Văn Thầy Phạm Văn An-trang 3 - VAN-HOC DALAT

Ma Quỷ

Thầy Phạm Văn An




PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
MA QUỶ

Có câu tục ngữ : “Ăn cơm thế gian, nói chuyện âm phủ”, đang sống mà nói chuyện cõi chết, thì ai mà tin được ! Hai thế giới hoàn toàn cách biệt, người ta đã cố tìm một kênh liên lạc nào đó (như gọi hồn, cầu cơ v.v…) nhưng vẫn nhiều nghi ngại.

Tục ngữ cũng nói : “Không có lửa, sao có khói?” nếu không có ma, sao người ta cứ đồn ầm lên về ma?

Dân gian tin rằng : những người chết “bất đắc kỳ tử” (chết đột ngột) linh hồn không kịp chuẩn bị cho mình một lối siêu thoát ( thiên đàng, địa ngục hai bên) nên cứ vơ vẩn, lững lờ ở cõi thế gian (hồn cây đa, Ma cây đề) tiếc nuối cuộc sống, nhìn thế gian nhởn nhơ, họ căm thù trần thế, nên thường gây tai họa cho con người để trả thù ( vì không được nhởn nhơ như người đang sống ). Họ thường hiện ra trong đêm tối âm u, bão tố bịt bùng đi trêu chọc người qua lại. Đồn rằng : Ở dốc đèo Prenn, nơi bên nhà hoang vệ đường, đêm trăng vẫn thấy một “bà đầm” thong thả dong chơi. Đã có lần “bà đầm” vẫy xe qua lại, có tài xế dừng xe, nhưng chẳng thấy “bà đầm” đâu !

Có ma hay không, thì chẳng ai khẳng định được vì chẳng có “nhân chứng, vật chứng”, nhưng chuyện ma vẫn tồn tại và mãi mãi tồn tại.

Ma thì không thấy, nhưng từ ma vẫn được miệng lưỡi con người nhắc tới với một nghĩa chẳng mấy tốt đẹp.

- Ai biết ma ăn cỗ ? Sự bí mật huyền hoặc.

- Ma chê, quỷ hờn : Chẳng thế nào chấp nhận được.

Lại có những từ mà hình bóng ma rõ rệt hơn.

-Ma men : Kẻ say túy lúy suốt ngày ( đâu còn là con người )

Ma cô : kẻ dắt gái ( nghề dơ bẩn )

-Ma túy : Chất gây nghiện

Khi người Pháp sang VN, ta đã du nhập nhiều từ gốc Pháp :

- Ma lanh (malin) : quỷ quyệt

- Tết ma rốc : chẳng bao giờ có ngày này

- Ma femme : vợ tôi. Thú vị nhất là từ này. Người vợ thường là hiền thê ( vợ hiền ) đôi khi cũng là ác phụ ( người phụ nữ độc ác ) Sao vậy nhỉ? Hiền thì hiền thật, nhưng khi “tam bành, lục tặc” (các yếu tố tạo nên sự dữ dằn) nổi lên, thì bà coi trời bằng vung. Đáng sợ nhất là khi bà có “máu hoạn thư” ( máu ghen) thì bà có lắm “độc chiêu”. Nguyễn Du tả Hoạn Thư “đánh ghen” Kiều đã kết thúc bằng câu :

Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Cho người buôn ván, bán thuyền biết tay.

Kẻ thù tình thì dở khóc, dở cười. Sự đầy đọa độc ác đến độ :

Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.

Nói chung ma thuộc diện Ác : ác độc, hiểm ác, đanh ác v.v…

Còn quỷ ? trên ma một bậc (học trò xếp thứ ba). Quỷ dễ sợ hơn ma. Phật thoại cho biết trước khi đắc đạo, Phật đã bị lũ ma quái quấy nhiễu ghê gớm, nhưng Phật đã thắng được. Trong thánh kinh có rất nhiều đoạn nói về Chúa trừ ma quỷ, Chúa chữa bệnh ma ám và chính chúa cũng bị ma quỷ cám dỗ như trong đoạn sau : “ma quỷ đem ngài theo nó lên một núi cao chót vót và chỉ cho ngài thấy các nước thiên hạ cùng vinh quang của chúng… Bấy giờ người phán bảo nó : Satan hãy xéo đi, vì đã viết : Người phải bái lạy thiên chúa… Bấy giờ ma quỷ bỏ đi và các thiên thần tiến tới hầu hạ ngài…” (mt 1.1-11)

Ta hiểu sao về các trường hợp của Phật, của Chúa ?

Trong “Tâm lý học các miền sâu” (Psychologie des profondeurs), Carl Gustave Jung nghiên cứu cho biết : Hoạt động của tâm thần con người có một phần diễn ra tại hậu trường tâm thức, trong các miền sâu thẳm nhất của tâm thức, đó là những tiềm năng xấy tốt lẫn lộn. Gặp hoàn cảnh thuận tiện, nó sẽ xuất hiện một cách rõ ràng, mãnh liệt. Tốt thì đưa ta tới những cảm nhận chân lý như sự giác ngộ, sự cảm biết siêu hình, xấu thì đưa ta tới sự phá hoại, điều đen tối.

Goethe tỏ ra hiểu biết về “ cái bóng đen của chính mình” Khi Ông nói : “Đôi khi tôi cảm thấy có thể làm mọi tôi ác của nhân loại”. Câu chuyện về Phật và Chúa diễn tả sự giằng co khốc liệt giữa cái ác và cái thiện. Cái thiện phải cố gắng lắm mới thắng được để có giác ngộ, dể Phật thành Phật và Chúa thành Chúa.

Như vậy thì ma quỷ nhiều khi do chính ta tạo ra, là cái bẫy ta đặt ra cho chính mình để thử thách mình. Câu nói : “Con người vừa là thánh nhân vừa là quỷ dữ” là ý đó. Rõ nhất là anh chàng say rượu, trong cơn say chửi bới, đập phá, khi tỉnh tìm vợ năn nỉ xin lỗi, hiền lành như ngày nào. Nguyễn Du nói :

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi !

Lầm đường, lạc lối nào ai biết được, cái tâm tà nó xúi bẩy đó mà.

Tên ma quỷ thì tạm là Satan, Dạ xoa; còn hình hài của nó ? Cứ xem phim “Tây du ký”. Thiên hình vạn trạng, nhìn chẳng dễ ưa chút nào !

Trong thời khoa học như ngày nay, còn ma quỷ ? Ở đâu còn khái niệm Thiện, Ác, ở đó còn ma quỷ. Có điều ma quỷ bây giờ rất khó phát hiện. Nó giống ta đôi khi còn “tốt, đẹp” hơn ta nữa. Nó lại tỏ ra “đạo đức hơn người đạo đức” ,“Tâm lý hơn nhà tâm lý đại tài”, nó có nhiều chiêu, chiêu nào cũng tuyệt, cho nên nó dễ cám dỗ ta đến độ : ta thành đệ tử của nó, ta là nó khi nào không biết và khi biết ra ( rất ít ) thì đã muộn. “Dại rồi còn biết nói là sao đây”, đành trở thành Ma – Quỷ.

Câu kinh : “ Xin Chúa giúp con tránh xa khỏi mọi cám dỗ” có linh nghiệm không?

Phật thì thản nhiên trả lời :

Chẳng ai làm cho ta xấu, trừ ta ra.

Cũng chẳng ai làm ta tốt, trừ ta ra.

Tháng 6.2016

Về đầu trang


Mật Mã Tiếng Cười

Thầy Phạm Văn An


Xã hội Á Đông trọng lễ nghĩa, tiếng cười không có chỗ đứng lúc giao tiếp vì nó được coi như một sự thiếu đứng đắn. Nguyễn văn Vĩnh trong bài “Gì cũng cười” nhận xét :“ nhăn răng ra cười, mọi việc hết trang nghiêm. Alexander Bain, triết gia Tô cách Lan cũng có nhận xét tương tự :” tiếng cười đối nghịch với sự trang nghiêm “.

Trong đời sống hiện đại, cũng ít khi bắt gặp tiếng cười vì người ta ít có dịp để cười : sự hối hả, tất bật trong đời sống, cả lúc nhàn rỗi hiếm hoi thì sự vội vã vẫn có bóng dáng; lúc đó là lúc để suy nghĩ, bàn bạc hoặc lập trình cho thời gian sắp tới, lấy đâu ra thì giờ để cười ! Xã hội công nghiệp thật buồn tẻ, sống như một cái máy đã được lập trình.

Nếu tưởng tượng, trong xã hội đó, thình lình có một tiếng cười, thì bầu không khí sẽ bớt ngột ngạt, con người sẽ thấy dễ chịu biết mấy. Bực tức, buồn phiền mà cười được một cái thì như được uống một liều thuốc tăng lực, xả được hết buồn phiền, nhìn đời lại thấy đáng yêu hơn. Nhưng phải nhận là nhiều tiếng cười không có công dụng như liều thuốc bổ mà là liều thuốc độc hại. Thiếng cười “hô hố” lẫn tiếng “dô dô” của các bợm nhậu đâu có dễ thương ! Rồi tiếng mỉm cười của Hoạn Thư khi bắt Kiều gẫy đàn cho Kim Trọng nghe : “ Cùng trong một tiếng tơ đồng, người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” thì thật là tàn nhẫn. Lại có những tiếng cười mang một ý nghĩa thâm sâu mà chỉ người cười mới hiểu rõ, còn kẻ bị cười thì chỉ hiểu chút ít, có khi không hiểu được, cho đến khi đã hiểu được thì đã muộn, mà lúc đó thì chỉ còn “ ngậm bồ hòn làm ngọt” đó là nụ cười mỉm, cười tủm tỉm, cười thầm v.v…

Dù thế nào đi nữa, thì tiếng cười đã có từ rất sớm, có từ khi con người biết….cười va là một nhu cầu trong cuộc sống.

- Truyện cổ Trung Hoa kể rằng : có 3 vị thiền sư, họ chẳng làm gì cả, ngoài chuyện cười. Tiếng cười của họ truyền khắp dân làng, khiến mọi người gây bệnh, suốt ngày cười, quên công việc, quên mọi sự. Một hôm,một trong 3 vị chết, người ta tưởng 2 vị còn lại sẽ buồn, thôi cười, nhưng dân chúng đã lầm, họ vẫn cười. Rồi hôm đem xác chết đi thiêu, chẳng hiểu sao, ngọn lửa vừa bén, thì phát nổ ran trời, khiến mọi người cười ngất. Té ra vị này, trước khi chết, đã quấn quanh người toàn pháo.

- Ấn Độ cũng có một giai thoại về tiếng cười : Một vị đạo sư Ấn Độ kể lại các giai đoạn tu tập của người như sau :

+ Trước hết, thượng đế dẫn ngài tới một xứ sở của việc thiện, ngài tu ở đó để giúp đỡ mọi người. Sau đó thượng đế dẫn ngài đến một nơi đầy đau thương. Ở đây tâm hồn ngài được tẩy rửa sạch các khổ lụy của trần gian. Sau đó ngài được dẫn tới miền đất cô đơn, nơi mà không giấc mơ nào được thực hiện để tâm hồn tan vào sự tĩnh lặng của thiền định. Sau cùng ngài được dẫn tới một chốn linh thiêng, ở đó ngài được vĩnh viễn ở cùng thượng đế : Đây là xứ sở của hoan hỷ, và nụ cười hạnh phúc, một nơi chỉ có chữ “không” và nụ cười chính là “ không gì cả”.

+ Việt Nam có 2 trạng cười nổi tiếng : Miền Bắc có Trạng Quỳnh TK 19, miền Nam có Bắc Ba Phi TK 20, cũng cho nhiều nụ cười làm “mát mẻ “ cuộc sống cho mọi người.

+ Có một tiếng cười thật sự “vô danh” vì không ai đặt được cho nó một “ tên tuổi “ đúng mức, mà cũng “ vô nghĩa “ vì nó chẳng nói lên “điều gì” nhưng lại rất huyền nhiệm và cần thiết; nó như ánh sáng mặt trời xua đuổi mùa đông giá lạnh, nó như niềm vui đến với mọi người dù là khó tính nhất, nó như nguồn hy vọng đối với người đang chìm đắm trong khổ đau triền miên; cứ nhìn thấy nó, là ta có sinh khí để sống chẳng hạn nụ cười trẻ thơ, nụ cười tinh khôi, đầy ắp tình thương yêu. Chẳng thế mà thánh kinh nói: “ Hãy như trẻ thơ và chỉ có tâm hồn trẻ thơ mới vào được nước thiên đàng”. Vậy tại sao ta lại không nhích mép nở một nụ cười với mọi người : Chẳng vì gì cả, chỉ là tôi được gặp anh (chị). Ta “ được thấy nhau “ chẳng là điều sung sướng rồi sao ! còn cần gì nữa vì “ sỏi đá cũng cần có nhau “ huống chi là ta. Đó là tiếng cười cởi mở, mở rộng lòng mình thì người khác cũng sẽ mở lòng đón ta, ta hòa đồng với mọi người. Đó là hình ảnh “ thế giới đại đồng “ có thật, sao ta lại quên đi một cách uổng phí ?

Bảo Lộc, tháng 6/2015

Về đầu trang


Mùa Xuân Cuộc Đời

Thầy Phạm Văn An

Mùa Xuân là mùa mong cầu HẠNH PHÚC . Không ở đâu bằng Việt Nam, mùa Xuân được đặc biệt mong đợi. Ngày xưa, người ta ăn tết đến 3 tháng :


Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè,

Ước nguyện HẠNH PHÚC được thể hiện bằng lời chúc độc đáo nhất : Chúc : Giàu sang bằng năm, bằng mười năm cũ, Mua may, bán đắt, buôn một, lãi mười. Tài lộc đầy nhà v.v…

Ước muốn thì nhiều, nhưng thực tế thì chẳng được bao ( có khi không được gì). Đau khổ bủa vây không lối thoát, chịu đựng không nổi, người ta phải nhờ cả cỏ cây gánh chịu hộ. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Kiều)

Chính Nguyễn Du nói câu này và cũng chính Nguyễn Du – định thần lại, thấy mình nói sai :
Buồn vui cũng tự lòng mình mà ra ! (Kiều)

Kinh Hoa Nghiêm gói gọn trong một định luật :
Vạn pháp duy tâm tạo(1)
(tất cả đều do lòng mình tạo ra)

Cùng một cảnh vật, người nhìn thấy vui, kẻ khác lại buồn. Cùng một món ăn, kẻ khen ngon, người chê dở. Nhà Phật bảo tâm ta như con ngựa lồng lộn, con khỉ luôn leo trèo (ý mã , tâm viên). Tâm trí con người luôn biến đổi gây căng thẳng đến “ vỡ tung cả đầu”.

Kinh Pháp Cú nói rõ hơn :

Ý dẫn đầu các pháp
…………………………..
Nếu với ý Ô NHIỄM
Nói lên hay hành động
Khổ não Bước theo sau.
Nếu với Ý THANH TỊNH
Nói lên hay hành động,
AN LẠC bước theo sau

Vậy : Ý Ô NHIỄM tạo tâm KHỔ NÃO
Ý THANH TỊNH tạo tâm AN LẠC
Mà AN LẠC ( Yên ổn là lạc thú, HẠNH PHÚC) là mục đích cuối cùng con người theo đuổi, sau khi ngộ ra rằng : Tiền tài, danh vọng v.v… không phải là CHÂN HẠNH PHÚC.

