng gà và gan, tim heo, xưa có bánh khoái cầu Ông Ba, cửa hàng tuy nhỏ nhưng vào những buổi chiều, khách nườm nượp. Dừng chân trước cửa tiệm đợi vào có chỗ để ăn, là ngửi ngay “khói, hương” của bánh ở các bếp ngay cửa. Ngửi đủ thấy khoái rồi, ăn sẽ khoái hơn. Tiệm bánh này nay không còn, ở cửa Thượng tứ cũng có một tiệm bánh khoái, nhưng ăn “ít khoái”.

Bánh bèo “Thiên mụ” thì nay nhiều quán hơn, ăn chẳng nhận ra hương vị xưa.

Thời sinh viên, nhất là vào mùa đông, chiều chiều thả xe về phía sân vận động Tự do, phía quán cơm Âm phủ để ăn vài chiếc bánh Pâte chaud nóng hổi, thì chẳng thú vị nào bằng, nay cũng không còn.

Bún bò thì phải là bún bò Gia Hội, tiệm mụ Rớt, bún khô và bún nước đều có hương vị riêng. Nhớ một lần đang ăn, thì cảnh sát ập tới đuổi mọi người ra, tưởng lại có “đảo chánh” thì ra thủ tướng Nguyễn cao Kỳ tới ăn bún. Hôm ấy ai đã ăn xong thì mừng vì không phải trả tiền, ai chưa ăn xong thì chẳng mừng vì tiền không phải trả, mà lại bực mình vì không được thưởng thức trọn vẹn. Trời đánh còn tránh bữa ăn mà đây lại là Ông …Thủ tướng. Ở chợ Đông Ba nay cũng có bún bò mụ Rớt, nhưng hương vị kém nhiều.

Cũng ở chợ Đông Ba, xưa có cơm gà Lạc Sơn, cơm trong thố nhỏ : khô và thơm mùi gà. Gà luộc béo ngậy và mềm, nay cũng không thấy.

Cơm Hến thì rong ruổi vỉa hè Huế vẫn nhan nhản từ các vùng quê lân cận mang vào, còn nguyên hương vị “cơm quê”. Nhưng Cồn Hến mới là thủ phủ của món cơm này. Kinh nghiệm người ăn cho biết nên ăn cơm hến trước 10g sáng, sau đó nước hến bị nấu lại nên không còn ngọt như phải có.

Ở Cồn hến còn có chè bắp, bắp Cồn hến do phong thổ của cồn ngọt, dẻo hơn mọi nơi.

Chè Huế có nhiều loại – Hình như không nơi nào trên đất Việt mà chè lại nhiều như ở đây – là lạ, là chè bột lọc nhân thịt quay. Khi mới ra Huế học, nghe nói đến thứ chè này, tôi ngạc nhiên vì cứ nghĩ chè mang bản chất chay tịnh, sao lại có loại chè mà mặn ngọt xen lẫn ? Sao không tạo thêm chua, cay, ngọt, bùi cho đủ vị cuộc đời? Khi thưởng thức thì thấy lạ thật : bột lọc dai, khi nhai gặp miếng thịt quay nhỏ xíu, thấy vị ngậy, thơm của miếng thịt, húp thêm một ngụm đường sền sệt, thêm vị thanh. Tất cả quyện lại thành một vị khó tả, nhưng rất đậm đà.

Món chè hạt sen, long nhãn cũng đặc sắc : chọn thứ nhãn dày cùi, khô, bóc khéo cho còn nguyên quả, lồng vào giữa một hạt sen trần – Phải là sen Tịnh Tâm mới thơm ngon. Món chè ngày chỉ có giữa hè đến cuối thu, là lúc nhãn và sen rộ mùa, một món chè cầu kỳ, đượm chất vương giả, ngon khi cho thêm chút đá, giải nhiệt thì tuyệt.

Ăn chè Huế, nên chọn những gánh hàng rong, để còn đủ hương vị Huế. Trong các tiệm, chè đã nhạt phai hương sắc vì đã pha tạp với khẩu vị Nam (cho nước dừa) hoặc Bắc (Hương bưởi, hương va ni).

Loại nước giải khát “rất Huế” là nước đậu ván rang; màu đen cà phê, hương thơm và giải nhiệt nhanh chóng. Trước thì đâu cũng có, nay tìm mãi mới có một hàng ở góc chợ Đông Ba. E rằng “coca” “cà phê đá” sẽ thay thế, một món đặc sản Huế sắp mất.

Thời sinh viên, sang trọng nhất là tới cà phê Dung – bên hông Tòa án, đường Đinh bộ Lĩnh – để thưởng thức ly cà phê (nói là tách cà phê mới đúng – 1 cái tách sứ trắng trên chiếc đĩa cũng trắng. Phong cách uống cà phê của Pháp) bên đĩa bánh đậu xanh. Cảnh quán nhỏ, ấm cúng, phù hợp với mùa đông và nhất là phù hợp với những đôi trai gái ở độ yêu chín muồi. Quán cà phê này cũng biến đâu mất, có hỏi nhưng không tìm được câu trả lời.

Bia có phải là món giải khát ?

Ở Huế có bia Huda, mà một anh học sinh cho tôi biết ý nghĩa của tên bia, đọc xuôi là: Hãy uống đi anh, đọc ngược là : Anh đã uống hết; Vô tình là một cách tiếp thị cho hãng bia.

Hôm thầy trò liên hoan, tôi quen thói ở Dalat : “dô, dô” không thấy đồng loạt cánh tay dơ ly bia lên. Lại “hô” Một trăm phần trăm (100%), chỉ lát đát hưởng ứng. Cuối bữa, khi các thầy và nhóm nữ sinh đế nghị “2e temps” (uống lại lần 2) những lon bia mở ra, nhưng vài người uống lấy lệ, tốp khác dơ tay “cản” “xin thầy đủ rối”,“Học trò giữ lễ với thầy” hay “phong cách thế”?

Một buổi tối làm một chuyến “Huế by night” từ vỉa hè chợ Đông Ba đến hết phố Trịnh công Sơn, cơ man nào là người chồm hổm bên những chiếc bàn nhỏ, ghế con; thì thầm nhỏ to, chứ không ồn ào. Cũng bia, cũng món đưa cay, nhưng thong thả và điềm tĩnh. Có lẽ vì vậy mà bia Huda hợp với dân Huế - một loại bia nhẹ và dịu.

Rượu đặc sản thì có rượu Hoàng đế. Đây không phải là nhãn mác độc quyền, mà là thứ rượu thuốc tương truyền do vua Minh Mạng để lại, khác biệt là do hãng sản xuất, vì vậy có đến hàng chục loại rượu Hoàng Đế, xem thành phần thì na ná nhau, có hãng mạnh tay đưa câu “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” để quảng cáo. Tương truyền câu này là để nói về hiệu quả của “Minh Mạng thang”.

Có một tối, tôi rủ vài học sinh, mua rượu Minh Mạng về uống. Nhớ đời về rượu Minh Mạng : Có loại uống vào thấy rừng rực, có loại cho hiệu quả thức suốt đêm, có loại bị “Tào Tháo” đuổi. Sợ nên không dám mua về. Cũng phải nói là dân Huế không thấy đem rượu vào bàn nhậu.