Vậy làm thế nào để được AN LẠC ? ( Phật tử thì cầu thân tâm an lạc, Ki tô hữu thì : Bình an dưới thế cho người thiện tâm)

THIỀN (2) sẽ giúp giải quyết vấn đề :
‐ Thiền (2) là một môn thể dục tinh thần, giúp ta lắng đọng tâm hồn, gạt bỏ tạp niệm (ý nghĩ vô ích)
- Định (3) là tập trung tâm ý để nhận biết đúng sự vật ( như thị). Khi đó ta sẽ biết một cách khách quan, tránh sai lầm. Thiền định ít nhất cũng cho ta một giây phút BÌNH TÂM, AN LẠC nếu ta duy trì được lâu dài trạng thái này, ta sẽ có một HẠNH PHÚC LÂU DÀI.

-Khổng Giáo cũng chú ý đến Tâm và cũng coi đây là cội nguồn của HẠNH PHÚC : Do đó Khổng Giáo nói đến chính tâm, thành ý để có

NHÂN ÁI (4), để biết THƯƠNG YÊU. Điểm đặc sắc của NHÂN ÁI là phải thể hiện trong một thang bậc trật tự(4) (trên ,dưới- Ta và tha nhân) thì mới có một tình thương yêu bền chắc, tạo một HẠNH PHÚC LÂU DÀI, Tình thương yêu đã trở thành một bổn phận ( cái ta phải làm cho người khác). Muốn làm tốt bổn phận, con người phải TU THÂN (5) (sửa mình). Trong xã hội tôn ti này, HẠNH PHÚC là sự hòa thuận, các cụ xưa có những mối tình đến “đầu bạc, răng long” và họ đã hưởng cuộc đời “ TRĂM NĂMHẠNH PHÚC”.

-Ki tô giáo cũng coi tình yêu là trung tâm của giáo lý Ki tô, yêu thương là quà tặng của Chúa cho con người vì con người đã biết yêu thương và muốn được yêu thương ngay từ lúc chào đời (6). Người mẹ gian nan vượt cạn, nhưng nhìn thấy mặt con là quên hết đau đớn, để mỉm cười đón con và đứa trẻ oe oe tiếng khóc, được nép vào mẹ, tìm hơi ấm thân yêu là ngoan ngoãn thưởng thức dòng sữa mẹ cho.

Suốt hành trình nhân thế, con người đã thụ hưởng bao thương yêu để tạo nguồn HẠNH PHÚC, và họ HẠNH PHÚC NHẤT khi tìm được tình yêu lứa đôi. Trong tình yêu này, họ cảm nhận được thiên đàng hạ giới và luôn vun quén cho HẠNH PHÚC riêng tư bằng sự đam mê, sáng tạo (7). Hãy nhớ lời thề nguyền khi đeo nhẫn cưới, để biết rõ rằng HẠNH PHÚC là sự chia sẻ vui, buồn, sự đồng tâm cộng lực.

Trên một bậc, tình yêu phải được mở rộng, càng rộng, càng tốt để phù hợp với tình yêu của Thiên chúa( bác ái), tình phải được gìn giữ như ly nước luôn đầy (8). Tột đỉnh của tình yêu là sự quên mình vì người khác mà PHỤC VỤ (9) , lúc đó, con người sẽ có được một cảm giác lâng lâng, thanh thoát, một HẠNH PHÚC vô bờ. Đó là phần thưởng tự thân (hay Thiên chúa cho cũng vậy) vô giá, “ chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay”.

Hãy khám phá tâm hồn ta để biết HẠNH PHÚC và hãy khám phá tha nhân để biết thương yêu.

Bồ Tát BẤT THƯỜNG KHINH gặp ai cũng kính cẩn lạy. Nhiều người cho Ông là lẩm cẩm, điên khùng. Đôi khi Ông bị mắng nhiếc, thậm chí bị gậy gộc, nhưng Ông vẫn giữ vững lập trường :” tôi không dám khinh ai, quí vị sẽ thành Phật vì quý vị có phật tính” . Ông tin vào bản tính tốt của con người, nên đã có một cái nhìn lạc quan về đời. Nhìn tượng PHẬT DI LẶC, thân hình phốp pháp, mệng cười toe toét, dù bi sáu đứa trẻ trèo leo quấy rối (10) Đó là hình ảnh của HẠNH PHÚC. Hãy gạt bỏ điều phiền nhiễu, hãy mỉm cười với đời sẽ được nhận lại vô số NỤ CƯỜi khác.
Chúc mọi người mùa xuân MIÊN TRƯỜNG .
Trọng Đông Quý Tỵ 2014
Chú thích :


(1) Tâm là trực nhận (nhận ra ngay)

Ý (trí) là phán đoán : Tâm thấy một người ( không phải vật) và trí phán đoán (lạ hay quen) Tổng hợp là một nhận xét (người quen hay lạ) Tâm trí có đúng có sai ( nhận xét đúng, nhận xét lầm).
(2) Thiền hay thiền na giúp ta thanh lọc tâm ý để nhìn được đúng sự vật như nó đúng là, nhận xét bình thường nhiều khi chủ quan, khiến sai lạc.
(3) Định là gạt hết mọi tạp niệm (ý nghĩ vô ích) để có tuệ giác (trí sáng suốt) rồi chuyên chú vào một đối tượng, dồn toàn lực tuệ giác vào đối tượng đó để nhận biết sâu sa đối tượng . Thiền không phải sáng tạo riêng của Phật giáo. Trước Phật giáo, Bà la môn giáo (Ấn giáo) đã có thiền. Phật giáo đã tìm ra những nguyên tắc để thiền cho hiệu quả và sau Phật Thích Ca người ta đã tìm ra nhiều cách thiền khác : Thiền Trung Hoa, Thiền Việt Nam (phái Trúc Lâm) v.v…

Giống như thiền thì Ki tô giáo có “tĩnh tâm” “suy ngẫm” “chiêu nghiệm” để hòa mình vào Chúa. Lão giáo có “vô vi” để hòa mình vào thiên nhiên, tìm hiểu thiên nhiên, khám phá ra lẽ tuần hoàn của vũ trụ : luật âm dương, ngũ hành…lý số, tử vi v.v…

Thực tế có nhiều lúc ta “thiền” (hay giống như thiền) mà không biết, căng thẳng thì nghỉ ngơi , giải trí, sau đó làm việc lại, thấy kết quả hơn. Các nhà khoa học, tập trung tư tưởng (định) đã khám phá nhiều phát minh khoa học. Họ “định” tối đa vào việc nghiên cứu, đến độ quên cả sự hiện diện của chính mình. Archimede, chạy tồng ngồng ngoài phố khi tìm ra lực đẩy của nước là do đó; có khi họ quên mọi thứ, không biết là đã ăn hay chưa vì chỉ nhớ đến “phát minh hay đang phát minh”.
(4) Khái niệm “yêu người” “nhân ái” biến chuyển từ tổng quát tới chi tiết. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử rồi Bách Gia Chư Tử, “nhân” đã được phân tích rất kỹ để cuối cùng thành một chuỗi thương yêu nguyên tắc mà theo Khổng Giáo, có như vậy thì sự thương yêu mới bền vững. 4- “trật tự thương yêu” thành “ đạo thương yêu” được thi hành nghiêm ngặt. Ví du : Quân, Sư , Phụ : đạo vua tôi, đạo thầy trò, đạo cha con.
(5) Kinh thư : từ bậc Thiên tử (vua) đến kẻ thường dân, ai ai cũng phải lấy sự tu thân làm gốc, vì kẻ trên có hoàn hảo thì mới làm gương để kẻ dưới bắt chước tuân phục. Trong thực tế , thì kẻ trên thường lạm dụng để biến bổn phận thành quyền hành : cha nói :” tao là bố mày, tao nói, mày phải nghe” Tục ngữ cũng về hùa với sự sai lầm này : “ con cãi cha mẹ trăm đường con hư!”.
(6) Sinh ra là biết yêu thương ( I.6a 1.4.8)
(7) Giáo hoàng Bênêdicto XVI (trong Ki tô giáo hôm qua và hôm nay bản tiếng Việt trang 463). Tình yêu đôi lứa đến tột đỉnh là sự đam mê, lúc này con người thừa sức mạnh để sáng tạo những bất ngờ : chàng trai thì : “yêu em thất bát sông anh cũng lội, tam thập lục đèo anh cũng cứ anh leo” . Cô gái cũng chẳng kém : “……cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay!” nhưng chính lúc này, hai người phải tỉnh táo Mộng tình rất dễ vỡ khi va chạm thực tế, sực tỉnh ra thì “Em ơi nếu mộng không thành thì sao?” mộng vỡ, rút ra một bài học muộn màng mà nên thơ : tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Lão Tử nói “ Đạo khả tri, bất khả thuyết” (đạo thì biết được nhưng khó nói không thể diễn tả thấu đáo được. Tình yêu cũng có thể ví như một cái đạo, nó cũng vời vợi và được tôn sùng nên người ta chỉ nắm được cái “hình như là tình yêu” chứ ít (hay hầu như không) ai tới được chân lý tình yêu. Hãy cứ thỏa mãn cái phần hân hạnh biết được, nắm bắt được đó, đừng ham quá mà thất vọng.
(8) HMS trong “tình yêu như ly nước”
(9) Trong anh em, người làm lớn phải là người phục vụ (MT 2.3.11), xem thêm Bài “ cánh hoa thời loạn” của Đỗ thị Hồng (phần văn trong VH). Từ lâu, tôi đã định viết về nhân vật trong bài văn này. Nghĩ lại rồi thôi, vì tôi không đủ tầm, tôi chưa làm được một việc cao quý như thế. Nhân đây, xin Hồng và Mai (nhân vật đó) coi đoạn này như một “tâm sự” tôi gửi tặng.
(10) 6 đứa trẻ tượng trưng cho 6 tên giặc (6 điều xấu xa) quấy phá cuộc sống, đem đến đau khổ (lục tặc) chúng tác động lên 6 căn (mắt, tai, lưỡi, mũi,thân, ý) làm sai lạc 6 trấn là cảm nhận của 6 căn : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo nên đau khổ (theo Phật giáo),Ví dụ : mùi (hương) của món ăn tác động vào mũi, ta cảm thấy thèm ăn rồi háu ăn, cố ăn tham ăn…lâu dần dẫn đến đau bụng, bội thực, đau dạ dày….ung thư…. Khổ chưa.

Phật Di Lặc đã thắng được lục tặc, nên luôn HẠNH PHÚC, nhìn đời vui vẻ. Những người đang đau khổ, nhìn thấy ông có thể nguyền rủa : không biết thông cảm, chia sẻ nỗi đau với người khác. Thật ra ông đã dạy ta một bài học : Chẳng có gì gọi là đau khổ, đó chỉ là ‘ảo ảnh” do ta tạo ra mà thôi.

Về đầu trang


Mùa Xuân Đã Đi Qua

Thầy Phạm Văn An

Hai ông cháu dắt nhau đi trên con đường quen thuộc, ông giục cháu : Đi nhanh lên cháu, già như ông mà đâu có chậm chạp như mày ! Cháu đi nhanh đấy chứ !

Còn chậm !

Rồi người cháu lại giục ông :

Đấy, ông lại đi chậm rồi, cháu đi trước ông cả chục bước !

Ừ, vội chi mà nhanh, đi nhanh quá cũng khổ !

Cháu ngơ ngác, đứng lại chờ. Người ông lơ đãng nói :

Cứ đi, đi nhanh lên, mặc ông.

Sao hôm nào ông cũng dắt cháu đi đường này ?

Ừ, đi hoài mà không tới đích, người ông trả lời.

Còn chút nữa thôi, ông cố lên. Người cháu khích lệ ông.

Cố làm gì nữa, muộn rồi ! Ông lơ đãng buông lời.

Đứa cháu lại ngơ ngác, chẳng hiểu gì cả. Thấy ông có vẻ buồn, đứa bé đành im lặng, đứng chờ.

Ông lão đứng một chập – hơi lâu – mắt đăm đăm nhìn về phía có tấm lều tranh. Ông thở dài nhấc bước, bước chân như dính chặt vào mặt đường.

Đứa trẻ trở lại, tưởng ông mệt, dìu ông từng bước. Ông già kể lể cùng cháu :

Ngày xưa ,… ngày xưa… khi ông còn là một thanh niên khỏe mạnh,…. Rồi ông ngừng câu chuyện, chân quay trở lại con đường cũ, mắt đăm chiêu.

Đứa cháu hỏi :

Ông đánh rơi cái gì hả ? Ông trở lại tìm…. Mà cái gì chứ, để cháu tìm giúp ông.

Ông đánh rơi cả cuộc đời. Ông già buông thõng câu nói.

Ông ngã hả ? Cháu có thấy đâu…? Ông có đau không ?

Làm sao cháu thấy được !

Tội nghiệp ông ! Người cháu lấy tay phủi khắp quần áo ông.

Ngã gì mà không lấm lem quần áo, ông tài thật !

Ừ tài thật, chịu đựng từng ấy năm… lòng những tái tê.

Đứa bé lại ngơ ngác nhìn ông, thấy vẻ mặt ông buồn, nó an ủi.

Thôi ông ạ ! chẳng sứt sát gì là may rồi, bên ngoài không sao thì trong người có đau chút ít, hề chi, quên phức đi ông.

Hai ông cháu lại tiếp tục đi trên con đường cũ, cháu nhắc ông kể chuyện ngày xưa. Ông già ngập ngừng.

Ông kể chuyện đến đâu rồi nhỉ ?

Đến đoạn ông là một thanh niên đó…

Ừ, là một thanh niên khỏe mạnh, rất yêu đời, ông đã từng yêu…

Ừ, tuổi trẻ, ai mà chẳng yêu đời… cháu đây nè… cháu sợ già lắm… già như ông còn có sức mà đưa cháu đi chơi… chứ… như bà Tuất trong cái nhà kia kìa… một mình ru rú trong lều… chẳng ai chăm nom, chuyện trò tội lắm ông ơi ! Ông có tội cho bà ấy không ?

Tội mà thương, thương mà tội. Ông già kéo lê câu nói.

Hay là hai ông cháu mình ghé thăm bà ấy, đi ông !

Ừ, trở lại….

Tới gần túp lều tranh, đứa bé vừa chạy, vừa gọi to : “Bà Tuất ơi ! có nhà không ?” Tiếng trả lời vọng lại : “Thằng Ba hả… vào chơi với bà !...”

Bà lão vén tấm liếp, bước ra, ông lão vội gọi cháu : “Ba à ! về thôi, trễ rồi, trễ quá rồi !... còn chi nữa… mà …!”

Đứa bé quay đầu ra, rảo chân về phía ông, trách móc :

Từ đầu đến giờ, ông nói gì cháu chẳng hiểu ! Ông làm gì cháu cũng chẳng ưng…

Ừ, một mình ông hiểu, một mình ông ưng !...sau này , nếu cháu gặp điều như ông, thì cháu sẽ hiểu…

Đầu xuân, mà đoạn đường chẳng có lấy một bông hoa dại, toàn bụi rậm, sỏi đá lởm chởm. Hay là nàng xuân đã quên nơi này, cũng có thể xuân chỉ phớt qua rồi vội đi đến nơi đô hội. Tháng Tết 2016

Về đầu trang


Nét Đẹp Đông Phương

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
NÉT ĐẸP ĐÔNG PHƯƠNG

Anh thắc mắc (1) sao người Việt Nam hay nói vòng vo ? Khi học bên Pháp, em bị các thầy la rồi nhắc là muốn nói gì thì cứ nói ngay ra, đừng nói vòng vo.

Anh lại hỏi tôi : Sông Tương là sông nào ? Ở Việt Nam có sông Tương không ?

Này anh bạn : Anh nói vòng vo vì anh là người Việt Nam. Ở Việt Nam , nếu cái gì anh cũng nói thẳng ra, thì bị coi là bất lịch sự, kém tế nhị, đôi khi còn bị coi là vô văn hóa nữa. Nói vòng vo là một nghệ thuật nói, nên người ta thích được nghe anh nói vòng vo. Con nít tập nói nên nói ngô nghê, lớn lên là biết nói vòng vo ngay! Hai cô cậu ( độ 15, 16 tuổi thôi ) ngồi dưới ánh trăng, họ chỉ nói chuyện trăng, sao, mây , gió; cứ thế mà nói đến khi trăng lặn cũng chưa hết chuyện; mà người đối diện vẫn cứ muốn nghe nữa. Tối nay rồi tối mai, tối mốt… chỉ chuyện trăng, sao mà một hôm nào đó, họ rủ nhau về sống chung dưới một mái ấm. Rồi suốt cuộc đời vợ chồng, chẳng bao giờ họ nhắc câu : anh yêu em (em yêu anh ) à mà bao giờ họ nói câu đó đâu mà họ nhắc ! Trong tiếng VÔ THANH của tình yêu, họ sống hạnh phúc đến “đầu bạc , răng long”.

Lại một ví dụ, nếu anh hỏi thằng bạn : “Ê, mày có tiền đưa tao mượn; nhưng nếu anh vòng vo :”Tao kẹt quá, mà em thì có tật hay shopping, không chiều được em, lần này chắc tao TIÊU mất !”, người bạn sẽ thông cảm (vì anh ta cũng có lần ở trong trường hợp này) rồi móc túi chia sẻ cho anh tối đa ! mặc dù anh chưa dùng đến từ “mượn”.

Nghệ thuật nói vòng vo là vậy và tác dụng của nó – như anh thấy – không hề nhỏ. Lời nói vòng vo sẽ khiến người nghe có thời gian suy nghĩ (thường ta hiểu lầm vì người nghe chưa suy nghĩ kỹ để hiểu lời ta nói ) sẽ có thời gian để thấm nhuần “chân lý” và họ sẽ hiểu nhiều hơn điều anh nói.

Ông Tây phiền khi anh nói vòng vo vì ông là Tây. Não trạng duy lý của họ chỉ cần rõ vấn đề (như trong khoa học) để giải quyết chính xác vấn đề và giải quyết mau chóng ! Người phương đông duy tâm mà tâm thì nhạy bén và sâu xa. Thiền chỉ dùng phương pháp “tâm truyền tâm” nhìn người ta làm, nghe người ta nói mà khám phá, mà suy tư, lúc nào đó ồ lên một tiếng “Emeka” à quên “ngộ” thì thấy lẽ đạo . Chắc anh hiểu cụm từ “bạn tâm giao” “trao tâm ý” “ý hợp, tâm đầu” (nếu cần xin giở tự điển ra xem) mà ở tây phương, những khái niệm này vắng bóng.

Còn anh cho là thơ mà dùng điển tích thì khiến câu thơ nặng nề, khó hiểu. Đó cũng là một nét đẹp Đông phương mà thơ Phương tây không có. Điển tích là việc xảy ra trong quá khứ có những nét tương đồng với việc mà anh đang muốn nói tới. Dùng điển tích để nói thay, ý của ta sẽ rộng ra, mang nhiều màu sắc : điển tích làm phong phú hóa lời nói.

Ta thử nhắc lại câu thơ nổi tiếng về Sông Tương :


Chàng ở đầu Sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương
Cùng uống nước sông Tương
Nhớ nhau (mà) không (được)gặp (2)
Hình ảnh nào đẹp hơn nỗi nhớ thương ?

Cùng trên một giòng sông có 2 người nhớ nhau (hay giòng sông nối lại nỗi nhớ của 2 người). Cùng gặm nhấm một nỗi nhớ (cùng uống một giòng nước) nỗi nhớ càng khôn nguôi (nước sông cứ thế chảy, không hề cạn đi, không hề dừng lại do đó chỉ ao ước một sự gặp mặt để vơi đi, để thỏa nỗi tương tư).

Điển tích làm cho bài thơ thành “ý tại, ngôn ngoại” (3) Verlain, Lamartine làm sao có được những vần thơ hay như thế ?! Đọc thơ Tây, ta chỉ nghe được lời rên rỉ, khóc than, nhiều đến nổi chẳng còn thấy tình yêu ở đâu ! Nghĩ “vòng vo” ta còn tìm được cả nước mắt, lời than tiếng Nhớ nhau (mà) không (được)gặp (2) Hình ảnh nào đẹp hơn nỗi nhớ thương?!

Cùng trên một giòng sông có 2 người nhớ nhau (hay giòng sông nối lại nỗi nhớ của 2 người). Cùng gặm nhấm một nỗi nhớ (cùng uống một giòng nước) nỗi nhớ càng khôn nguôi (nước sông cứ thế chảy, không hề cạn đi, không hề dừng lại do đó chỉ ao ước một sự gặp mặt để vơi đi, để thỏa nỗi tương tư).

Điển tích làm cho bài thơ thành “ý tại, ngôn ngoại” (3) Verlain, Lamartine làm sao có được những vần thơ hay như thế ?! Đọc thơ Tây, ta chỉ nghe được lời rên rỉ, khóc than, nhiều đến nổi chẳng còn thấy tình yêu ở đâu ! Nghĩ “vòng vo” ta còn tìm được cả nước mắt, lời than tiếng nấc và sự tê tái cõi lòng đọng trong 4 câu thơ trên. Ông Tây làm thơ là để bà Đầm đọc , nếu dịch thơ Tây ra tiếng Việt, người Việt hiểu, nhưng thấy nhạt thếch như “nước ốc, ao bèo” còn dịch thơ Việt cho người Tây đọc, họ chẳng hiểu gì cả, đôi khi họ thấy “ngớ ngẩn”, nếu anh hiểu như trên thì giòng sông nào cũng là giòng sông Tương được (như bài hát “Ai có về bên bến sông Tương” thì giòng sông đó là giòng Hương Giang – bài hát của văn Giảng) miễn là có kẻ đợi người chờ.

Sông Tương đã chảy trong lòng anh khi anh đi mòn gót giầy khắp thế giới ? Rồi anh dừng chân thì anh đã tới cuối sông Tương? Và bây giờ, đôi khi, nó còn gợn sóng nữa không? ( Tôi đặt giả định này khi tôi đọc các bài anh viết và tôi cũng đã “giả định” lại trong bài “Bông hồng gai” ). Tháng 5/2015


(1) Tóm lời ý vẫn đủ.
(2) Nguyên văn Hán văn phiên âm
Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Đồng ẩm Tương Giang thủy
Tương tư bất tương kiến .
(3) Ý ở ngoài lời thơ, ý vượt ra khỏi lời nói
Nói ít mà hiểu nhiều
(cũng là một cách nói vòng vo)
(Nói nhiều mà hiểu ít, nói ít mà hiểu nhiều là tùy trường hợp).

Về đầu trang


Ngày Ấy Bây Giờ

Thầy Phạm Văn An

Trong nhiều buổi gặp gỡ, nhóm Văn Học 74, thường chọc ghẹo nhau:"Chơi với dân Huế mất ghế còn đòn, chơi với dân Sài gòn mất cả đòn lẫn ghế”. Câu tục ngữ mới này khiến tôi chân chừ khi muốn ra Huế. Xa Huế đã lâu (53 năm) và trong thời gian đó, chẳng liên lạc với ai, tình nghĩa vợ chồng, nửa thế kỷ xa cách cũng khó giữ được, huống chi tình thầy trò.

Nay thì thầy, trò, tuổi tác cũng không cách biệt mấy, đều đã U 70 cả, chẳng phải tuổi để tranh đua hơn thiệt, nên nghĩ “ghế và đòn” cũng không còn là vấn đề. Vả lại, học trò cũ đã đi tìm thầy dù chỉ phong thanh về nơi ở; gặp lại là điều đáng mừng, nên tôi quyết định “lên đường”.

Tới phi trường Phú Bài (Huế) lúc 20g30 định bụng nếu không gặp ai, thì tạm ở lại, mai tính sau. Bất ngờ, từ xa phía ngoài nhà đợi, có những cánh tay dơ cao, vẫy gọi rồi tiếng gọi thành tiếng, nghe đúng tên mình, tôi nhìn ra thì đám người đã tiến lại. Chẳng nhận ra ai, dù họ có xưng tên. Tôi hỏi lại họ “sao nhận ra thầy”. Câu trả lời giản dị “thầy vẫn còn những nét ngày xưa, nên dễ nhận ra lắm”, Hóa ra, thời gian chưa xóa hết nét riêng của tôi, nên ở đâu, mọi người cũng dễ nhận ra. May mà chưa làm điều xấu xa gì, chứ không… thì…

Sáng hôm sau, họ (1) tụ họp đông đủ lại một quán cà phê chờ thầy với một bức tranh thêu là quà kỷ niệm. Câu chúc tụng được thêu sẵn.

Tôi nảy ra ý : tháo bức tranh ra để mọi người cùng ghi lưu niệm của riêng mình, ý kiến được hưởng ứng nhiệt liệt. Anh trưởng nhóm báo ngay cho vài thành viên ở nước ngoài, họ đòi cũng được ghi tên. Bức tranh thêu mang thêm nhiều ý nghĩa.

Hôm ấy và hôm sau, tôi dành thì giờ đến thăm các học sinh cũ : đã mất thì thắp cho nén nhang, còn thì được gặp mặt, trò chuyện thân tình.

Một câu chuyện nhỏ thú vị : Cô N.T.B ở Mỹ, nghe tin thầy về, gửi tiền về cho thầy tiêu. Tôi đề nghị cho vào quỹ của nhóm, cô phản đối kịch liệt, la anh trưởng nhóm : “Mi không được lấy tiền của thầy, tau muốn để thầy tiêu tùy ý” Thật là một tình cảm dễ thương và đầy tình nghĩa.

Những ngày sau, nhóm phân công đưa tôi đi tham quan đây đó. Cứ đi được một hai tiếng là chuông điện thoại reo.Anh trưởng nhóm dặn nào là :”Đừng để thầy ngoài nắng…mua nước cho thầy uống…Gần trưa rồi, tìm quán nào cho thầy nghỉ…” cứ như là chăm sóc đứa con nít ấy…tức cười, ngẫm lại thấy họ dễ thương như thuở nhỏ tôi dạy.

Một hôm, tôi đề nghị để tôi đi một mình, tìm người quen rồi la cà đây đó. Anh trưởng nhóm không chịu, sợ tôi lạc đường : nào “em kiếm một thằng xe ôm quen đưa thầy đi…thầy cầm số điện thoại của em, để có chi gọi về cho em yên trí”. Thật buồn cười với cái lo ngộ nghĩnh.

Hôm chủ nhật, tụ tập trong bữa chiêu đãi chính thức. Tôi xin phép 2 thầy ( 2 thầy duy nhất còn sống, một 105 tuổi, một 87 tuổi ) cho tôi được thân tình với các trò cũ (phải xin phép, kẻo lại bị kết án là thiếu trang nghiêm). Mở lời tôi gọi đây là “mối tình đầu” của tôi và tôi chúc cho “tình đầu bền chặt”. Thấy mọi người ngơ ngác nhìn, thắc mắc, tôi cứ mặc, rồi ôn lại những kỷ niệm cũ, cho tới tình nghĩa hôm nay; mọi người hiểu ra có nhiều dòng nước mắt và những cái ôm chặt. Từ lúc này cho tới khi về, dù đã ở tuổi 70 trở lên, họ đều trở lại tuổi 12, 13 để đùa bỡn, vui cười đôi khi còn nghịch ngợm, can không nổi. Sự thân tình thành nỗi lưu luyến đến độ tôi phải về trễ ngày đặt vé.

Khó chịu cho tôi nhất là anh trưởng nhóm, bạn bè vui đùa quá một chút là anh la mắng : Mi vô lễ, dám nói bậy trước mặt thầy..già rồi mà còn rỡn, không sợ thầy la à !... Có một anh được phân công đưa tôi đi thăm khu vực Huyền Trân và Quang Trung; nửa chừng anh phải về vì công việc ( làm nghề thầu khoán ). Anh bị trưởng nhóm la quá trời, nào là “Mi không hoàn thành nhiệm vụ… Mi không tôn trọng thầy… Trước hôm tôi về, anh tới xin lỗi, kè kè một chai rượu. Bị anh trưởng nhóm ngăn cản : thầy đi nghỉ rồi… Tôi nghe được mời anh vào và cố hòa giải bằng ly rượu thuốc của anh bị la, chẳng biết rượu ngon hay vì lòng phấn chấn vì có những học sinh nghịch mà vẫn tình nghĩa, tôi uống hơi nhiều, đến nỗi anh trưởng nhóm phải đuổi anh kia về “ về đi , cho thầy đi nghỉ”.

Bên phía nữ, có nhiều gương mặt tôi không nhận ra, lúc đầu họ cũng mang tâm trạng tách biệt, nhưng rồi kỷ niệm cũ khơi dậy, họ lại “mi- tau” ồn ào. Hôm về chính tay các cô đã làm những chiếc bánh xinh xinh để thầy mang về “ăn cho vui”.

Trưa hôm chia tay, thầy trò còn gặp nhau trong bữa chay ở quán chay Huế Tourist. Tôi nghĩ ra ý này bất chợt, khi ngẫm lại thấy cuộc gặp gỡ thầy – trò là duyên kỳ ngộ, một sự xếp đặt nào đó như một phần thưởng cho thầy – trò ở buổi xế chiều. Tôi muốn tĩnh tâm nhìn laị mình, nhìn lại tình thầy trò bằng bữa ăn chay tịnh để thầm cám ơn Phật và Chúa đã cho chúng tôi gặp gỡ - một cuộc gặp gỡ tưởng như không thể có, quán lại cho uống bia – bia Huda chai, độ cồn nhẹ. Hỏi cô tiếp viên, được trả lời là “nước giải khát”. Có ly nước giải khát, chúng tôi có cớ cụng ly chúc súc khỏe mừng hôi ngộ, thấy chia ly và mong là đừng biệt ly.

Ra phi trường Phú Bài lúc 19g. Tình thầy trò một lần nữa lại trào dâng : có những khuôn mặt sìu xuống, có những ánh mắt luyến lưu. Chẳng ai nói một lời. Bỗng một anh, anh L.V.A ôm chầm, ghì chặt tôi mà cũng chẳng một lời, tôi chỉ kịp dơ tay vẫy khi vào phòng cách ly và cũng nhận lại những cái vẫy tay của tốp người đứng im như tượng gỗ.

Về đến nhà đã 21g. Chuông điện thoại reo, lời hỏi thăm từ Huế, từ Mỹ, từ Pháp :”Thầy đã về chưa… thầy có mệt không..” Đang bực mình vì xe trung chuyển lòng vòng cả tiếng, tôi trả lới : “Ồn ào” Sau nghĩ lại thấy mình vô lý. Đời có những chuyện vô lý đến không ngờ.

Chuyến đi Huế tháng 4/2016

Tháng 8/2016

(1)Các học sinh cũ của tôi ở Huế nay đã tuổi 70 trở lên, tôi hơn họ có dăm tuổi. Trong các bài về Huế, xin được phép gọi chung bằng từ học sinh cũ hoặc họ, đáng lẽ phải gọi là Ông, Bà và đúng hơn là các Cụ.

Về đầu trang


Nghĩ Về Cái Tựa Đề

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
NGHĨ VỀ CÁI TỰA ĐỀ

Cuộc đàm thoại của tôi và anh đưa lên mạng bằng một cái phông và tựa đề nghe …”chẳng hiểu gì” Chữ Đoạn tuyệt hay Thoát ly đè ngang khuôn mặt ( đúng hơn là cái đầu) ngó ngang của tôi.

Tôi suy nghĩ “vòng vo” mãi mà chưa tìm được giải đáp vì rằng cuộc nói chuyện chẳng hề có từ Đoạn tuyệt hay thoát ly, có chăng là 2 nhân vật Loan và Dũng. Anh hỏi tôi phần kết thúc, tôi nói “vòng vo” vì tác giả có kết thúc đâu mà tôi dám kết thúc va tôi đã nói với anh là mỗi người, dựa vào tình tiết có sẵn mà đi tìm một cái kết thúc.