Tò mò về “ăn và uống” của Huế, tôi có nhận xét là : Ở phạm vi ẩm thực, chất Huế vẫn còn đậm nét. Ăn và uống chính là để thưởng thức chứ không phải là để thỏa mãn, cho nên ngay khi nhậu, cũng không lấy hứng khởi làm chính , do đó không ồn ào, nhốn nháo. Một nét đẹp Huế ít người để ý.

Tháng 9/2016


Về đầu trang


Hương Giang

Thầy Phạm Văn An


Sông Hương đã đi vào lịch sử và thơ ca.

Hai bên giòng sông, từ thượng nguồn là lăng tẩm các vua triều Nguyễn và đền đài, miếu vũ lâu đời.

Sông Hương có giai thoại về vua Thành Thái và vua Duy Tân. Vua Thành Thái đã từ giòng sông này mà đến với mối tình vương giả.

Kim Long có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.

Và vua Duy Tân và bến Phu Vân Lâu với mưu đồ cùng Trần quý Cáp mưu đại sự. Nhiều bài Nam Bình, Nam ai về giai thoại này đã được các cô lái đò cất lên giọng ai oán trên sông, nhắc người nghe về một thời vong quốc.

Rồi bao vương hầu, công tử như Tùng thiện Vương, Tuy lý Vương, sau này có Ưng Bình Thúc gia Thị đã để lại cho sông Hương nhiều bài thơ.

Trong ca nhạc thời tiền chiến, cũng có nhiều bản nhạc nói về Sông Hương như Trên sông Hương, một thời vang bóng.

Bản thân, Hương giang đã là một bài thơ : Dòng nước trong xanh, lững lờ trôi đêm ngày là một bài thơ tình bất tận. Sóng lăn tăn vỗ bờ như nhắc nhủ, như ai oán một thời Hoàng kim vừa mới qua, nói là vừa mới qua, chính xác là trước 1975, khi Huế chưa là di sản của thấ giới. Còn bây giờ, dòng Hương như lạc lõng giữa xô bồ phố xá và dòng người đông đúc của một đô thị mạnh mẽ phát triển. Lạc lõng vì dòng sông vẫn lờ lững trôi như nó đã từng lững thững trôi như vậy cả ngàn năm qua , mà sinh hoạt 2 bên bờ thì quá nhộn nhịp, ồn ào. Ta có cảm giác mọi người đang bận bịu mưu sinh, bỏ mặc Hương giang trầm mạc.

Trước 1975, Hương giang là nơi sinh hoạt chính của cư dân Huế, nhất là vào mùa hè, mùa thu. Những đêm oi bức, những lúc trăng lên, hầu như mọi người đều tủa ra 2 bờ sông Hương để tận hưởng món quà mà Tạo hóa đã riêng tặng cho dòng sông này, đó đây lời ca, tiếng hát; một cảnh Bồng lai ngay trên hạ giới.

Sông thì phải có đò, nhưng đò Huế chỉ chuyên chở duy nhất “ Chữ tình”,.

Thuở ấy (1975) dọc theo khúc sông đào Đông Ba, từ chân cầu Gia Hội đến chân cầu Đông Ba là một dãy dài những con thuyền. Thuyền vừa là “nhà trên sông” của chủ chiếc thuyền, vừa là phương tiện để ra sông cho mọi người cần thuê để có một chuyến “ lơ lửng trên Hương giang”. Người thuê muốn thuyền đi đâu tùy thích : Ghé chùa Thiên Mụ, ghé điện Hòn Chén, ghé bến đò Tuần (Bãng Lãng) hồi đó, vì an ninh, thuyền chỉ đến đây, chưa dám lên đến lăng Gia Long, Minh Mạng. Khách du cũng có thể tùy ý đỗ lại một nơi “sơn thủy hữu tình” “trăng thanh gió mát” nào đó do mình chọn, có khi cắm sào giữa dòng sông cũng được; chẳng ai cấm cản. Khi con thuyền nhẹ lướt, nhìn dáng cô lái đò mảnh mai. Mái chèo đều đều, nhịp chèo uyển chuyển theo dáng thướt tha rồi bất chợt cô gái cất lên một giọng ai oán khúc Nam ai; Sông Hương lúc đó đẹp mê hồn.

Khách trên đò là ai ?

Có thể là một chàng lãng tử, tạm dừng bước để lắng lại tâm hồn trước mây trời, sông nước thênh thang.

Cũng có thể là đôi bạn cố tri tìm lại nhau, nay nhờ sự tĩnh lặng của Hương giang để ôn lại chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay.

Cũng có thể là đôi nam thanh, nữ tú ngấp nghé vào đường tình của họ sẽ thăng hoa và thêm lãng mạn, vì ở đây không có ai quấy rầy họ và sông nước cũng đồng lõa với họ.

Ngày ấy, những chuyến du ngoạn đông người trên sông ít có. Hình như người ta biết sông Hương không thích ồn ào. Thoảng hoặc, năm thì mười thuở mới có một cuộc trình diễn ca Huế trên sông, thường của nhóm tao nhân, Mạc khách văn nghệ sỹ.

Đò dọc thì thế, còn đò ngang phải kể đến đò ngang bến Thừa phủ, trước trường Đồng Khánh ( nay là Hai bà Trưng) riêng để chuyên chở nữ sinh 2 bên sông : Bên này là trường Đồng Khánh, bên kia là đường vào thành nội qua 2 cửa thành : cửa ngăn và cửa nhà Đồ. Cứ mỗi đầu và cuối buổi học, bến đò tấp nập nữ sinh. Đông nhưng không ồn ào, chỉ có những tiếng thì thầm và khúc khích cười, tiếng lê guốc nhè nhẹ : các cô đang đợi đò sang sông. Nét duyên của bến đò Thừa Phủ còn là tà áo tím và những vành nón bài thơ, một thời là đặc hữu của nữ sinh Đồng Khánh. Khi này, nếu để ý, ta không thấy chàng trai nào lãng vãng ở bến đò. Sao vậy ? Cậu nào chờ bạn thì đã rước cô ngay cổng trường, còn ở bến đò, chẳng ai dại gì đến đó để “ngó” để “nhìn” vì ở đây, các cô là số đông, lớ xớ là bị trêu chọc, thậm chí là cả “ăn guốc, ăn dép” vả lại chẳng ai “dại” gì mà tỏ tình trước đám đông. Còn ở bên kia phía bến xe Nguyễn Hoàng, thì “thơ mộng” hơn, có thể thấy những bàn tay đưa ra để đón những bàn tay từ đò lên, có thể là từng cặp “dung dăng, dung dẻ” trong vườn hoa và cũng có thể có vài chiếc xe đạp đang chờ và rồi sẽ có người trèo lên ngồi – tuyệt đối không có cảnh người ngồi nhầm xe.

Người ta cũng bảo giờ tan học thì cầu Tràng Tiền đẹp hẳn lên, đó là cảnh một dòng chảy của các tà áo tím bay bay trên cầu, những mái tóc thề cuốn theo chiều gió tung bay.

Cảnh đó nay không còn, tiếc cho kỷ niệm một thời.

Nói đến đò, tôi lại nhớ anh T.V.Đ dặn tôi ra Huế, thầy phải chú ý đến tiếng gọi (hỏi) Đò …hông ! (không), Vì chữ nghĩa và câu từ mập mờ nên khó hiểu. Trong một buổi tụ tập với học sinh cũ ở Huế, tôi đem câu kia ra hỏi, câu đáp khi thì lập lờ, tránh né, có người im lặng như chẳng biết gì, có người khẳng định :”Mô, có, thầy” nhưng anh NVM – cái miệng như TVĐ ở Dalat – lửng lờ trả lời :”Đò sông thì chừ không còn, nhưng đò cạn thì có. Tối khuya, thầy cứ đi qua Cửa ngăn và cửa nhà Đồ thì sẽ gặp các cô lái đò hỏi :Tôi hiểu ra câu nói mà TVĐ dặn dò nhờ từ “Đò cạn” của NVM.

Tôi thầm trách ai đó đã “bôi đen” những con đò Huế. Con đò vốn chỉ là một phương tiện di chuyển trên sông. Còn bôi “đen” hay tô “hồng” là do con người, khi chiếu qua lăng kính “tâm địa” của mình (tâm đi với địa, chứ tâm không đi với hồn, vì hồn vốn là một từ có ý nghĩa cao thượng ).

À mà, một buổi tinh mơ, uống cà phê ở dưới cầu Tràng Tiền, phía hữu ngạn, trước trường ĐHSP, có người mời đi đò thật. Đây là những chiếc đò bằng sắt chạy máy, gọi là thuyền rồng: đầu hình rồng, đuôi cũng rồng, sơn phết lòe loẹt, do công ty du lịch Huế quản lý. Mua vé, định giờ rồi định giá nếu muốn thuê cả chiếc, còn đi tập thể để nghe ca Huế thì phải đúng buổi, đúng giờ. Tôi không thích những chiếc thuyền này vì nó không “tình tứ”, to và rộng, trống trơn, không như các thuyền gỗ xưa, thấp , nhỏ đơn giản mà ấm cúng. Giá như người ta vẫn duy trì con đò xưa và quản lý tốt hơn thì Huế đã duy trì một phong cách cũ, để khách du lịch tùy ý lựa chọn, thì nét đẹp của du lịch Huế sẽ Huế hơn.

Không biết những con đò “tình” của Huế đã có từ bao giờ, nếu không có một “bề dày lịch sử” thì chắc chắn là đò Huế đã không được người ta nhớ lâu (ít nhất là đến năm 1975) đến thế.

Xa nữa thì không có căn cứ, nhưng chắc là từ TK 16 – 17 khi Nguyễn Hoàng lấy Phú Xuân làm thủ phủ Đàng trong thì loại đò này đã có. Chắc là thế, vì vua chúa dại gì mà không dùng dòng sông thơ mộng này để di chuyển – khi mà đường bộ còn thiếu – và thuyền rồng vua chúa dùng ngoài mục đích – Tuần Du – thì khi gió mát trăng thanh, sẽ là phương tiện cho vua và gia đình , vua và cung tần mỹ nữ, cùng đi ngoạn cảnh.

Tôi nghĩ lẩn thẩn : dòng nước xanh biếc của dòng Hương có từ nguyên sơ hay vì mắt biếc của người đẹp quý phái từ bao thế hệ, đã nhìn hoài dòng sông khiến nước sông ganh tị mà trở nên xanh như ngày nay. Cả suối tóc của nàng cung tần mỹ nữ chắc cũng làm cho sóng sông Hương bớt giận hờn, mà hiền dịu như tóc bay trước cơn gió thoảng ?

Viết nhiều, nói nhiều nhưng sông Hương chẳng bao giờ lên tiếng để xác nhận hay bài bác các lời khen chê. Sông vẫn chảy như ngàn đời nó đã chảy, hình như sông nhắn nhủ con người ở làn sóng. Sóng sông Hương không ồn ào, hung dữ để cuốn tất cả ra biển, sóng chỉ lăn tăn như cố níu những kỷ niệm mà ai đó thương mến nó để lại.

Sóng nhắc mình, nhẹ nhàng cuộn lại những kỷ niệm đó gửi vào dòng sông.

Ai chờ sông Hương thì sông Hương vẫn đợi

Ai quên sông Hương thì dòng sông cũng chẳng trách

Vì sông Hương – trời sinh – là để thương và nhớ .

Huế, tháng 4/ 2016 /p>


Về đầu trang


Khẩu Nghiệp

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
KHẨU NGHIỆP

Nghiệp là từ của nhà Phật chỉ những rủi, may, vui , buồn mà cuộc sống gặp phải.Tốt, xấu ngày hôm nay là hậu quả những việc làm ở kiếp trước. Một sự chấp nhận bắt buộc, không thể đổ thừa cho ai được, như Nguyễn Du đã nói trong truyện Kiều : Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần hay xa.

Nghiệp do 3 nguồn tạo ra : thân nghiệp, ý nghiệp và khẩu nghiệp. Ý là nguồn của tư tưởng. Nếu chỉ là ý, thì chưa biết, nhưng cũng đã tạo thành nghiệp. Ý do miệng phát thành lời (khẩu nghiệp) và cụ thể hóa bằng hành động (thân nghiệp). Ngẫm nghĩ thì miệng chỉ là công cụ của ý, bị vạ lây thành tiếng xấu; có lẽ vậy nên miệng được viền bằng môi, hình trái tim, biểu lộ sự yêu thương. Ở phái nữ, môi còn được tô son, có lẽ để làm tăng thêm ý nghĩa của nụ cười, tiếng nói. Màu son đỏ, hồng là tình yêu nồng nàn, yêu thương tha thiết, còn màu tím thì sao ? Tình yêu tím ngắt chiều hôm ( chiều tím) hay tình yêu tím tái lòng người. Tím nào cũng ít nhiều vương một nỗi buồn. Đoán vậy thôi, chẳng biết rõ !

Tiếng nói từ miệng thoát ra khiến người đối diện có ngay một cảm nhận, cho nên phải “ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” vì lời nói “không mất tiền mua” dại gì mà gây mất lòng !

Ấy thế mà Nguyễn Trãi lại khuyên người đàn bà (người mẹ) những điều gây ngạc nhiên :

Làm mẹ chớ ăn càn, nói gỡ,

Với con đừng chửi rủa quá lời.

Nghệ thuật “cãi nhau” tưởng chừng (Gia huấn ca) không người đàn bà nào trên thế gian này thắng được người đàn bà Việt Nam. Thuở nhỏ, sống ở quê, tôi đã chứng kiến cảnh một người đàn bà hàng xóm, vì mất con gà, mà bà “reo réo” suốt ngày đêm. Nói là “suốt ngày đêm” vì cứ rảnh là bà “réo”; đêm, vì tiếc của, không ngủ được, bà ra sân “rỉ rả, vì bà không chửi riêng ai, nên chẳng ai ngăn cản được bà, giọng khi trầm lúc bổng; lời thì mạch lạc, không va vấp khiến tôi nghe mà như được ru ngủ. Tỉnh dậy vẫn thấy bà “tụng” êm tai lại ngủ thiếp. Câu chuyện, cho đến giờ, chẳng hề quên.