Thôi vậy, chẳng lẽ kết thúc “nghĩ, suy” ở đây, ta, tiện thể, bàn về 2 cụm từ : Đoạn tuyệt và Thoát ly. Theo tự điển tiếng Việt (1) thì đoạn tuyệt là cắt đứt mọi sự liên hệ ( trang 486), Thoát ly là rời bỏ, chia lìa (trang 1394) nói chung là “bye bye” đối tác không chới với nữa. Hiểu sâu hơn thì đoạn tuyệt mạnh hơn thoát ly.

Ta phải đoạn tuyệt hay thoát ly vì cái vòng kim cô (2) của sự liên hệ ngày càng siết chặt, khiến ta đau đầu rồi đau toàn thân, đau cả cuộc đời. Đau và đau khổ thì dại gì mà chịu đựng. Người ta đi tìm hạnh phúc, ít nhất là sự bình an, chẳng ai đi tìm sự đau khổ. Nhưng có người bảo : làm gì có sự đau khổ ! chỉ có người đau khổ thôi. Ta tự tạo đau khổ cho ta, chứ có ai mang sự đau khổ đến cho ta đâu ! Ta tưởng là đau khổ thì nó thành đau khổ. Cùng một sự việc, kẻ thấy vui, người thấy buồn. Một người nằm xuống, thân nhân buồn nhiều, buồn ít, nhưng chắc chắn là có buồn. Nhà dịch vụ mai táng lại thấy vui vì có việc để làm, mà khéo bày vẽ cho tang chủ thì sẽ có món lời lớn, niềm vui sẽ lớn hơn. Cả cuộc đời cô Kiều là buồn đau chồng chất. Nguyễn Du đã nhận định đúng khi nhét vào miệng Đạo Cô Tam Hợp phán về Kiều :


….Tự mình lại buộc lấy mình vào trong,
Thế nên trong chốn thong dong,
Ở không yên ổn,ngồi không vững vàng.

Nhà có tai biến, có ai bắt Kiều “bán mình” chuộc cha? Tự Kiều “dơ tay” tình nguyện đấy chứ ! Rồi sống yên ổn thì “không thích” lại cứ gây thêm phức tạp. Này nhé : Tiết thanh minh cả “hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa” thế mà đêm khuya, ai “Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang” nhà Kim Trọng ?

Thúy Kiều chứ không phải Thúy vân, rối rắm thì không gỡ mà lại cứ buộc vào, nên “hết nạn ấy đến nạn kia”. Cứ như Thúy Vân “ăn no , ngủ kỹ”, lại “cuỗm” được anh chàng Kim Trọng. Khiến cô chị, cuối cùng chưng hững, đảnh “đổi tình cầm sắt hóa ra cầm kỳ”.

Bảo đoạn tuyệt hay thoát ly ? chế độ gia đình cũ nay vẫn tồn tại vì vẫn có người thích nó. Khôn ngoan hơn, họ đã điều chỉnh gia đình cho phù hợp với cuộc sống hiện tại và họ vẫn nhận được hạnh phúc. Ai muốn đoạn tuyệt, thì cứ việc, chẳng ai ngăn cấm. Tôi vẫn chờ và mong có lúc hiểu được cái đề bài đè lên cái đầu của tôi. Tháng 8/2015


(1) Tự điển của Ban biên tập ERA
(2) Vòng kim cô do Quan thế Âm siết vào đầu Tề Thiên để hạn chế bớt cái tinh quái của Đại Thánh.

Về đầu trang


Người Việt An Phận

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ PHỖNG SUY
NGƯỜI VIỆT AN PHẬN

Trong tầm thức, người Việt cho rằng cuộc sống đã được an bài. Câu nói vui của người Việt : “chiếc áo, đôi giày còn có số, huống chi là con người” là một triết lý giản đơn mà trói buộc.

•   Người trí thức xưa than thở : “nhất ẩm, nhất trác , giai do tiền định” ( hớp nước, hơi thở đều đã được trời định sẵn từ trước). Nguyễn gia Thiều phát triển ý nghĩa trên trong Cung oán ngâm là :

Cái quay búng sẵn trên trời,

Tử, sinh, khinh, cụ làm nau mấy lần.

•   Người nông dân một nắng, hai sương, lam lũ thế mà chẳng tin ở công sức của mình : trời thương thì được cảnh ấm no :

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,

Chồng cầy , vợ cấy con trâu đi bừa.

Mà trời giận thì :

Trời đầy cơn lụt mỗi năm

Mọi thứ đều được trời an định. Câu cửa miệng cùa người bình dân là : nhờ trời, trời thương, trời bắt tội, v.v…

•   Anh thư sinh, “công thập niên đăng hỏa” ( công đèn sách 10 năm) mà lúc đi thi, vẫn nhớ câu : “học tài thi phận”.

•   Thiếu nữ đến thì than thở :

Con gái như tấm lụa đào,

Tấm treo cửa chợ, tấm vào cửa quan

Hoặc :

Con gái 12 bến nước

Bến đục,

Bến trong,

Trong nhờ, đục chịu.

Tâm lý chịu đựng, bị động này đã gây ra nhiều hệ lụy dở :

•   Không có sự tiến bộ vì ngày hôm nay cũng giống ngày hôm qua, chẳng cần thay đổi và không có ý định thay đổi, mặc cho “nước chảy , hoa trôi” thì tiến bộ sao được ! có than thở, thì cũng tự đánh lừa rằng cuộc sống này đã là hạnh phúc:

Trông lên thì chẳng bằng ai,

Trông xuống thì cũng chẳng ai bằng mình !

•   Cái thảnh thơi của cuộc sống, cái thanh bình của xã hội tố cáo một sự chịu đựng triền miên biểu lộ trong sự thái bình giả tạo, cho nên rất được các nhà đầu tư FPI thích thú, vì đầu tư vào một quốc gia mà người công nhân không biết đấu tranh, chăm chỉ cần mẫn chịu sự bóc lột, sai khiến. Người cầm quyền cũng chẳng cần để ý đến nguyện vọng của dân, vẫn là xin cho. Dân xin, người cầm quyền cho hay không là tùy ý : Việc các trạm thu phí BOT thu phí bất công, dân đã kêu nhiều, than nhiều từ cả năm nay, đâu có ai để ý đến ! Nếu ở trạm Cai Lậy, không có mấy anh chàng “bướng bỉnh” đấu tranh dài dài thì chẳng có việc xét lại việc thu phí. Người ta khi mở cửa lại trạm, đã đưa cả xe xúc đến để chuẩn bị xúc những xe bất tuân, nhưng kẻ bướng đầu vẫn “lì” thậm chí đã có đồng bọn bị chém!

+ An phận lại sinh ra tâm lý chờ trông : chờ trông sự thiện tâm của mọi người. Hễ mỗi khi được giúp đỡ là cám ơn Bác, cám ơn Đảng. Bác mất rồi thì cám ơn Đảng, nhà nước, mặt trận và các ban ngành. Họ không biết rằng đó là quyền của họ được giúp đỡ và các cơ quan chỉ làm nhiệm vụ, chứ chẳng ơn nghĩa gì cả. Vì chẳng ông nào móc túi ra cho, đó là của dân – trực tiếp hay gián tiếp.

+ Chờ trông lại phát sinh ra tính ỷ lại, đòi hỏi, một nhà vườn ở Phú Yên, trong trận bão vừa qua ( bão 12) thiệt hại cả tỷ đồng vì vườn cây đỗ gẫy. Ông than thở : nếu không bị bão, vụ tết này ông hốt cả tỷ bạc, nay nhà nước chỉ trợ cấp 6 triệu, ít quá. Sao ông không nghĩ lại rằng : nếu thu được cả tỷ thì ông có chia cho ai không ? Mà nay đòi hỏi.

Rồi thì dân nghèo không muốn thoát nghèo, vì thoát nghèo thì còn đâu trợ cấp hàng tháng, để cứ ngồi đó mà ăn?

Tóm lại, an phận là đê hèn, chậm tiến và lười biếng. Thế mà hình như người ta muốn đẩy mạnh sự an phận vào sâu trong đời sống.

+ Trên VTV1 ngày 15 tháng 9 thấy quay lại cảnh di tản thời chiến tranh, ta thiếu thốn đủ thứ, thế mà ta vẫn thắng được kẻ thù, chẳng lẽ chuẩn bị đánh Trung Quốc, quốc gia luôn muốn nuốt chửng VN ?

+ Cũng trên VTV1, trong ngày 13 tháng 9/ 2016 thấy chiếu lại thời bao cấp với cảnh xếp hàng từ 2 giờ sáng, cảnh chen lấn, giành giật 1 kg đường, 1 lon sữa, lại có cả một bảo tàng bao cấp ( hình như của tư nhân) lỉnh kỉnh nào lon guigoz (dùng để đựng cơm) ca nước tráng men, chồng bát sành và cái xe thồ. Một cô giáo đưa bọn trẻ vào thăm, giải thích cùng các cháu : “thời đó khổ sở lắm, nay ta có ti vi, tủ lạnh, sung sướng hơn nhiều, thì ra cô giáo muốn nhồi nhét vào trí óc non trẻ chủ nghĩa an phận.

Nói về thời bao cấp, có 2 phát biểu sâu sắc: “Ông Vũ quần Phương, ngày 11/9 trên VTV1 có nói : không có đổi mới , không có tư duy, ý của ông là từ bao cấp trở về trước, ta tư duy một chiều : tư duy theo ý thức Marx Lenine, rập khuôn người trên mà nói, cho nên chỉ có nhất trí, hoan hô. Hội nghị nào cũng thành công tốt đẹp, Con người không được có ý riêng, không có tư duy của chính mình. Còn ông Vũ hà Phan, một nhà toán học đang dạy học tại nước ngoài, một lần làm khách mời của VTV1 đã một chút ngậm ngùi : Trước 1975 Hàn Quốc chỉ như VN ( đúng hơn là như nam Việt Nam) ấy vậy mà nay nền kinh tế của họ đứng thứ 4 ở Á châu và đứng thứ 8 trên thế giới, còn VN thì xếp ở tốp sau của Asean và tốp chót của thế giới. Chỉ phân tích 2 lời tuyên bố trên, ta thấy bao cấp tai hại biết bao, chẳng có cách gì để biện minh cho thời bao cấp, nếu không muốn nói nó là thủ phạm chính của hiện trạng trì trệ của đất nước.

Mừng là an phận không phải là chủ trương của chính phủ hiện tại : Thủ tướng, lúc mới nhậm chức , đã than thở : “Già mà chưa giàu”. Câu nói vắn gọn mà nhiều ý nghĩa.

Chưa giàu có nghĩa là muốn làm giàu, không chấp nhận hiện trạng trì trệ.

Chưa giàu cũng có một thoáng tiếc nuối, vì với dân số vàng, ta không lợi dụng để phát triển đất nước. Nay dân số đã tiến vào ngưỡng “già” (còn độ 20 năm nữa) liệu còn đủ thì giờ làm giàu không ?

Chưa giàu cũng còn là ý nghĩa trách móc – dù thoáng nhẹ - người đi trước đã để lại một gánh nặng cho quốc gia. Vừa phải làm giàu, vừa phải giải quyết gánh nợ nần, trì trệ và di sản tệ hại về kinh tế là một điều khó.

Trong một phát biểu nhân hội nghị các doanh nghiệp ở Cần Thơ, thủ tướng đã khuyến khích mọi người phải nói : nói thẳng , nói thật, thậm chí nói ngược lại ( phản biện ).

Toàn dân cũng mong như thủ tướng mong, nếu giặc nào ta cũng thắng, nay ta thử đánh “giặc trì trệ” xem sao. Mong là sẽ chiến thắng.

Tháng 6/2018

Về đầu trang


Người Việt Hám Danh

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ PHỖNG SUY
NGƯỜI VIỆT HÁM DANH

Thời nho học, thịnh trị, Nguyễn công Trứ từng viết :

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.

Chữ danh là mục đích theo đuổi của nhiều người, nhất là đối với kẻ trí thức, người đi học . “Công thập niên đăng hỏa” (10 năm học tập) cũng chỉ để đạt được “bảng vàng, bia đá” ghi tên.

Người bình dân cũng muốn bám vào cái danh, để có được chút tiếng thơm.

Cô thiếu nữ ngấp nghé chàng thư sinh, vì :

Chẳng tham ruộng cả, ao liền,

Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ.

Vì một mai cô sẽ được :

Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

Vì vậy mà Tú Xương, “ tám khoa chưa khỏi phạm trường qui” mà bá tú vẫn không buồn, vẫn nhẫn nại nuôi chồng nuôi con với cái nghề :

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ 5 con với 1 chồng”.

Bà hy vọng, một ngày nào đó, Ông Tú đỗ đại khoa mà hiện tại, được gọi là “bà Tú” bà cũng mãn nguyện rồi.

Đến thời Pháp thuộc, khi mà “ông Nghè, ông Cống cũng nằm co” ( thơ Tản Đà) chữ danh đổi màu, các trường của Pháp mở ra để đào tạo công chức cho họ như trường Hậu bổ, trường Thông ngôn, các trường cao đẳng, như cao đẳng Canh nông, Công chính, ra đời một cái danh mới : Ông Phủ, ông Thông, ông Phán. Cô gái đặt điều kiện cho người yêu : Phi cao đẳng, bất thành phu phụ ( không học ở các trường cao đẳng ra thì không thể thành vợ, chồng được ).

Triều đình Huế lúc này, cũng đánh vào tính ham danh của lớp người ít học như thương gia, trọc phú, để bán danh các hám từ tử phẩm văn giai trở xuống, ai mua cũng được. Nhiều nhà giàu đã thành ông Hàn ( Hàn lâm học sĩ) bỏ tiền ra để cờ quạt đi rước phẩm hàm, họ sẽ được ăn trên ngồi trốc khi đình làng mở hội và có chút quyền trong làng xã, chí ít cũng là quyền ăn nói.

Đến thời cách mạng tháng tám , chế độ mới có tư tưởng mới : Tư tưởng Marx Lenine, các trí thức cũ ( trí thức tiểu tư sản học thời Pháp) không còn được dùng. Mao trạch Đông nói : Trí thức không đáng giá bằng cục phân để chỉ hạng trí thức này, trí thức tiểu tư sản chỉ dẻo miệng nói láo, thơ văn chỉ là đồ xa xỉ độc hại ru ngủ con người. Lao động tay chân mới mang cơm áo – đồ thiết yếu cho xã hội. Trí thức tư sản muốn tồn tại phải thay đổi cách nghĩ, phải xâm nhập thực tế tại các công nông trường để biết giá trị của lao động và sáng tác theo chiều hướng đó, nếu không thì theo gương Phan Khôi, Trần Dàn lên miền ngược mà tu, mà suy ngẫm, chữ danh của giai đoạn này là : chiến sỹ thi đua, chiến sỹ vẻ vang, phụ nữ 3 đảm đang, anh hùng lao động, v.v…

Qua thời kỳ đổi mới, chữ danh ngày xưa lại một lần nữa lên ngôi. Học hàm, học vị là tiêu chí để đánh giá con người, nhất là người công chức. Cho nên người ta luôn nhớ trước tên một người phải có học hàm, học vị : Tiến sỹ A, Giáo sư B, có người đề cả một lô bằng cấp, chức vụ, đọc đến mỏi cả miệng, ví dụ : Nhà giáo nhân dân, giáo sư bác sĩ, tiến sĩ khoa học, viện trưởng Nguyễn văn Tèo ! Một bài phóng sự ngắn mà tác giả của nó là Tiến sĩ, Giáo sư, thiếu tướng, chẳng hiểu danh hiệu nào cần cho bài báo ? Tiến sĩ ? Đâu cần một phóng viên chuyên nghiệp là đủ . Giáo sư ? Ông nên về dạy học hoặc nghiên cứu tiếp chuyên đề tiến sĩ của ông. Thiếu tướng ? đâu có đi đánh nhau mà cần tướng, tá !