Người phụ nữ hiện đại, chắc đã “thôi” cái nghiệp này, nhưng chí ít, cũng đôi lần còn “cằn nhằn” chồng, con; quên làm sao được, khi đã là nghiệp; mà lại là nghiệp xấu, thì cái miệng cũng mang lại cho chị em nhiều điểm 10.

Một thương tóc bỏ đuôi gà,

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Sự thu hút đầu tiên của phái nữ là “lời nói”. Trời phú cho họ có giọng nhẹ nhàng, nên lời nói lúc nào cũng “dễ ưa” “dễ mến” và

“có duyên chi lạ!”.

Người xưa nói “sắc đẹp khuynh thành” ta cũng có thể thêm “lời thủ thỉ nghiêng lòng”, nó đánh gục thói bướng bỉnh của người đàn ông. Hối lộ ông không xong, thì cứ nhờ bà, bà sẽ giúp cho. Bà chỉ cần thủ thỉ, to nhỏ, nay ít, mai nhiều, mưa dầm thấm mau. Ông sẽ “xiêu” bao giờ không hay. Chuyện cổ tích “ba phải”, củng cố cho nhận xét này. Bà ăn hối lộ của cả 2 bên. Khi đăng đường, Ông nghe bên A trình bày, nghe có lý, ông phán “mày nói phải” rồi nghe bên B, ông cũng thấy có lý, bèn hạ giọng “ thằng này nói cũng phải”, sau rèm bà thấy ngay, to giọng cản: “cả hai đứa đều sai”, Ông bỗng giật mình, quát to : “bà nó nói phải”.

Người ta thường nói : “đàn ông sợ vợ”, sợ thì không đúng, “đọ sức, thì ai thua ai ?”. Thực tế thì đàn ông có khuynh hướng “cho qua” khi việc được vợ can thiệp vào. Vậy là “nể” vợ, cái sự nể này là do không muốn tranh luận với vợ, vì kinh nghiệm của các ông cho biết “không thể tranh luận với đàn bà, vậy cho qua là “thượng sách”. Từ “sợ” ở đây cũng đúng một phần ; sợ tranh luận, vì người đàn bà lý luận bằng cảm tính, nên “lý mà không lý” sao thắng nổi họ, vả lại “tôi sợ vợ tôi, chứ sợ vợ anh đâu… mà anh phê bình!”

Trong Truyện Kiều, ta thấy Từ Hải “đội trời, đạp đất” “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Ấy thế mà đùng một cái “ chuyển thắng thành bại” ra hàng triều đình, nỗi oan đã khiến chàng “chết đứng giữa trận tiền”. Chỉ đến khi Thúy Kiều khóc lóc, tỉ tê, xác chết mới chịu nằm xuống. Nguyễn Du không kể, nhưng chắc chắn là lời tỉ tê của Kiều đã “đánh gục” chí nam nhi của chàng, nên chàng mới ra hàng triều đình. Từ Hải chết đứng phải chăng vì hối hận đã nghe lời Thúy Kiều ? Nhưng sự khóc lóc của Kiều đã khiến xác chết “chịu” nằm xuống : sự tỉ tê vẫn còn hiệu quả !

Phái nữ là phái yếu, nhưng lời nói của họ - Tùy tần suất, thang âm – thì chẳng yếu chút nào. Hình như tạo hóa đã dành cái nghệ thuật “ăn nói” cho riêng họ , để họ có sức mạnh chinh phục.

Hãy nghe một bài đồng dao :

…….

Con gái bảy nghề

Ngồi lê là một

Dựa cột là hai

Hay ăn là ba

Hay la là bốn

Hay trốn là năm

Hay nằm là sáu

Hay láu táu là bảy.

Ngồi “lê” là tới một nơi để tìm người trò chuyện

“Dựa cột” là tìm nghe những câu chuyện “thế gian sự”

Hay “la” là cãi nhau

Hay “láu táu” là góp chuyện, “nhảy vào miệng người ta” mà nói dù không được mời.

Nếu có một nhóm “tụ năm, túm ba” Hoa chân múa tay” thì đích thị là các bà đang họp “hội nghị”.

Trong 7 cái nghề chuyên môn thì điều 4 thuộc lĩnh vực vị giác. “Cái lưỡi” của các bà phát triển rất sớm và rất “tinh vi” . Các cô mang quà vào lớp từ lúc nào nhỉ ? Không dạy tiểu học, nên tôi không biết, nhưng từ trung học, thì chẳng lớp nào mà nữ sinh không đem quà vào lớp, mà quà cùa họ lại thuộc vị giác mạnh : chua, chát, cay, đắng : me thì phải me xanh; cóc , ổi, khế thì phải còn sống ( chưa chín), các vị này thì phái nam “chào thua”. Ăn- với các cô – là một nghệ thuật đạt đỉnh cao : ăn vặt, ăn hàng, ăn ngon…Hình như nếu thế gian này vắng người đàn bà, thì chẳng tìm đâu ra món ngon. Đây cũng là thế mạnh mà họ dùng để chinh phục cánh đàn ông. Người ta nói “người đàn bà yêu bằng trái tim, người đàn ông yêu bằng cái dạ dày” nhiều ông nghiện các món vợ nấu đến nỗi sơn hào, hải vị cũng chẳng sánh kịp món ngon vợ nấu, tài nấu nướng của các bà lại làm khổ các bà , chỉ được cái tiếng khen là “tít mắt, nở mũi” rồi toát mồ hôi, mỏi tay, mỏi cẳng để cung phụng mọi người. Từ việc được tiếng khen “giỏi nấu” các bà kiêm luôn làm “nội tướng” mọi việc trong nhà từ nấu nướng, giặt giũ, rồi dọn dẹp đều do các bà đảm nhiệm. Nghiệp xem ra đã nặng, ấy thế mà, gần đây người ta còn phong tặng thêm cho 6 chữ vàng “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, xem ra nghiệp chướng đã lên đến tột đỉnh.

May mà trong cái nghiệp nặng đó, vẫn thấy được nhiều nghiệp tốt. Các cụ nói “phúc đức tại mẫu” con được hưởng phúc từ mẹ chứ không từ bố. Các thói ăn vặt, nhiều chuyện kể ra thì chẳng “chết ai” mỏi miệng họ mà thôi. Nếu biết xoay tình thế, thì họ có thể chuyển xấu thành tốt. Biết bao gia đình, do người đàn bà khéo léo trong ứng xử, thu vén tài tình kinh tế gia đình mà “trong ấm ngoài êm” hiếm một cảnh “gà trống nuôi con” mà có hạnh phúc, đúng như câu tục ngữ “mất mẹ, liếm lá đầu đường”.

Vậy khẩu nghiệp của các ông thì sao ? xem chừng các ông sống chỉ để “ăn, uống và nói”.

Phương tiện nào trời cho cũng chỉ thạo một việc, Ấy thế mà người đàn ông dùng cái miệng để làm một lúc 3 việc, mà việc nào cũng “hoàn thành xuất sắc”. Rõ nhất là trong một bàn nhậu “dô” một tiếng là “đồng thanh tương ứng” “dô…dô…dô”. Tiếng “dô” vang rền và khí thế, tiếp là 100% có khi tiếp diễn đến vài trăm phần trăm. Rượu (bia) cạn là bắt đầu gắp lia lịa, chẳng cần ai mời. Tan nhậu thì chồng chất, ngổn ngang chai, lon, chén , đĩa, như vừa xảy ra một trận chiến. Thống kê cho thấy dân Việt uống một năm cả tỷ lít bia, rượu thì đến vài trăm ngàn lít. Cứ đến chiều tối, thì tiệc nhậu diễn ra ở khắp nơi, từ vỉa hè đến nhà hàng sang trọng. Quán nhậu vừa có sáng kiến đưa khách về nhà, nếu say; thế là các ông cảnh sát nhàn hạ, khỏi “kê toa” phạt vạ.

“Nhậu mút mùa” “uống tới bến” “nói thả ga” là những từ rất hình tượng và đã tạo được nhiều kỷ lục của cái miệng. Nói trong bàn nhậu thường “vô đề” hoặc “ đa đề” vì “rượu nói chứ không phải người nói”.

Thói “ăn tục, nói phét” là đặc tính riêng của cành đàn ông, ăn tục là hành vi thiếu lễ độ, thiếu văn hóa, chỉ biết “gục đầu vào ăn”; nói phét là bịa chuyện ra mà nói, lúc đầu để mua vui, dần dà thành thói quen xấu, một kiểu “lừa” “bịp” thiên hạ của kẻ “thùng rỗng kêu to”.

Nghiệp báo, với dân nhậu, không còn đợi ở kiếp sau, nó sẽ đến sau đó ít lâu bằng những bệnh về tiêu hóa, đường máu và cũng có thể đến ngay tức thì bằng cái chết “nhãn tiền” của vụ đụng xe, ẩu đả.

Hiện nay người người Việt Nam còn hoang mang về một cái nghiệp khác, không phải do mình gây ra, nhưng bắt buộc phải chấp nhận, đó là nạn thực phẩm không an toàn. Người ta nói vui : “ăn cũng chết, không ăn cũng chết”, câu nói xem ra vô lý mà lại là chân lý hiển nhiên. Chất độc hại có mặt ở mọi thứ thực phẩm, từ rau gạo, thịt cá đến cả nước uống. Người ta kêu gọi “hãy trở thành người tiêu dùng thông thái” nhưng chẳng có lớp dạy thông thái nào ! Vậy hãy cứ ăn , trong khi chờ.

Chẳng lúc nào bằng lúc này mạng sống “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng” chớ “kêu trời” “nhờ người” mà “lạc điệu” biết tội lỗi do mình thì hãy tự “sám hối”, cũng đừng “xin Chúa tha tội chúng con” vì Chúa chẳng bao che cho ai. Hãy tự cảnh giác cái miệng của mình.

Tháng 9/2017


Về đầu trang


Lệnh Undo

Thầy Phạm Văn An


Bất kỳ ai sử dụng máy tính, đều quen thuộc với lệnh undo dùng để xóa thao tác vừa thực hiện, trở lại nguyên vẹn trạng thái lúc chưa thao tác. Khi ta kẻ một đường bút chì trên giấy, dù kẻ rất nhẹ, nhưng lúc xóa đi, dù cố gắng biết mấy, vẫn để lại một đường mờ ít nhiều. Đối với máy tính thì khác, ta thực hiện một số thao tác rồi ra một loạt lệnh undo, thì thao tác bị xóa đi, không còn dấu vết gì.

Cuộc đời, nếu lệnh undo ứng dụng được, thì hay biết mấy ! Bao sai lầm – vô ý hay cố ý- đều tan biến, không còn dấu vết nào trong tâm trí. Thật tuyệt, ta sẽ luôn mỉm cười và chẳng còn dằn vặt gì trong giấc ngủ. Có đâu sự lo sợ, ngượng ngùng khi gặp lại nhau: khi đó các từ “ hối hận “ “giá mà” “nếu như” sẽ vô dụng và sẽ biến mất trong tự điển.

Tarin Towers, trong bài Things to undo //http://w.w.w frag.com/drugs/love/Tarin.htme) viết : We can undo words with kisses, but we cannot kisses with words ( Ta có thể xóa bao lời nói bàng nụ hôn, nhưng ta không thể xóa bỏ nụ hôn bằng lời nói).

Huyền diệu va linh thiêng thay nụ hôn (tình yêu thương). Bất cứ sự gây đau khổ nào cho kẻ khác – dù cố ý hay vô tình đều có thể tha thứ được. Sự thương yêu sẽ được tái lập ngay và có khi còn đậm đà hơn lúc trước, khi người lầm lỗi đã nhận lỗi và thật tình hối lỗi. Một người biết được sự thương yêu là quý, họ mới sẵn sàng xin lỗi, thì tại sao ta không thể bỏ qua? Và sự thương yêu được tái lập trên mức đầy đủ là để khen thưởng cho sự hối cải đó, nhưng nụ hôn trong tình yêu đôi lứa lại là một sự linh thiêng vì đó là một sự hiến dâng chân lý cuộc đời của mỗi người. Kẻ đánh cắp chân lý đó, kẻ lường gạt chân lý đó là một kẻ vô liêm sỉ, kẻ không biết quí trọng chân lý, thì sao có thể tha thứ được, mà còn đáng bị phỉ nhổ và người cho đã mất đi chân lý mình tôn sùng, thì chẳng lấy gì bù đắp được, một vết thương lòng không thể lành vết và sự xin lỗi, ở đây là vô nghĩa, là giả dối.

Nếu lệnh undo ở đây có công hiệu, thì nó phải có tác dụng trả lại tình yêu nguyên vẹn cho tôi như lúc chưa hề quen bạn, chưa hề yêu bạn. Tôi muốn quên, nhưng không thể, không những con tim tôi còn tồn tại một vết thương không lành mà vạn vật xung quanh tôi lại luôn luôn nhắc nhở tôi : lời thề non, hẹn biển : biển còn đó, sông còn kia, non cao vời vợi đến muôn đời đã chứng kiến lời thề kia, làm sao nất được, làm sao “ undo my love” được. Hận thù ư, chẳng để làm gì ? Nuối tiếc ư ! có gì mà nuối tiếc, nhưng mất mát, thiệt thòi thì có thật. Cho nên có những người, tình đầu đã tan vỡ, thì họ khó và có khi là không thể có mối tình thứ hai; mà mối tình thứ hai có đi nữa, cũng không thể trân trọng trọn vẹn như mối tình đã mất.