Chính vì cần cái danh, nên các trường đại học mở ra ồ ạt để đào tạo từ cử nhân đến tiến sĩ, mà sinh viên đỗ vào có nơi chỉ đủ 3,4 điểm của kỳ tốt nghiệp trung học (năm 2016), rồi xã hội thừa mứa bằng cấp đến nỗi 200 ngàn cử nhân thất nghiệp, đó là các cử nhân thật, còn bằng cấp giả thì kiểm kê không được, chỉ cần vài trăm ngàn đến vài chục triệu là có ngay một bằng từ cử nhân đến tiến sĩ.

Công bằng mà nói cũng có những tiến sĩ có thực tài, như các nữ tiến sĩ sáng chế ra sơn Kova, thuốc trị bệnh từ cây trinh nữ hoàng cung; Nhưng những tiến sĩ loại này không nhiều.

Huân, huy chương và bằng khen cũng là 1 loại danh, những dịp lễ tết, hội hè. Chẳng hiếm gặp cả đoàn người huy chương nặng trĩu trước ngực, thậm chí đi khám bệnh người ta cũng đeo huy chương.

Đọc một cáo phó, người ta thấy dưới tên người quá cố, là cả loạt bằng cấp, chức vị, huân, huy chương và bằng khen, liệt kê đầy cả trang giấy.

Tưởng tượng ra cảnh linh hồn người quá cố khi đứng trước quan cai địa ngục, ông sẽ nghĩ sao ? đâu có dám cho vào vạc dầu hoặc kèm cặp tra tấn ! nếu trước cổng thiên đàng, Phán quan sẽ ngơ ngác rồi từ chối : ở đây không xét tới các danh này ! Linh hồn chỉ còn nước ngược về trần gian về nhà mà hưởng tiếp cái danh đó, vì trên bàn thờ, bên ảnh ông , con cháu không quên treo các huân, huy chương mà ông có.

Vậy danh là gì ? Nguyễn công Trứ xác nhận danh là một vật quí giá, mà ai cũng phải công nhận.

Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt

Dân hữu tứ, sỹ vi chi tiên.

Kẻ sĩ ( người trí thức ) là hiền tài của đất nước, vốn quí của quốc gia, tinh hoa của dân tộc. Cái danh phải đi đôi với cái tài, mà tài là khả năng làm được mọi việc ích lợi cho dân, cho nước, mà ca dao đã nói đến :

Làm trai cho đáng thân trai

Xuống đông, đông tĩnh, lên đoài, đoài tan.

Nguyễn công Trứ nói rõ hơn :

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả trả vay.

Cái tài là thực tài, thể hiện rõ bằng việc làm chứ không phải là hư danh, mảnh bằng mà ta có – Việt Nam có quá nhiều người bằng cấp cao, thậm chí là thừa bằng cấp, nhưng người tài hiếm hơn lá mùa thu, nên mới lẹt bẹt, loay hoay mãi mà chưa giàu. Món nợ nước ngoài lên đến 62% GDP. Thu nhập quốc gia chỉ đủ nuôi công chức cán bộ và trả lãi tiền vay. Các vị tiến sĩ hãy ra tay, trổ tài để kéo món nợ kia xuống, để thế hệ sau khỏi thắc mắc về cái danh, cái tài của cha ông.

Tháng 4/2018

Về đầu trang


Nhà Thơ Vi Khuê Nói Về Tình Yêu

Thầy Phạm Văn An

Ai chớm yêu, đang yêu và đã yêu, hãy suy ngẫm về các vần thơ sau của nhà thơ, để có dịp xét lại quan điểm của mình về tình yêu.

Hãy sống bằng hương của ái tình,

Hỡi loài hoa đẹp, cánh hoa xinh !

Đây là một định đề, một định lý hay một hệ luận của tình yêu ?

Có thể gọi là định đề, vì ta phải chấp nhận như một đương nhiên mà không cần giải thích.

Với những ai quá tôn sùng tình yêu, thì gọi là định lý cũng được, vì yêu phải như vậy, chẳng hơn thế được. đối với người khó tính, thì coi đây là một hệ luận, một bài học rút ra từ tình yêu. Có nếm trải tình yêu thì mới có được cái nhận xét tinh tế và nhạy bén như vậy.

Gọi là gì đi nữa : Định đề, định lý hay hệ luận, thì cũng phải công nhận rằng:Tình yêu là hương, là hoa, một vẻ đẹp tuyệt đối, chứ không phải là phần vật chất mà mọi người lầm tưởng.

Hương tình yêu khi thoang thoảng nhẹ nhàng, khi đậm đà ngây ngất. Một cái gì đó bàng bạc, khó nắm bắt, nhưng quyến rũ lạ lùng : đuổi không đi, tìm chẳng thấy, nhưng quanh quẩn đâu đây, vẫn là bóng dáng hiện hình khiến ta chẳng thể quên được, Vì là hương nên dễ bay mất, vì là sắc nên khó phân định rạch ròi. Tình yêu là một thứ chân lý, như những chân lý khác, tình yêu cần được tôn trọng và tôn thờ. Cả một đời sống bằng tình yêu, mấy ai đã nắm bắt được tận cùng của hương vị yêu đương !

Nếu bạn công nhận cái “lý sự cùn” này – dù chỉ một phần – thì hãy tận hưởng tình yêu vì hương sẽ bay, hoa sẽ tàn.

Nhà thơ dặn sống bằng chứ không phải sống với. Từ “bằng” mang một ý nghĩa đồng đẳng : sống là yêu, còn “với” là kèm thao. Kèm theo thì còn nhiều cái đi theo như sự nghiệp, công danh. Như vậy ta chưa trọn vẹn cuộc đời cho tình yêu, bất chấp mọi thứ. Câu thơ “một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” mang ý nghĩa đó. Có người nói nên thêm vào câu thơ : lu nước lã để thành : “một mái nhà thanh hai trái tim vàng thêm lu nước lã”. Cũng chẳng sao, vì được chết bằng tình yêu, khổ vì tình yêu để giữ trọn vẹn tình yêu là điều nên làm. Một thứ tử vì đạo – Đạo yêu thương – thì chẳng có gì giá trị hơn.

Vậy thì cả đời sẽ sống bằng tình yêu ? Được như vậy thì thành “thánh nhân” rồi vì thánh nhân đi tìm chân lý siêu hình, thì con người đi tìm chân lý cuộc đời.

Tình yêu có khi chợt đến : đó là tiếng sét ái tình. Tiếng sét này hơi hiếm, bình thường, tình yêu đến theo đà tiệm tiến. Theo tác giả thì :

Khi anh mười tám anh yêu thật,

Tục ngữ lại nói : Gái thập tam, nam thập lục.

Ở tuổi này tình chỉ “vu vơ”, tình yêu “bóng mây”, “tình yêu học trò”. Mới chớm yêu, chưa định hình.

Đến cái tuổi “yêu thật” thì tình yêu biểu hiện rõ nét

Như thằng bé trượt xuống dòng sông

Vẫy vùng để thoát cơn mê hoặc

Của sống đòn sóng đến baĩ Cồn.

Thế là “Em đã đến” và anh sẵn sàng “mở tung cánh cửa lòng”.

Tiếng sét ái tình xô cánh cửa

Thổi lùa ngọc đến ngát hương bay

(Ngọc của anh)

Tăng tiến, tình yêu phô trương sức mạnh quyến rũ :

Từ đó, anh yêu, anh đã yêu

Bàn tay đổ lệ khóc tình yêu

(Ngọc của anh)

Ai nói “tình yêu là mật ngọt” thì chỉ đúng một phần, muốn được mật thì con ong phải mất nhiều công sức mới lấy được giọt mật, cho nên người ta lại bảo “tình yêu là trái đắng”, phải đắng cay trăm phần mới tìm được tình yêu đích thực và khi đã tìm được thì tình yêu mới là mật ngọt.

Bàn tay đổ lệ, khóc tình yêu

Gian nan thật, nhưng “khóc tình yêu” cũng là những giọt nước mắt đáng giá như tìm được chân lý – chân lý cuộc đời – khóc tình yêu cũng là phút cảm động của tiếng “Eureca” Archimede. Người ta bảo Archimede phát điên khi tìm được định luật của sức đẩy, và người tìm được tình yêu cũng điên vì sung sướng khi tìm được lẽ sồng của cuộc đời.

Đúng là : Ngọc đến ngát hương bay.

(Ngọc của anh)

Vì tình yêu là hương là hoa, nên người được yêu và người yêu phải biết tôn trọng, nâng niu (nưng như nưng trứng, hứng như hứng hoa) để hương được lâu, hoa lâu tàn. Chính vì ta không hiểu được như vậy, nên nhiều khi, ta khổ vì tình yêu, khóc cho tình yêu. “Lỗi tại ta, lỗi tại ta mọi đàng, câu kinh nhật tụng của người công giáo, có thể áp dụng cho trường hợp này. Tình yêu vô can, tình yêu là chân lý mà chân lý thì không bao giờ sai. Tự ta làm khổ ta, đừng như Cao bá Quát:

Trót yêu hoa nên dan díu với tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm, xuân về oanh nhớ.

Cái tâm lý “tìm kiếm” “thiếu hụt” “chưa thỏa mãn” là tâm trạng của người con phàm tục, cho nên luôn luôn sợ mất.

Em bấm số và em gọi anh

Ríu rít ngoài kia chim trên cành

Câu trên được câu dưới bổ túc : chẳng phải “bấm số” mà lòng còn khấp khởi, đợi chờ, mừng vui như đàn chim ríu rít trên cành.

Chim ơi ! có biết lòng em rộn

Như tiếng reo dài của trái tim

(Chiều thứ bảy)

“Rộn” vì có xếp đặt trước, nay mong thành hiện thực.

Thứ bẩy để chân buồn muốn nhảy

Để bây giờ em gọi ngưởi thương.

Như đã biết trước tâm trạng của người yêu

Anh hãy khóc khi lòng run rẫy

Khi chuông reo, anh đợi em mà.

Run rẫy không phải là sợ sệt, luống cuống mà là nỗi mừng khấp khởi vì nghe được giọng người yêu.

Tình yêu có một kênh liên lạc vô hình mà nhanh nhạy của 2 con tim cùng một nhịp.

Hẹn được gặp cũng “mệt”, huống chi là “biệt tăm, vô tích”, thì :

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê

(Cao bá Quát)

Cả cuộc đời của con người, giá mà chẳng giây phút nào rời người yêu, thì thiên đàng cũng không hạnh phúc bằng. Thứ tình yêu dào dạt này – tiếc thay – chỉ có ở tuổi trẻ, còn ở tuổi già thì tình yêu được được thể hiện khác nhiều :

Giờ ngoài năm mươi, anh yêu chơi

Như em thường nói “có gì vui !”

Dù thật, dù chơi anh cũng khác

Cùng em để có chút gì vui. (Dâng áo lụa ngà)

“Yêu chơi” là từ tác giả nói đùa bỡn, chứ tình yêu không vì tuổi tác mà thay đổi, nó được biểu lộ một cách khác, như Phan Khôi nói :

30 năm sau,

Tình cờ đất khách gặp nhau

Đôi mái đầu đều đã bạc

Sớm quên nhau cho rồi !

Đôi mắt còn có đuôi.

Sao mà quên được, vì “đôi mắt còn có đuôi”

Tình già nó như vậy đó. Tình vẫn đậm đà, nhưng nó chảy ngược vào khoang tim, vì :

Anh vẫn cần em như trái đất

Cần mặt trời kia đỏ ráng pha

(Dâng áo lụa ngà)

Cảnh hoàng hôn, ráng pha đỏ rực chân trời cũng đẹp , không khí cảnh bình minh hồng pha đôi má, và tình yêu lúc này vẫn đọng lại những hình ảnh đẹp :

Ít ra đời vẫn còn dễ thương

Vì em đôi mắt hồ thu biếc

Vẫn trần gian một chút thiên đường.

(Dâng áo lụa ngà)

Kỷ niệm xưa ôn lại cộng với “chút gì vui” của buổi xế chiều, Tình yêu nay là :

Tình yêu như chỗ bóng cây

Ta ngồi nghỉ mát một giây rồi lìa

Mai kia, mốt nọ đi về,

Nhớ cây bóng mát, đầm đìa lệ chăng.

(Bóng cây)

Hoài niệm không phải để nuối tiếc mà là để nhắc lòng rằng trong cuộc đời, ta đã biết tận hưởng mật ngọt của tình yêu, thế là đủ.

Hồn thu mây tím, hồn em tím

Con chim hót tím ở trong lòng.

(Tím yêu)

Tháng 2/2018

Về đầu trang


Nhà Thơ Vi Khuê Và Lời Cám Ơn Chân Tình

Thầy Phạm Văn An

“Cám ơn”, lời đầu miệng của người Tây phương trong sự giao tiếp khi nhận một sự trao đổi với người khác. Lời cám ơn này là phép lịch sự hơn là nghĩa thực của từ ngữ.

Gần đây, người Việt Nam du nhập phép lịch sự này hơi nhiều, thậm chí nhà nước còn phải nhắc nhở công chức “xin cám ơn” người dân khi đến giao dịch về công vụ.

Ở Đông phương, lời cám ơn có đó, nhưng ít dùng, hiếm dùng vì người ta biết rằng : “nhận ơn” là “mang ơn”, là “đội ơn” chứ không phải khơi khơi nói “cám ơn” là xong.

“mang ơn” thì phải “trả ơn” đó là lẽ công bằng dù người “ban ơn” không hề có ý nghĩ một ngày nào đó mình sẽ nhận lại “cả vốn lẫn lời” việc mình làm.

“Ơn huệ” “ơn nghĩa” là điều quý báu như một sự ban phước, ban lộc, cứu giúp. Kẻ nhận ơn có đạo đức phải cố gắng trả ơn để cho xong món nợ, mới thanh thản. Khi họ cảm thấy khó lòng trả được món nợ, họ xin ơn trên phò hộ cho ân nhân, hoặc phải “mang ơn” “đội ơn” suốt đời, dằn vặt, ân hận đến độ phải nhờ đến con cháu đời sau trả ơn hộ, mới yên lòng nhắm mắt.

Trong thơ của bà Vi Khuê, ta thấy có những lời cám ơn sâu sắc và chân tình như vậy. Người Đông phương duy tâm nhiều hơn duy lý, nên đã thấy được “ơn trời” và “ơn người” là điều rõ ràng nhất trong kiếp nhân sinh.

Cám ơn tạo hóa sinh ra tôi,

Bản chất ngàn năm không mất nổi,

Sinh ra tay trắng giữa cuộc đời,

Tư sản tôi còn nguyên một khối.

Cám ơn tạo hóa

Trời cho con người cái “bản chất” và công của con người là chăm sóc, nuôi dưỡng cho cái bản chất đó luôn luôn được tốt đẹp như ý trời.

Cá tính vươn dài theo thao thức,

Tôi xin từ chối mặc đồng phục

Để lớn khôn vừa với trọng cao

Cám ơn tạo hóa

Cho nên hư hỏng là tại ta không phát huy được vốn trời đã cho, chứ đừng đổ thừa là “tại trời”. Phải làm sao cho “cá tính” “vươn dài”. Đó là niềm thao thức, ao ước của con người biết sống. Cái cá tính đó, nếu không giúp ta trở thành “đấng anh hùng đâu đấy tỏ” như Nguyễn công Trứ, thì cũng tránh để ta trở thành kẻ tầm thường, kẻ “mặc đồng phục” trong những người mặc đồng phục đầy rẫy trong xã hội.