Tiếc và thương cho ai “lỡ mộng đầu” và mừng cho ai có “tình

Về đầu trang



Lịch Sử Việt Nam Và Những Vấn Nạn

Thầy Phạm Văn An


- Lịch sử là sự ghi chép những việc xảy ra trong quá khứ một việc được coi là thuộc về lịch sử khi nó đã xảy ra từ ít nhất 50 năm trước. Thời gian đó đủ để những nhận định, phán xét đúng sai lắng xuống và cái nhìn về sự việc được khách quan, chính xác.

- Ai cũng có quyền chép sử, người chuyên chép sử gọi là sử gia. Họ có phương pháp khoa học khách quan khi ghi chép , do đó tài liệu của họ nhiều sự thật, dễ tin cậy.

- Thời cổ đại còn gọi là thời huyền sử (thời mịt mù của lịch sử) thường ít tài liệu để lại. Vì thời gian quá xa, vả lại thời đó chưa có chữ viết và nếu có, cũng giới hạn trong một số người và phương pháp sử chưa được định. Ta chỉ biết thời kỳ này qua những truyền thuyết đầy hoang đường và đôi khi phản khoa học nên tạo nhiều nghi ngờ cho đời sau : Ví dụ các vua Hùng sống trên trăm tuổi, làm sao tin được. Các Tổ phụ trong kinh thánh như Ma – Thu – sa – lem sống đến 969 tuổi, Adam 930 tuổi, Ông Nô e làm cha lúc 500 tuổi và sống đến 950 tuổi. Họ tính cách nào vậy ? Hay thời đó năm, tháng khác nay ? Rồi chuyện Con Rồng, cháu tiên (VN) Thái Dương thần nữ (Nhật Bản) đầy hoang tưởng. Người sau bèn giải thích có một ước mơ trong các câu chuyện đó : Phúc đức trời cho thì sống lâu; nguồn gốc dân tộc càng thần bí càng cao cả, vẻ vang.

- Cổ sử cũng được giải mã bằng các di vật, di tích đào bới được hoặc còn sót lại trên mặt đất : di vật như vũ khí (Ở Trung Hoa, VN…) các mảnh thành quách (như vạn lý trường thành ở Trung Quốc, Cổ loa ở VN). Từ những di vật này, người ta suy đoán ra đời sống, văn hóa người xưa. Ở VN, nổi lên di vật trống đồng (Đông Sơn, Ngọc lũ) với những họa tiết trên trống giúp cho sử gia thấy được phần nào đời sống người Việt cổ. Những suy đoán đó vẫn chỉ là suy đoán vì còn nhiều tranh cãi. Có thuyết cho rằng trống đồng từ phía nam Trung Quốc đem xuống vì vùng này cũng có trống đồng và cũng dùng trống đồng như người Việt cổ (ở đồng bằng Bắc bộ). Mãi gần đây, một nhà khảo cổ Nhật Bản đã tìm được một mảnh của khuôn đúc trống đồng ở Cổ Loa, người ta mới xác định chính cư dân bản địa làm ra trống đồng. Trống đồng nổi bật là trống đồng Ngọc Lũ với những hình người, hình thú, hình nhà và các đồ vật, quí nhất là hình con thuyền trên mặt trống. Sơ bộ người ta kết luận dân cổ Việt sống về nông nghiệp và đã biết dùng thuyền để vươn khơi. Vậy người Việt cổ là ai ? Các dân tộc thiểu số hiện sống ở Tây bắc và vùng núi Hòa Bình, Thanh Hóa có phải là hậu duệ của người Việt cổ ? Vài dân tộc nơi đay vẫn dùng trống đồng trong các ngày hội, nhưng nghi lễ đượm chất lão giáo, chứng tỏ họ từ Hoa nam xuống. Dân tộc còn nhiều phong tục giống người Việt , nay là dân Mường ở Hòa Bình, Thanh Hóa. Cũng có giả thuyết căn cứ vào con thuyền trên trống, suy đoán rằng: Vùng này liên miên có những cuộc tranh chấp giữa các bộ tộc, nên một số người Việt cổ đã dùng thuyền di cư đi nơi khác, nhất là khi gió mùa tới, họ đã tới các đảo của Indonesia bây giờ. Tại đây, thổ dân cũng có trống đồng và con thuyền cổ của họ còn tồn tại đến bây giờ có dáng dấp của con thuyền trên trống Ngọc Lũ. Sau thời nội chiến giữa các bộ lạc là những cuộc xâm lăng của Phương bắc với những thái thú như Tô Định, Sỹ Nhiếp và thành công nhất là Triệu Đà. Ông ổn định được tình thế, chia thành quận để cai trị và mang dân Trung Hoa ồ ạt, tới dây định cư khai phá. Người ta đã khám phá được nhiều mộ Hán ở vùng Châu thổ sông Hồng, cho thấy người Hán đã ổn định cư trú tại đây. Nhưng cuộc khởi nghĩa của dân bản địa vẫn còn tiếp diễn để chống lại ách đô hộ của người Hán. Đến đây sử Trung Hoa đã ghi nhận những cuộc nổi dậy đó như nổi dậy của Hai bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Mai hắc Đế, v.v…và cuộc nổi dậy thống nhất được các bộ lạc để thành một nước rõ rệt là từ Đinh bộ Lĩnh.

- Người ta đã cố kết nối thời Hùng Vương với thời trống đồng, nhưng vẫn còn nhiều đứt đoạn chưa liền mạch được.

- Theo linh mục Nguyễn Phương (giáo sư sử học của Đại học Hóa trước 1975) thì người Việt nay là hậu duệ của những người Việt cổ sống thời Triệu Đà bị Hán hóa do chính sách di dân của Triệu Đà. Thuần túy người Việt cổ thì chưa xác định được, ngoại trừ một chi còn tương đối nguyên vẹn là người Mường ngày nay.

- Các đền miễu ở vùng Phú Thọ chỉ mới xuất hiện sau này, sau thời Đinh, chưa đủ căn cứ để xác định Hùng Vương là triều đại đầu tiên.

- Người Việt xưa cũng như nay tin tưởng vào đủ loại thần : nhân thần (có thật) và cả thần tự nhiên (Như Tản Viên), Sỹ Nhiếp rõ ràng là người Trung Hoa cũng được nhiều nơi ở đồng bằng Bác bộ thờ và tôn là Sỹ Vương (vua).

- Thời huyền sử ở VN còn nhiều nghi vấn. Vậy ta hãy “Tồn nghi” để người sau tìm hiểu, nhưng để có một hãnh diện với người, ta tôn Hùng Vương là tổ với 4.000 năm lịch sử cũng chẳng sao vì người Nhật cũng đã coi mình là con cháu của thần mặt trăng (Thái dương thần nữ), thì đã có ai phản đối đâu !

- Từ Đinh, nước Việt đã có một quốc gia rõ rệt và định chế triều chính cũng đã được thiết lập : hầu như triều nào cũng lập một “sử quán” để ghi chép sử các triều trước triều đại đang trị vì đến nỗi ghi chéo rất chi tiết các việc liên quan đến vua quan : vua có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con, động phòng với bà nào, ngày nào, giờ nào, năm nào đều ghi chép chi li, còn đời sống của dân thì ít đề cập tới, có chăng là việc đóng thuế, phân ruộng. Việc nổi dậy của dân đồng loạt coi là phiến loạn. Sử gia sau này muốn biết chi tiết phải dựa vào dã sử (do dân ghi chép) hoặc các bi ký, gia phả các dòng họ, nên nhiều sai lạc và lầm lẫn. Vả lại, ngay các Quốc sứ quán cũng chẳng có cơ quan hoặc người chuyên môn như phóng viên, thống kê hỗ trợ, họ chỉ được báo cáo rồi ghi lại mà không kiểm định. Do đó việc 50 vạn quân Thanh, hay 10 vạn hoặc 5 vạn, thì cũng “nghe vậy” và chỉ nên hiểu là quân Thanh đông và quân Quang Trung ít, Trận Đống Đa là có thật và ta phải tự hào về chiến trận này : Ít thắng nhiều, thời gian ngắn (trong vòng 5 ngày, mà dự kiến của Quang Trung là 7 đến 10 ngày), (các tài liệu về trận đánh và sau này là tổ chức bộ máy chính quyền Quang Trung , đa số dựa vào Hoàng lê nhất thống chí của họ Ngô thì (ngô gia văn phái) một họ khoa bảng đáng tin cậy vì cùng thời với Quang Trung).

- Lại nói về những chuyện bịa đặt trong lịch sử thì xưa nay vẫn có và là đòn chiến tranh tâm lý của các phe trong cuộc : xa xưa thì Nguyễn Trãi đã cho viết trên lá cây trong rừng câu : Lê lợi vi thần, Nguyễn Trãi vi khanh, bằng chữ mỡ, kiến bò ăn mỡ, đục lá cây thành chữ, lá rụng trôi về xuôi, dân thấy vậy tin là có thần linh mách bảo. Nguyễn Huệ cũng từng lên núi Cấm ở Qui Nhơn để nhận ấn kiếm thần trao để khởi nghĩa. Tin các sự kiện này hay không thì cũng chẳng làm giảm giá trị của các cuộc khởi nghĩa.

Nhận xét chung : Tìm hiểu lịch sử VN là điều khó khăn vì tài liệu thiếu và không bảo đảm tính xác thực, chỉ có thể thấy một cách tổng quát rằng : dân tộc này đấu tranh liên tục và không mệt mỏi.

Tháng 2/2017


Lời Chúc Đầu Năm

Thầy Phạm Văn An




PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

Đầu năm, ngày tết, tâm ai cũng thành khẩn. Người ta mong muốn những điều tốt đẹp cho mình và cho mọi người. Nghe lời chúc tết ta đừng cho là sáo rỗng, giả đạo đức. Đó là cả tấm lòng người chúc mong đợi. Trong các lời chúc tết, ai cũng muốn nhận được lời chúc: giàu sang, phú quý: nghĩa là có nhiều tiền. Tại sao ? Câu tục ngữ mới sau đây giải thích được điều đó:

Tiền là tiên là phật
Là sức bật của lò xo
Là thước đo của tuổi trẻ
Là sức khỏe của tuổi già
Là cái đà danh vọng
Là cái lọng che thân
Là cán cân công lý
Nghĩa là có tiền là có tất cả.

Tiền là tiên, là Phật. Xin đừng hiểu một cách duy lý để đánh đồng tiền bằng với tiên, với Phật. Đó là cách nghĩ sai khuấy, phạm thượng. Tiên, Phật không cần tiền !

Ở cõi Bồng lai, chư tiên chỉ ăn 1 trái đào mà sống cả trăm năm, 1năm trên tiên giới bằng 100 năm dưới trần. Chư tiên dong chơi, ca hát tối ngày. Đường minh hoàng chu du Nguyệt điện mê cảnh hạnh phúc đó đã không muốn về hạ giới (Khúc nghê thường quên đường về dương gian- Thiên thai của Văn Cao).

Còn Phật, ngài đã bỏ cả điện ngọc, tiền tài để đi tu. Ngài đã không mơ tưởng đến giàu sang, phú quí.

Nhớ lại các câu chuyện cổ tích : Mỗi khi gặp hoạn nạn, các nhân vật thường cầu xin tiên, Phật giúp đỡ; thế là các ngài hiện ra để gỡ “bí” cho chúng sinh. Vậy tiền có thể giải quyết mọi bài toán nan giải của cuộc đời như một phép màu, có tiền mua tiên cũng được có nghĩa như vậy.

- Là sức bật lò xo, nay sức bật của tiền còn hơn thế nữa, là bệ phóng của hỏa tiễn. Từ thằng lên ông, từ Mari sến lên hoa hậu : tiên biến hóa được. Người ta thác mắc : chất hai lúa của ông, dáng quê mùa của bà, sao đổi được. Ông giám đốc điều hành cả tập đoàn, cô hoa hậu đứng đầu phái đẹp, đừng có khinh thường kẻo mất việc làm, kẻo bị cúp lương.. Hãy cứ hoan hô đi để vợ con đỡ khổ, nồi cơm khỏi rỗng!

- Là thước đo của tuổi trẻ, tuổi trẻ là tuổi để kiếm tiền. Thông minh, nhanh nhạy, sức vóc dồi dào là điều kiện thuận lợi để chụp giật, để lừa lọc. Miệng dẻo quẹo để nói lời có cánh, trí tinh khôn để dễ lừa lọc. Đó là đặc tính trong thương trường và ngay cả tình trường. Đừng làm giàu cò con như các cụ ta xưa : chăm chỉ, cần mẫn, chắt bóp chẳng kiếm được bao. Phải tận dụng các “ưu điểm” nói trên, tuổi trẻ sẽ giàu sang mau chóng : giấc mơ và hiện thực sẽ không xa.

- Là sức khỏe tuổi già : Già thì bệnh tật nhiều, mà toàn là bệnh nan y cần biệt dược chữa trị, thứ thuốc này rất đắt, không có tiền thì chờ chết.

Cũng có loại tuổi già thích tiền thực sự . Thấy tiền thì “sáng mắt ra”, “khỏe người ra” mặc dù chẳng biết dùng tiền làm gì cả, nhu cầu thì ít, muốn ăn cũng chẳng ăn được bao nhiêu. Có 9 đồng mong có thêm 1 đồng nữa thành 10, cất vào tủ, lâu lâu mang ra đếm lại, thế mà hạnh phúc đáo để. Con cháu biếu quà thì không vui – vì chẳng ăn được nhiều – nhưng nếu cho tiền thì mừng lắm : thằng ấy tốt, con ấy hiếu thảo. Đó là bệnh “nghiện tiền” của người già.

Hai năm trước, báo đăng ở ấp Xuân An, Dalat có một cụ sống một mình, khi chết đi, để lại cả 50 cây vàng. Khổ cho chính quyền phải truy nguyên gốc các bà cụ, để người em ở ngoài Bắc vào nhận. Tôi cũng nhớ ở làng tôi, nổi tiếng có một cụ bà giàu bằng cách cho vay và cầm cố, cũng không có con cháu. Khi lâm chung, bà vật vã mãi mà không đi được. Lúc nào tỉnh thì ú ớ, tay quờ quạo, người ta bảo cụ tiếc của.