Tạo hóa thương con người, còn bày sẵn cả một vũ trụ đầy hương thơm, cỏ lạ để nuôi dưỡng chúng ta, phần hồn, phần xác :

Tôi ngồi đây, mặt trời rạng rỡ,

Ôi thiên nhiên, ôi rừng xanh, lá đỏ,

Trái ngọt lành hỡi mẹ hái cho con.

Con người hiện tại nông cạn, quên mất phần trời ban, mà lại cố tạo cho mình những thú vui giả tạo. Có biết đâu rằng các thú vui mình đang hưởng chỉ là những giả dối, lừa bịp làm hư hỏng bản tính trời cho của mình, chứ không giúp gì được nó tốt đẹp hơn, người ta cười khi đọc Nguyễn bỉnh Khiêm.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chỗ lao xao.

Thế mới hay : Khôn, dại trên đời này khó ai thấy được rõ.

- Với tư duy của người Đông phương, nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc “ơn trời” trong những vần thơ dạt dào lòng cảm nhận :

Tôi đã ngậm vú mẹ đời thơm ngát,

Trái màu tím, thưa là tím nhạt,

Tím lòng tôi màu tím hoa sim

Người yêu ơi, muôn thuở tôi đi tìm

Màu tím nhạt để lòng em thương nhớ

Trái màu đỏ, thưa mẹ là trái cấm

Mẹ cũng cho con ướt đẫm lòng son

Dang hai tay, níu chặt, ôm tròn,

Tham lam thế đã vừa tay bé nhỏ.

Cám ơn đời

Người ta bảo thiên nhiên vô hồn, vô cảm, ở đây nhà thơ đã hòa đồng với thiên nhiên để nhận lại của Tạo hóa những nhắn nhủ, những tỉ tê âu yếm như lời mẹ dạy con.

Trong các bài thơ cổ về tả cảnh như của Nguyễn bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, bà Huyện Thanh Quan, ngay cả những nhà thơ mới như Anh Thơ, Bàng bá Lân, các tác giả đó chỉ mới nhận thấy ở thiên nhiên người bạn, người tình. Ở thơ Vi Khuê, ta thấy tác giả đã cảm nhận được ở thiên nhiên nhiều hơn, nhiều đến độ như con nhận ở mẹ những ân tình sâu thẳm, do đó, bà dâng lên mẹ tạo hóa lời chân tình cảm tạ :

Con cưng yêu của mẹ, con quỳ dâng

Lời cảm tạ mẹ đời nuôi nấng

Như ta đã nói, đối với người Việt Nam, lời “cảm tạ” chỉ là một hư từ, không diễn tả được hết tấm lòng, đôi khi chẳng nói được điều gì cả. Rất may là tác giả đã có những vần thơ so sánh – một sự so sánh tuyệt đối – để cho ta biết nhiều hơn tâm tình của bà :

Xác thân tôi, thưa mẹ chỉ là thừa,

Sự có mặt cũng không cần thiết nữa

Tôi xin ngồi đây như một con mèo nhỏ

Rất ngoan hiền, gởi lại tiếng kêu thương.

Cám ơn đời

Một sự tri ân mẹ tạo hóa cùng tột, tưởng chẳng còn cách nào hơn.

- Mẹ tạo hóa, mẹ tổ quốc, mẹ quê hương, có lẽ chỉ là những thang bậc của một hình tượng thiêng liêng cao cả mà đầy yêu thương. Một bà mẹ khác, gần gũi ta hơn, yêu thương ta không kém bà mẹ Tạo hóa đó là mẹ ta. Hình ảnh người mẹ này có thể so sánh với Phật bà Quan Âm, với mẹ Maria, vì họ đều là những người sống trọn vẹn cuộc đời yêu thương người khác - Ở đây là những đứa con của mình – Tứ đại vô lượng tâm ( Từ , bi, hỉ, xả ) tìm thấy ở Phật Bà, ở mẹ Maria đã đành, mà còn hiện diện diện rõ ràng trong bà mẹ Việt Nam.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

(ca dao)

Nhà thơ Vi Khuê đã diễn tả lại câu ca dao trên một cách hình tượng hơn :

Thấy giải nước trong tưởng mẹ già,

Một đời tuôn trải giữa trần sa

Một đời đau khổ làm nên mẹ

Người mẹ hiện lên rõ ràng hơn trong những vần thơ sau của thi sĩ : Một bà mẹ có cuộc đời truân chuyên

Tóc bạc, da mồi, trí ngẩn ngơ

Tuổi sáu mươi thân còn mạnh khỏe

Mà hồn đã lạc phố phường xưa

Một bà mẹ đầy ắp tình thương con

Mẹ nhớ mồ em, nhờ mả anh

Nhớ mả thằng con, mộ đứa cháu

Khuya về nghe giọng nói yêu thương

Và thương cả lân bang, hàng xóm :

Nào kẻ chết :

Nửa đêm mở cửa, mẹ kêu ôi !

Bớ bà con làng nước ra coi

Bàn tay ai đó mà ve vẩy

Có phải hồn oan thức dậy, ngồi

Một đời đau khổ

Rồi kẻ sống:

Mẹ nhớ con đò bến Hải Lăng, Người chèo không mảnh khố che thân Thằng con thả lưới mò tôm tép Bắt được thây ai chảy ngược dòng

Một đời đau khổ

Thật là một bà mẹ vĩ đại, vĩ đại trên mọi vĩ đại của thời gian và không gian. Nhớ về người mẹ ấy nay chỉ còn là những kỷ niệm, một cách duy nhất để nhà thơ tỏ lòng biết ơn người mẹ đã đi xa mãi, bằng những vần thơ não nuột. Mẹ ơi thân xác mẹ còn đây Một nửa hồn sa cõi lụy này Một nửa hồn kia còn níu lại Những niềm đau khổ quá sâu cay. Và lời cầu nguyện thay lòng biết ơn Con mong tin mẹ về phương Phật Lồng lộng mày cao, cánh hạc hồng Con sẽ đố lên trời sáng rực Bài thơ thương mẹ quá là thương Cõi lòng sâu thẳm lồng trong những vần thơ rất thơ với những hình ảnh vừa trang nghiêm vừa siêu hình : bầu trời sẽ sáng rực ánh sáng của lòng thương cảm, nhớ mong và biết ơn. Trời tuy thăm thẳm, nhưng cũng phải đón nhận tấm lòng đó. Nói mẹ phải nhớ đến cha. Người cha Việt nam luôn mang dáng vóc oai nghiêm và vẻ mặt điềm tĩnh, sự điềm tĩnh nói lên tình thương trở về trong lòng, lòng thương này thường bị che khuất bởi lễ nghĩa nhà nho. Thấy núi âm thầm tưởng bóng cha, Nghìn trùng tịch mịch giữa bao la. Nhưng : Như nỗi niềm kia mãi mãi là. Lòng cha cũng “bao la” và “nghìn trùng tịch mịch” lòng biết ơn của con cũng phải “mãi mãi là”. Niềm thương thành biển nhớ, biển nhớ mênh mông dồn lại thành nỗi đau. Để xoa dịu nỗi đau, trí tưởng tượng tạo ra những hình ảnh tương ứng, cho nên khi bắt gặp những cảnh ở xứ người tương ứng với cảnh quê hương, thì cảm xúc trào dâng khó ngăn. Anh yêu dấu, hãy cùng em gọi mẹ Buổi trưa hiền, cây vú sữa ngoài sân Anh hãy nắm tay em vào ngõ bé Đi quanh co, tìm bóng mẹ gần xa. Rồi tác giả đã tìm thấy bóng mẹ Kìa trong nắng xôn xao tà áo đỏ Năm mươi năm trước mẹ còn phơi. Vui quá đi mất, mừng quá đi thôi : Hãy cùng em ôm hôn tà áo mẹ, Tất đầy hơi, buồng phổi chẳng già nua, Chút hơi hám thơm tho còn sót lại Và nhớ người yêu mẹ thuở nào xưa Và kia, một hình bóng nữa, hình bóng mẹ Đưa bàn tay ngà ngọc cắt cành nho. Rõ ràng là bàn tay người mẹ phương tây, nhưng đã sao, mẹ ở đâu cũng là mẹ, mẹ nào – đông cũng như tây – đều lấy mảnh vườn làm niềm vui và hoa quả vườn nhà vẫn là quà tặng cho con cháu. Rồi trong tiếng gà gáy – ôi sao quê mẹ lại hiện ra – và đích thực mẹ đã vào thơ trong cảm xúc của con : Bờ sông Seine, cánh gà trưa cũng vỗ, Cành nho và tay mẹ đã vào thơ. Là một nhà thơ nữ, bản chất đa cảm đã đưa tác giả từ cảm xúc này đến cảm xúc khác và lòng biết ơn mẹ đã nâng những vần thơ đến đỉnh cao của tình con với mẹ, cao đến độ tuyệt vời. Tôi không biết ngâm thơ mà chỉ biết phân tích. Nếu có giọng ngâm nào phù hợp với những vần thơ này, ta sẽ cảm nhận được nhiều hơn, đầy đủ hơn tình cảm dào dạt của nhà thơ Vi Khuê với thiên nhiên đất nước, quê hương và nhất là với song thân của Bà. Vì vậy, sự hạn hẹp của bài viết khiến tôi bứt rứt vì chưa lột tả được hết xúc cảm của một tâm hồn thơ đáng kính. Tháng 2/2017

Về đầu trang


Nhà Thơ Vi Khuê Và Những Mùa Xuân, Ngày Tết

Thầy Phạm Văn An


Ai cũng mong đợi Xuân về tết đến, nhưng làm sao để nhận biết Xuân đang đến?

Khi cái giá rét, buốt lạnh đã dịu, nhường chỗ cho làn gió nhẹ âm ấm, đủ làm cho đôi má thiếu nữ ửng hồng thì là lúc xuân đang về.

Hoặc khi có cánh én xuất hiện trên không trung thì đó cũng là dấu chỉ của mùa xuân đang đến.

Rồi khi trên cành mai, cành đào trơ trụi lá, thoáng thấy vài búp nụ căng phồng cũng là lúc hoa muốn nở nụ cười đón tết sang.

Nhà thơ VI KHUÊ có một cách cảm nhận mùa xuân thật giản dị:

Tại sao Xuân đến tôi không biết?
Chỉ biết rằng hoa nở rất nhiều(1)

Có người cho rằng nhận xét này khá chung chung, vì lúc nào mà hoa chẳng nở, nở rộn ràng quanh năm, chứ đâu chỉ đợi lúc xuân sang, nhất là trong thời đại công nghiệp hiện đại này, hoa nở bốn mùa. Nhưng nếu ta tinh ý một chút sẽ thấy hoa ngày tết đẹp hơn nhiều, vì mùa xuân hội đủ các điều kiện tự nhiên để hoa nở đẹp, đẹp nhất có thể. Vì vậy thiếu hoa thì tết “mất tết” rất nhiều. Cho nên một lần ở xứ người, tác giả không thấy hoa, dù hôm đó đúng là ngày tết:
Nhìn qua khung cửa sổ,
Trắng xóa một màu pha,
Con đường đen đậm đà,
Trên trời tuyết trắng xóa,
Cây cao mà trụi lá,
Khô khốc, chẳng CÀNH HOA.(2)

Đây đâu phải là cảnh tết… Cảnh tết Việt Nam chí ít cũng phải:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (3)
Người ở đây cũng không có vẻ là “người tết”
Ông già khoa cán xẻng,
Rạch nốt con đường đi.

Nhà nhà im vắng thế !
Con chó nằm ngó nghiêng (2)
Tết phải rộn ràng, vui tươi, chứ đâu vắng vẻ, đìu hiu như vậy!
Hãy nghe Tú Xương tả cảnh tết năm xưa, cuối thế kỷ 19
Chi cha, chi chát khua giầy dép,
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè.
Hoặc :
Giàu nghèo thì cũng ba ngày tết
Kiết xác như ai cũng rượu chè.
Thấy cảnh tết Việt chẳng hiện diện nơi xứ người, tác giả định thần xem mình có lầm lẫn không!
Hôm qua mồng một tết,
Hôm nay tháng giêng mà !(2)
Chữ “mà” là sự khẳng định tác giả không lầm, vì hôm qua mới là ngày mồng một. Chợt một sự kiện xảy ra:
Giật mình điện thoại reo,
Giọng ai mà thỏ thẻ
“Chúc em vui thật nhiều“
“Cùng xuân về nhé nhé”(2)

Một lời chúc tết,ừ một lời chúc tết lẻ loi khiến tác giả không mừng, cũng chẳng vui vì bài thơ chấm dứt ở đây, không có lời chúc đáp lại.
Sao vậy nhỉ ? Tác giả gián tiếp trả lời
Tại sao tôi chẳng làm thơ mới,
Để chào xuân mới, mới sang xuân.

Tại sao tôi chẳng làm thơ để,
Dang tay ôm lấy cái vô cùng.
….
Tại sao tôi phải làm thơ chứ (4)
Câu hỏi “tại sao” không phải ý “nghi vấn” mà là lời “từ chối” “Không làm thơ vì không thấy xuân, không thấy tết Việt nam ở đâu cả”. Vậy lấy cớ đâu để ý thơ xuất hiện, hồn thơ bay bổng? Không những là một lời từ chối, mà còn là nỗi buồn tê cóng, ẩn chứa sự “hờn dỗi”.
Ừ thì xuân đến có sao đâu(4)
Có sao đâu, nghĩa là chẳng có gì thay đổi, cảnh vật xứ người chẳng có dấu vết gì mùa xuân, ngày tết Việt, dù- theo lịch – thì xuân đã tới; nhưng tới kiểu này thì “không sao cả” vì “không có gì là xuân”. Vậy mặc kệ nàng xuân, đi hay đến tùy ý.
Xuân nào trên đất khách cũng thế thôi; đành “trôi về” về quá khứ quê nhà để tìm hình bóng xuân xưa.
Xuân này ở Mỹ sao mà lạ,
Bỗng rộn ràng lên chuyện tiếc thương (5)
Và mùa xuân Dalat đã gợi nhớ cho bà nhiều, cũng đúng thôi, vì bà đã sinh sống ở đó từ lâu, đó là quê hương thứ hai của bà, sau Huế.
Và nhớ và yêu Dalat quá (5)
Yêu, ồ yêu nhỉ, nhớ, sao không?
Rồi Đồi cù, cảnh Dalat mù sương, Trường Bùi thị Xuân, đại học dalat, rồi rừng, rồi thác. Cái nhớ miền Nam và da diết.
Đà Lạt, trời ơi, giờ ấm lạnh (5)

Có những giây phút đặc biệt, ta trở về với lòng ta, sẽ thấy quê hương quý giá vô ngần, như hai câu thơ, ai đó, đã viết
Khi ta ở là nơi đất ở,
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn.
Cho nên tác giả
Thương đến cả vệ đường hoa (5)
Tâm hồn nhà thơ nhạy bén như vậy, nên dù ở xứ người, bất ngờ bắt gặp một loài hoa của tết, bà cũng xúc động :
Bỗng dưng nghe phất phơ đời
Nghe như có gió ngàn khơi thổi về (6)
Thấy đóa hoa quen thuộc mỗi khi xuân về bên nhà, bà khẽ hỏi họa như thầm hỏi mình
Hỏi thăm thầm đóa hoa lê
Mới hay xuân đã tới kia ven đồi (6)
Tuy xuân tới chưa trọn vẹn như bên nhà
Sao cây thay lá đỏ, liền lá xanh (6)
Không có lộc non, niềm hy vọng, nhưng cũng đủ cho bà ước mong những điều tốt đẹp mà mùa xuân hằng mang tới :
Ô hay ! trời đất chuyển mình,
Nghe xuân mang lại Hòa bình, ấm no (6)

Con chim nó hót líu lo
Mừng xuân đem trả tự do cho người(6)

Rất may, ta còn tìm được một bài thơ khác của bà, ở đó, Xuân thật trọn vẹn : đó là bài Xuân sớm mai.
Buổi sớm mai, xuân đẹp tuyệt vời(7)

“Đẹp tuyệt vời” nghĩa là chẳng thể nào đẹp hơn. Một từ trừu tượng, tha hồ cho ta miên man tưởng tượng vẻ đẹp mùa xuân, một vẻ đẹp tuyệt đối như một chân lý, mà đã là chân lý thì chẳng ngôn từ nào diễn tả nổi. Trước chân lý, con người chỉ còn cách định tâm mà chiêm ngưỡng : Tâm đi tìm ý, ý nhập vào tâm như chủ trương của nhà Thiền, thì nới lĩnh hội được.
Tuy vậy , tác giả cũng gợi cho ta vài hình ảnh gợi tả mùa xuân :
Ráng hồng, óng ả gái hai mươi(7)
Tại sao không là gái 16 ? Tuổi trăng tròn ? mà là gái 20 ? Vì ở tuổi này xuân sắc của người thiếu nữ mới hoàn toàn “phát tiết” (6) ra ngoài, như vẻ đẹp “vô cùng” của mùa xuân
Rồi nữa

Có phải hừng đông trên cặp má ?
Hay là xanh thẳm xuống đôi ngươi ? (7)

Câu hỏi đã hàm chứa câu trả lời.
Các hình ảnh trên chỉ tượng trưng phần nổi của dáng xuân. Xuân còn huyền diệu hơn nữa ở lời nói “vô ngôn”. Xuân nói mà không lời hay chỉ khe khẽ, thì thầm rất nhỏ để những tâm hồn nhạy cảm nhất nghe được.
Chợt nghe luồng rào rạt trong đất
Thoáng gặp niềm phơ phất giữa trời (7)
Tâm hồn nào “gặp” được hơi xuân này ? Chỉ có nhà thơ, vì như Xuân Diệu đã nói :
…thi sĩ…ru với gió
….
Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn dây.