- Là cái đà danh vọng: Có tiền mua tiên cũng được, huống chi là danh vọng, danh vọng nhỏ lớn đều mua được cả. Có người khôn ngoan, trước tiên mua danh ( cái ghế ) nhỏ đã; ngồi vét tiền, khi đủ thì mua danh vọng trung, rồi mua danh vọng lớn, cái đà này hơi chậm, bây giờ người ta mua ngay được điều cần mua, mà không phải theo thứ tự ( theo đà ). Này nhé : Ghế này bao nhiêu, ghế kia bao nhiêu, bằng cấp cũng vậy : 200 ngàn bằng THPT, 3 triệu trở lên bằng đại học v.v… Có khi chỉ cần một cuộc nhậu.

Nhớ thời vua Khải Định, cứu phẩm văn giai là hàm được bán mua nhiều nhất; các ông địa chủ thừa tiền mua về để lòe thiên hạ, được làm tiên chỉ trong làng, được ăn trên, ngồi trốc chốn đình chung và cũng tiện để kiếm thêm nhờ cái phẩm hàm nên quen biết khá….

- Cái lọng che thân : Lọng thì lớn hơn ô, dù nhiều, che nắng che mưa tiện hơn, nay người ta dùng ô tô đời mới, chứ không dùng lọng.

Trong câu nói này, lọng phải hiểu theo nghĩa bóng, che thân là tránh được các tai họa của đời người, búa rìu pháp luật, điều này chẳng cần giải thích vì ai cũng biết, biết từ xửa từ xưa, ít nhất là từ thời cô Kiều phải bán thân để chuộc cha , gần thì từ thời Pháp thuộc khi Nguyễn Khuyến thắc mắc : “ Có tiền việc ấy mà xong à ? ngày trước làm quan cũng thế a?”, ít nhiều thì xã hội nào cũng có nạn tham nhũng. “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” tục ngữ VN đã có từ xa xưa.

- Là cán cân công lý , công lý là sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật. Cầm cân công lý lại là con người. Dù bản án có nói nhân danh quốc gia để tuyên án. Có lẽ là để tránh tai tiếng cho Ông Tòa. Án nặng, án nhẹ, án oan, án sai là do đâu ? Vì cán cân công lý bị lệch. Sao lại lệch ? Vì người ta đã bỏ thêm vào 1 bên 1 lời nhắc như một lưu ý, một nhờ vả. Có ai kiểm soát được sự “nhắc khéo” này? nhưng rồi lời hứa hẹn đó sẽ được qui ra tiền, ra vàng, ra nhà lầu, xe hơi….

Nói chung, thì những lời giải thích lẩn thẩn trên chẳng giải thích được gì cả. Khả năng biến hóa của đồng tiền là không giới hạn, là thiên biến, vạn hóa, là phép màu trên cả phép màu. Vậy thì đừng nói là tôi không tham tiền, chỉ vì chưa có dịp tham hay không thể tham được.
Muôn năm đồng tiền,
Hoan hô đồng tiền.

Năm mới, xin chúc quí vị giàu bằng năm, bằng mười năm ngoái.

Tháng Tết 2016

Về đầu trang


Lững Lờ Con Cá Vàng

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
LỮNG LỜ CON CÁ VÀNG

Có người không thích câu chuyện không có kết thúc hoặc kết thúc nửa vời (nghĩa là không giải quyết rốt ráo vấn đề đã nêu ra) họ muốn có một kết thúc rõ ràng bằng một giải pháp cụ thể, thường là kết thúc tốt đẹp . Những kết thúc có hậu, khi người viết muốn chuyển tải một thông điệp nào đó như văn chương cổ điển Việt Nam. Nhà văn mang một sứ mệnh “văn dĩ tải đạo” (văn chương hàm chứa đạo lý) . Họ thường muốn truyền bá điều đạo đức, thông thường là luật nhân quả :”Ở hiền gặp lành, Ở ác tan tành ra tro”. Ta thường gặp kết luận này trong các chuyện cổ tích với các Bà tiên, Ông Bụt hiện ra cứu giúp kẻ lành gặp nạn. Trong các truyện dài như Nhị Độ Mai, Phan trần, Bích câu, người tốt thường được số mệnh hậu đãi và người ác gặp tai họa trừng phạt… Sang thế kỷ 18, các tác giả đã có cái nhìn hiện thực hơn, lưu ý đến hiện trạng xã hội để giải quyết vấn đề. Người Cung nữ trong Cung oán chỉ còn mơ ước một mai nhà vua đoái hoài tới và nàng Chinh phụ trong Chinh phụ ngâm chỉ còn những giấc mơ để an ủi cho số phận :


Khi mơ những tiếc khi tàn,
Tỉnh trong giấc mộng muôn vàn cũng không.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đâu dám để Kim Kiều trở lại mối tình xưa (vì phạm đạo lý xã hội) mà cho nàng “đổi tình cầm sắt hóa ra cầm kỳ”. Một kết luận mà nhiều người không thích. Sang thế kỷ 20, sự Âu hóa dồn dập, nhà văn đã tự do hơn trong sáng tác, nhưng vẫn chưa dám đưa ra rõ ràng một hướng đi cho sáng tác. Họ chỉ trình bày mạnh bạo vấn đề và có chút gợi mở cho người đọc. Nhóm Tự Lực văn Đoàn đưa ra giải pháp “Đoạn tuyệt” “Thoát ly” nhưng rồi nhân vật sẽ đi về đâu? Không rõ ràng. Nhóm nhà văn hiện thực khác như Ngô tất Tố, Vũ trọng Phụng v.v… cũng chỉ mới phơi rồi để đó, chứ chưa có phương hướng giải quyết.

Trở lại với việc sáng tác, nếu câu chuyện trình bày “người thật, việc thật” (như các phóng sự) thì kết thúc phải đúng như sự thật, đúng như nó đã xảy ra, dù kết thúc đó tốt đẹp hay không. Còn câu chuyện hư cấu nghĩa là phần lớn chi tiết là thực, tác giả thêm thắt vào, thì hiện nay người ta có khuynh hướng dùng kết luận mở, nghĩa là buông lỏng vấn đề, không giải quyết để người đọc, tùy nhận thức của mình, dựa trên những tình tiết đã có của câu chuyện mà tìm giả thuyết cho kết luận. Kết luận mở khiến tác giả cũng đỡ vất vả và nhẹ trách nhiệm trong câu chuyện mà người đọc cũng hứng khởi, vì thấy mình được tham gia vào câu chuyện theo quan điểm riêng của mình.

Tác giả dụ rằng nếu có một cuộc thi để tìm kết luận cho một tác phẩm nào đó, chắc chắn là tìm được những kết thúc thú vị, và bất ngờ, cũng gây ra cuộc tranh cãi đầy kịch tính. Cái hay là ở điểm này.
Tháng 7/2015

Về đầu trang






Powered by SmugMug Log In