Đây chính là cách xuân nhờ nhà thơ gửi lời chào tới mọi người :
Đào hoa tương ảnh cùng nhân diệu
THƠ TỰ NHÂN GIAN HÉ NỤ CƯỜI (7)

Xin hỏi các thi sĩ (9) trong thi đàn (10) văn Học? Xuân đã gõ cửa hồn thơ chưa ?
Bên này , Ông táo đã về trời, theo tục lệ là bắt đầu tết. Báo xuân đã tràn lan ở các sạp, thiệp xuân năm nay cũng thật bắt mắt. Riêng đối với tôi, vì tuổi già, nên nàng xuân tới chậm và có khi quên không đến; chẳng sao, dành nàng cho quí vị trong thi đàn.

Thầy Phạm Văn An
Ngày Ông Táo về trời


(1)Bài : Tại sao thu đến
(2) Bài : Tháng Giêng, Ồ tháng giêng
(3)Thơ Kiều: Nguyễn Du
(4)Bài : Ừ thì Xuân đến, có sao đâu !
(5)Bài : Mà thương đến cả vệ đường hoa.
(6) Bài : Líu lo
(7)Bài : Xuân sớm mai. Bài này không ghi năm viết. Đoán là trước 1975.
(8)Mượn từ của Kiều : Tinh anh phát tiết ra ngoài.
(9)Như trang Văn Học gọi.
(10)Nên tôi cũng dùng từ này cho tương xứng.

Về đầu trang


Nhà Thơ Vi Khuê Và Niềm Vui

Thầy Phạm Văn An


Niềm vui là hình ảnh của hạnh phúc mà hạnh phúc là điều mà mọi người tìm kiếm. Ta thử xem nhà thơ Vi Khuê có những niềm vui nào.

Vì là một nữ sĩ, nên niềm vui của Bà, trước hết, là ở chốn gia đình - mà người ta thường ví như tổ ấm của đời người . Ở đây - chốn gia đình - bà tìm được nguồn hạnh phúc dạt dào.

Trước hết, được làm mẹ là cảm nhận đầu tiên của hạnh phúc.


Ôi sao sang quá, tôi là mẹ
Ngự giữa thiên đường đó là con

(Thiên đường nhỏ )

Có làm mẹ mới cảm được niềm hạnh phúc này. “Sang” không phải là giàu, dù người ta vẫn dùng từ ghép “giàu sang” mà sang ở đây là “sang trọng” quí hóa, vượt trên lẽ thường, cái sang đó do người con tạo cho mẹ. Người con là thiên đường mà mẹ đang nắm giữ.

Do đó, bà quí con vô ngần


Con quí con cưng con Phượng Hoàng,
Con đến như trời ban phước xuống
Con nằm nôi nhỏ rạng hào quang

(Khi con còn nhỏ )

Cuộc sống bên con là cuộc sống thiên đường, nghĩa là sung sướng hoàn hảo :


Đây thiên đường nhỏ của tôi đây.
Có gối chăn và giấc ngủ đầy.

(Thiên đường nhỏ )
………………………………….
Có bàn tay để ấm bàn tay.
Rồi khi con khôn lớn, thiên đàng hạnh phúc mở rộng
Có tuổi mười lăm đòi giận hờn




Tình mẹ muôn đời như trăng tỏ
Tình con bây giờ như nước lũ.
Hạnh phúc còn dõi mãi về tương lai
Tôi sẽ bình yên mà chờ đợi
Ngày con khôn lớn đến bây giờ
Mười năm cô bé lên mười tám

(Thiên đường nhỏ )

Và đứa cháu tiếp tục cho nữ sĩ trái ngọt hạnh phúc


Bàn chân nhỏ bước ra chơi,
Tương lai cháu ngoại đã cười rạng đông

( Líu lo )

Hưởng hạnh phúc gia đình tràn ngập, tác giả quên hết cực nhọc. lo toan : Tôi nhớ, quên người trong gió mưa.

Ừ thì cái gì được cũng qua một cuộc “đánh đổi” nhưng nhiều bà mẹ đã đánh đổi, mà chẳng được kết quả như tác giả đang hưởng : hưởng niềm vui – một giá trị tinh thần, chứ không phải giá trị vật chất – Tất cả các bà mẹ Việt nam chỉ cần “nụ cười” từ con cho, chứ không phải phần tiền tài vật chất, vì thực tế, đa phần thì “một mẹ nuôi được mười con ; mười con chưa nuôi được một mẹ”. Hạnh phúc đó, bà cảm thấy mãn nguyện


Hạnh phúc đôi khi cũng đủ đầy,
Như vầng trăng giữa độ tròn no.

(Thiên đường nhỏ )

Rồi bà “ngộ” ra , đó là tất cả trên đời


Tôi xin ôm lấy thiên đường nhỏ ,
Và trả cho người ảo mộng xưa.

(Thiên đường nhỏ )

Ngoài hạnh phúc gia đình, vì tâm hồn thi sĩ, bà còn tìm được muôn vàn niềm vui khác – không thể so sánh với niềm vui gia đình – từ thiên nhiên cung cấp.

Đây, niềm vui từ thiên nhiên vườn nhà :


Chân mang guốc gỗ ra thăm,
Đào xoan mấy cội đứng nằm dưới sân. “đứng, nằm” một hình tượng không phải là ngổn ngang mà là “chờ sẵn” người ra “thăm”, chữ “thăm” âu yếm làm sao ! Rồi thì bao hình ảnh thân thương khác giữa bà và cây cỏ, chúng như luôn chiều và hiểu ý bà :

Vườn thơm đâu có ngại ngần
Dâng ta một đóa hoa hồng đỏ tươi
Xanh um ở phía sau đồi
Rợp lên rau cải, rau mùi của ta.

( Vườn hoa vào thu )

Và bà cũng chia sẻ tình thương mến cùng với cây cỏ

Thương chưa bầu đã ra hoa,
Cành non, lá nõn la đà ấp yêu
Lá sao lá nõn mỹ miều
Cành sao cành dịu leo lên phủ giàn.

( Vườn hoa vào thu )

Những từ “thương cho”, “ấp yêu”, “mỹ miều” ,”sao” là lời khen ngợi hay sự “mãn nguyện” của bà đối với cây cỏ bà trồng như ta khen một đứa bé ngoan. Khu vườn nhà, có lẽ, đã cho bà nhiều an ủi, nhiều bình tâm trong những phút giây sống nơi xứ người.


Vườn buổi sớm cây đầy trái chín,
Bàn chân no, đá sỏi ngọt ngào.

Tôi đã uống một ly trời ngọt lịm
Cổ nghẹn và không biết nói sao.

Một thiên nhiên mở rộng, cũng được bà lưu ý :

Và đây, nắng ban mai :


Chào nắng ban mai, nắng nõn nà
Nắng cho lòng nở rộ cành hoa.

( Chào nắng )

Rồi nắng thu thơm mát :


Dù nắng trào tuôn khắp nẻo đường
Mùa thu và đất rất thơm hương

( Thu ở Virginia )

Và nắng rực rỡ trên đường Mao Bin Xai


Nắng hôm nay có màu vàng rực rỡ,
Của linh hồn lửa , của ngày mai
Của hôm qua còn rực tháng năm dài
Của dĩ vãng ngàn năm rực cháy

p

Nắng “khách quan” đã trở thành nắng “chủ quan”, lăng kính tâm hồn của bà đã biến nắng thành một sức sống, hy vọng, một niềm tin, một sự yêu đời :

Cho tôi được thốt lên lời ca ngợi
Vẻ nhiệm màu, cao cả của thiên nhiên

Rồi bà muốn như :

…Muôn chim trên cành cây thỏ thẻ,

Để

Như chim kia, tôi muốn dạo cung đàn
Hát bài ca tình tự giữa trần gian.

( Hòa điệu cùng vũ trụ )

Cái vui, niềm hạnh phúc do thiên nhiên mang lại là cái vui chủ quan. Thực tế, trong đời sống hàng ngày, trong đời sống xã hội, bà có được những niềm vui tương tự ? Có ! Vì bà yêu đời, luôn lạc quan với đời. Mông lung một chút, chủ quan một chút, bà đặt câu hỏi rồi tự trả lời :

Ở tận xa kia, cuối ngân hà,
Và trông thấy địa cầu ta sáng ngời.
Hỏi rằng trái đất sao tươi ?
Thưa rằng trái đất có người nên vui.

( Địa cầu ta )

Cuộc sống vui vì phải vui để sống, nhìn thiên hạ tất bật với sự mưu sinh, không vui thì sao thấy được thăng trầm, khổ ải bao quanh cuộc đời. Hãy chọn niềm vui để ca ngợi cuộc sống. Do đó, bà vui khi được là người Việt với lịch sử huy hoàng :

Nước mấy ngàn năm, nước gấm hoa
Nước thơm trang sử, thơm tình đất
Mãi vẫn ngàn năm nước Việt ta.

( Gửi hồn theo sách )

Và tin tưởng ở tương lai dân tộc Cho tôi nuôi mầm hy vọng chờ mong Ngày tươi sáng thay đêm dài u tối.

( Hòa điệu cùng vũ trụ )

Nhìn ra thế giới, bà cũng mang cả một tình yêu lớn tới đồng loại. Đón năm 2.000, bà thao thức : Chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa thì… Chúng mình sửa soạn nghe thơ để để đón chào thiên niên kỷ mới. Sửa soạn trang nghiêm trái tim mình, để cho trái đất mai sau được rực rỡ, trang nghiêm Trong nhịp bước tình yêu phơi phới (Chào đón năm 2.000 )

Bước sang thiên niên kỷ thứ 3, tác giả hy vọng trong hân hoan :
Xin chào em, thế kỷ mới tinh khôi,
Em có biết nhân gian vừa cúi lạy
Để năn nỉ Ông trời nguôi giận lẫy
( Đón chào tân thiên niên kỷ )

Dù biết trước là nhân loại vẫn còn phải đối phó với bao trở ngại :
Chưa qua khỏi bàng hoàng thổn thức,
Nào bão lụt cuốn trôi, nào động đất

Tác giả cầu mong thượng đế thương xót :
Mơ làm thinh, trời ơi sao làm thinh,
Ông trời ạ, tội tình chi lắm thế.
Và vẫn hy vọng nhân loại có một ngày mai tươi sáng:

Nhưng nói vậy mà thôi, là nói vậy,
Chứ xanh cây, vườn vẫn cứ xanh cây
Trong đau thương, hy vọng vẫn tràn đầy.
( Đón chào tân thiên niên kỷ )

Và vẫn tin vào cuộc sống đáng yêu : Thế kỷ mới, nàng ơi quay ngẫm lại, Trần gian tôi, diễm tuyệt đến vô cùng . ( Đón chào tân thiên niên kỷ )

Ở một nhà thơ nữ như bà Vi Khuê, tình cảm lai láng là điều dĩ nhiên, nhưng tình cảm ủy mị, thương khóc thì ít; Bà luôn chứng tỏ một sức sống nghị lực và luôn thấy niềm vui trong lẽ sống. Đó là điều đáng trân trọng.

Tháng 8/2016

Về đầu trang


Nhà Thơ Vi Khuê Và Nỗi Buồn

Thầy Phạm Văn An


Nhà Phật nói : Nước mắt chúng sinh dồn lại thì chứa đủ các đại dương; vì đời là bể khổ.

Một câu thơ tiền chiến viết : Buồn ơi ! man mác, mênh mông là buồn. !

Cái buồn nhè nhẹ, có dâng lên, lan tỏa. Tìm nguyên nhân thì : “Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn”.

Nhà thơ Vi Khuê cũng có nỗi buồn tương tự :
Tôi không hiểu nổi sự câm lặng này,
Sự câm lặng chết người bao chục năm qua (Trong đêm mưa rơi)

Nỗi buồn của bà cũng man mác, nhưng đã chực trào dâng vì “sự câm lặng chết người” đó đã dồn nén từ “bao chục năm qua” mà bà đã bất lực, không kiềm chế được, bất lực chỉ vì mình là thân nữ nhi :

Tôi, đàn bà với trăm nỗi xót thương,

Đã tham dự chiến trường, không dám hỏi.

(Chân dung tự họa)

Nữ nhi thì :

Chẳng làm gì hết cho hôm nay (Chân dung tự họa)

Bà chỉ còn cách :

Tôi đã đổ một dòng lệ ngọc

cho nguôi ngoai nỗi buồn.

Khi không chịu nổi, bà tìm người đồng điệu để mang sẻ chia.

Một giờ ta bấm phôn,

………………………

Hai giờ ta bấm phôn (Đêm mùa hạ)

Trong một đêm mùa hè, sự oi bức của thiên nhiên cộng thêm sự bứt rứt của nỗi lòng bà là một hình ảnh cô đơn đến tận cùng.

Quanh quẩn, không tìm được câu trả lời, suy tư vô vọng xuất hiện :

Cõi đời hay cõi mộng

Đi về một bóng ma. (Giọt lệ)

Không chấp nhận sự im lặng, bà đi tìm nguồn gốc của nỗi buồn đang ray rứt

Thức dậy, mau thức dậy,
Cái gì trong con người?
CThứ bom nào nổ chậm
CCơn sốt nào vàng da
CRồi tìm chính trong nội tâm mình :
CTôi muốn cầm dao cắt xẻ mau,
CThử xem trong óc, xem trong máu
CTrong mỗi đường gân, mỗi tế bào
CMầm mống niềm đau tôi ở đâu ?

CTại sao tôi khóc, sao tôi khóc ?
CNhư người đói khát trên sa mạc
CĐưa tay rờ nắn khắp da xương
CNào thấy niềm đau tôi ở đâu. (Tại sao tôi khóc)

Chẳng biết đau khổ từ đâu đến, hay chính đau khổ đã nhận chìm con người rồi ! vì đau khổ hiện diện khắp nơi.

Buồn trong cảnh chiều tà :

Hoàng hôn, hoàng hôn lê thê

Nghe trong tịch mịch, lòng thê thiếp vàng (Buồn sa)

Buồn bao trùm cây cỏ :

Về bên ấy sao đang,

Tôi thương cổ thụ, hai hàng lệ xưa. (Hoang vu)

Cồn hoang dã, bến lau thưa,

Trơ thân cỏ dại nằm chờ nước sông

(Hoang vu)

Cảnh và người chung một nỗi buồn

Bơ vơ cùng bơ vơ

( Giọt lệ )

Nhìn lại thân phận con người, cũng chỉ cảnh buồn vây tỏa :

Nhớ lại người mẹ trong chiến tranh :Già hơn vì chiến tranh, điên dại vì chiến tranh.

Một đời đau khổ làm nên mẹ

Tóc bạc, da mồi, trí ngẩn ngơ
CTuổi sáu mươi, thân còn khỏe mạnh
CMà hồn đã lạc phố phường xưa (Một đời đau khổ làm nên mẹ )

CVà người anh bi hùng trong chiến tranh mà hùng thì ít , bi thì nhiều :
CNgười đi trong nắng reo vui
CMà sao tôi thấy ngậm ngùi bước chân (Chuyện ngày xưa)
Anh tôi đã thành tù nhân
Hai tay vòng xích sắt
Máu chảy ròng đôi chân
……….
Rồi anh tôi chết, thây tan dưới cờ
Xóm chiều đứng lặng bơ vơ
Lòng tôi cũng chết khăn sô những ngày (Chuyện ngày xưa)

Và hình ảnh đồng bào mình thời chinh chiến :
Cậu Ba năm đó vừa hăm bảy,
Bị chặt bàn tay , máu đỏ đầy

Người chèo không mảnh khố che thân,
…..
Bầy con thả lưới mò tôm tép,
Bắt được thây ai trẩy ngược dòng (Một đời đau khổ làm nên mẹ)
Và nay, trước mắt mình, người hàng xóm Mỹ, đến tận cùng cuộc sống, cũng đem đau khổ đi theo
Sao bà nhắm mắt lệ còn tuôn (Bà hàng xóm Mỹ)
Nỗi buồn – nhất là nỗi buồn chiến tranh – vây tỏa cuộc đời, bà chỉ nhận đau khổ mà bất lực, vì bà mang thân phận nữ nhi, chẳng có thể làm gì được, trong hoàn cảnh này :
Tôi đàn bà với trăm nỗi xót thương
Để tham dự chiến trường không dám hỏi (Chân dung tự họa)

Tôi dang hai cánh tay đàn bà,
Ôm lấy cuộc đời đầy lửa đạn. (Chân dung tự họa)

Rộng ra, đau khổ tìm thấy ở
Quê hương xứ Huế của bà luôn gánh chịu triền miên thiên tai, địch họa :
Ở Huế đó, người ta đau đớn tựa,
Đoạn trường kia dâng đã thắt từng cơn
Chẳng còn chi, ngoài một chút tủi hờn
Khi nhắm mắt, bởi sống là cơ cực. (Bài thơ Huế)

Bà còn thương cho đất nước mình, vì chiến tranh mà tương lai mờ mịt :
Còn chăng hay đã hết
Câu chuyện của loài dơi
Hai ngàn năm sờ soạng
Tìm chưa thấy mặt trời

Hai ngàn năm lửa đỏ
Chập chững dấu chân tìm
Đường còn xa vạn dặm
Quá khứ hãy nằm im (Giọt lệ)

Quá khứ Việt Nam là quá khứ chiến tranh, hết ngoại xâm rồi nội chiến. Bà mong “quá khứ hãy nằm im” để con dân Việt có thời gian xây dựng lại đất nước.
Xem người lại nghĩ đến ta, thân phận của Bà và gia đình – cũng như biết bao gia đình ly tán khác – cũng chẳng tránh được đau thương.
Phải xa quê là điều chẳng ai muốn
Nước loạn chẳng dung thân
Ra đi chết một lần
Tấm lòng như áo bạc ( Lòng như tháng tư )

Rồi cuộc sống lưu đày nơi xứ người lạ lẫm :
Điệu buồn mấy nẻo hoang sơ
Khóc thương thân phận bơ vơ xứ người
Bèo trôi một cánh bèo trôi
Trăm năm khắc khoải tìm nơi dạt về. o đất rộng)

Nhất là trong những ngày tết, nhớ lại tết quê nhà mà lòng đầy buồn đau
Nên : Ừ thì xuân đến có sao đâu,
Vì : Nếu trên càng biếc chim không hót
Thì giữa lòng tôi huyệt cứ sâu
Huyệt cứ sâu, một nỗi buồn mang nặng bi quan, vô vọng. Bà tránh phải nghe tiếng pháo, để khỏi gợi nhớ đến quê hương.
Có sợ ngoài kia trời nổ pháo
Thì chùm chăn lại, trấn đời tan (Ừ thì xuân đến có sao đâu)

Bà ôn lại kỷ niệm một thời vang bóng ở Dalat, để có khỏa lấp nỗi buồn :
Tiếc sao những buổi rong chơi phố
Những buổi nhìn mây, buổi nhớ trời (Mà thương cả vệ đường hoa ) Rồi bà nuôi hy vọng một ngày trở về, dù – theo bà tiên đoán – rằng ngày ấy rất xa : Mai mốt tôi về tóc đã bạc, Đứng trên cầu cũ, nhìn sông xưa ( Mai mốt tôi về)

Và đã hơn 40 năm, mơ thành mộng, mộng thành ảo, nên
Nằm trông đêm qua, đêm chẳng tàn
Đêm cứ đêm hoài, câm bóng nên
Lệ người hay lệ nến chan chan Câu thơ buồn, khiến ta lại nhớ đến người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm : “Bóng đèn xưa với bóng người khá thương”. Tan tành hy vọng, bà mong mọi người – nay và sau – thương cảm cho bà : Khóc thương tôi, chỉ vỉ tôi đã khóc, Tôi đã đổ một trùng dương lệ ngọc (Chân dung tự họa) Và hình như bà không nhận được sự chia sẻ cần thiết Chung chuyến tàu trăm năm, Dửng dưng không một lời. ( Giọt lệ ) Bà tự an ủi : Cố nhân đã từng đau, Ai ngày xưa rơi lệ. ( Giọt lệ ) thì bây giờ : Mình nước mắt nhỏ sa thì cũng phải thôi. Chút uất hận bà trách trời : …Trời chỉ có thế mà thôi, Không nghĩa là ban phước lộc đời Không phải rằng giang tay cứu độ Khi người đau đớn gọi trời ơi ! Vì : Đã gọi trời ơi trời chẳng lại Thì đừng hy vọng, chớ trông mong (Bà hàng xóm Mỹ) Bà đành gửi lòng cho hư không : Trối trăn nào chỉ muộn “Mây ơi và nước ơi !” (Làm sao để đừng chết) Nhà Phật nói : Không có nỗi buồn, chỉ có người buồn , chính con người tạo ra nỗi buồn, nhân đôi nỗi buồn, lũy thừa nỗi buồn rồi nhận chìm mình trong nỗi buồn. Nỗi buồn là của riêng con người , thần tiên không biết buồn, rong chơi suốt ngày, liệu cuộc sống đó có ý nghĩa hơn? Hương vị cuộc đời, theo Cao bá Quát gồm : “Mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt bùi”, nếm qua các hương vị này, con người thấy rõ ý nghĩa của cuộc đời, và chưa được vị chua cay, ta sẽ thấy mặn nhạt, ngọt bùi thêm ý nghĩa. Có lẽ vì vậy mà Francois Sagan đã “Bonjour tritesse” (Buồn ơi ! chào mi). Xin chào “nỗi buồn” của riêng tôi, một nỗi buồn đăng đẳng theo suốt 40 năm và tôi, trong nỗi buồn ấy, đã tìm ra hương vị cuộc sống hiện nay, để luôn có mặt cùng trang Văn Học. Tháng 11/2016

Về đầu trang


Nhật Ký Người Điên

Thầy Phạm Văn An

… Hôm qua tôi đưa bàn tay gân guốc, run run xé tờ lịch cuối. Hôm nay lại thấy cuốn lịch mới dầy cộm, làm sao xé hết được cuốn lịch này đây. Sở dĩ phải than thở, vì tôi đã quá già, nằm yên một chỗ, chẳng làm gì cho ra hồn : ăn rồi nghỉ ngơi, buồn tình ôn lại cuộc đời mình.

Thuở nhỏ, cứ cho là từ lúc 2, 3 tuổi cho đến lúc đi lại vững vàng, còn trước đó, có biết gì đâu mà nhớ với quên.

Thuở nhỏ đó, lạ thật, tôi hoàn toàn được tự do, muốn khóc là khóc, khóc nhỏ chẳng ai nghe tiếng thì hét lên, gào lên, thế là cả nhà xúm lại : người nựng, kẻ ru, người cho ăn, kẻ đi lấy quần thay, vì cái quần đã ướt đẫm. Tôi chẳng nói gì, thế mà họ đoán ra và phục vụ tôi hết mình. Nghĩ lại, tôi thấy tôi vô lý mà mọi người cũng vô duyên ! Tại sao tôi lại toáng lên khi mọi người đang bận rộn, mà tại sao mọi người bận rộn lại bỏ hết công việc để đến phục vụ một thằng nhãi ranh ? Mẹ tôi đã để nồi cơm phải khê, chị tôi đã quên cả giờ đi học ? tại sao và tại sao ?

Chập chững tập đi là lúc cả nhà bận rộn nhất : coi chừng em té này ! Tập đi thì phải té chứ sao ! Có gì mà to chuyện. Thế mà vì tôi té mà chị tôi bị mẹ la mắng te tua, cha tôi cầm roi lên, nếu không có nội tôi can ngăn thì….

Bữa ăn của tôi… ôi thôi là cả một sự “vật lộn” của mọi người : Người làm trò để tôi cười, nhân cái miệng há hốc ra là người khác đút thìa cơm đầy miệng. Sao lại phải thế nhỉ ? đói thì phải đòi ăn, no thì không ăn, giản dị quá mà ! Sao lại làm phức tạp một công việc giản dị ? À thì ra, họ sợ tôi thiếu dinh dưỡng, chậm lớn. À mà nhờ cái sự lẩn thẫn lo toan của họ mà tôi lớn mau trông thấy. Lớn thì sự “lôi thôi” của tôi càng nhiều : tôi nghịch ngợm, hết đòi cái này tới cái khác, cả nhà một phen khổ sở về những yêu sách của tôi. Thế mà họ vẫn vui vẻ thỏa mãn hết. Kì nhất là khôn lớn rồi, mà tôi vẫn thích tè dầm, nhìn nước tiểu chảy dòng theo ống quần, tôi cảm thấy vui rồi cười gọi chị . Đôi lúc chị tôi bực mình vì phải làm công việc chuyên trách là thay quần cho em, vì như mẹ tôi dặn : không thay ngay, nước thấm vào mình, lạnh , em sẽ cảm. Chị tôi than thở, mẹ liền an ủi : “nó biết gì đâu, mà la mắng nó. Tội nghiệp thằng bé !”

Có lần, dơ tay với cái lọ thủy tinh để xem sao lại có hình mình trong đó. Xoảng một tiếng, đang ngơ ngác thì mẹ hiện ra la toáng lên : “chết rồi ! thằng bé có bị chảy máu không ?”, Bố thì, đứng như tượng gỗ, chép miệng. Ông tiếc cái lọ pha lê quý giá. Mẹ biết ý, trách nhẹ bố : Ông quý cái lọ hơn con ông à ! Bố quay đi, chẳng một lời.

Đại loại, tôi được tự do tuyệt đối và mọi người tôn trọng nghiêm chỉnh sự tự do đó. Ngẫm nghĩ mới thấy chân lý trong lời của Bác : “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Nhưng rồi cũng phải lớn và sự tự do “không cánh mà bay” . Một lần quen thói tè dầm , bị mẹ la là “hư” rồi sờ vào vật gì cũng bị cảnh cáo : “vỡ bây giờ!” “không phải của con thì con không được lấy” đến việc đi, đứng, nằm, ngồi cũng luôn bị “chỉnh” , “đứng chênh vênh như thế, té bây giờ” “mới 7 giờ đã đòi đi ngủ!”. Hình như mọi người không còn quí tôi nữa. Tôi bắt đầu “chán đời” với những bàng cấm vô hình treo xung quanh tôi . Vô hình mà thật rõ nét, vì làm cái gì cũng cảm thấy bị cấm. Tôi thu người lại như con ốc chui vào tổ lại bị phê phán :” sao, con trai trai là lì lợm, ủ rũ”.

Rồi được đi học, trí khôn đã tạm đủ để “biết mình, biết người” một tri thức tự nhiên trời phú cho, chẳng cần ai dạy.

Con mặc bộ đồ này !

Không chịu, bộ này đẹp hơn

Không được ! Hôm nay phải mặc đồng phục !

Tôi la toáng lên, nhưng không thành công, thấy các đứa trẻ hàng xóm cũng mặc đồng phục. Tôi đành chịu và thoáng hiểu rằng : tự do của mình cũng có giới hạn. Tự do cũng bị ngăn cấm khi số đông không chấp nhận. Trước mắt là mẹ tôi nhân danh “số đông” để ngăn cấm tôi.

Lên đến cấp 2, cấp 3 thì cái vòng “kim cô” của mẹ càng xiết chặt, xiết đến độ tôi có cảm giác cái đầu sắp nổ tung. Nào là : đi xe phải cẩn thận, kẻo tai nạn; chớ đánh nhau, chọn bạn mà chơi, v.v… có lúc mẹ lại can thiệp vào đời tư của tôi nữa mới kì chứ : Không chơi với thằng A ! ( nhưng thằng này kể chuyện tếu quyến rũ lắm, bỏ sao được !) rồi con bé nào hay đi học với con thế ? (kì nhỉ ! đi với tôi chứ có đi với mẹ tôi đâu, mà để ý ) rồi nữa : con còn nhỏ, phải chuyên vào việc học ( còn nhỏ hay đã lớn thì chỉ tôi biết, chứ sao mẹ tôi biết được ! chuyên vào việc học đến mụ người đi, chán lắm. Những lúc tán gẫu với bạn trai, hò hẹn với bạn gái vui biết bao).

Rồi lên đại học, ra trường, đi làm. “Vòng kim cô” của mẹ dần dần biến mất. Tôi lại được tự do. Thỉnh thoảng mẹ vẫn “nhắc nhủ”, ừ cứ để cho mẹ nói, mẹ nói chán mà thấy không hiệu quả thì phải thôi. Còn tôi muốn hay không thì cũng phải tự chịu trách nhiệm về đời mình : Tôi vui sướng khi được tự quyết định : Ô ! cuộc đời thật đẹp với những mơ ước mà toàn là giấc mơ đẹp : sẽ là đại gia, là thi sĩ, là kỹ sư, rồi tôi đâm bổ vào những giấc mơ đó : quên mọi người, quên cả chính mình; sức khỏe sa sút cũng chẳng hề chi, miễn là mộng tưởng được thành hình. Mộng trở thành thực vài lúc, nhưng thất bại đắng cay cũng nhiều. Những lúc này, tôi muốn trở về với người thân, nhất là mẹ tôi để được sự an ủi, ve vuốt, nhưng lại ngần ngại để rồi một mình gậm nhấm nỗi buồn tê tái. Hỏi bạn thì được khuyên là “rút kinh nghiệm” nhưng chẳng kinh nghiệm nào giống kinh nghiệm nào. Niềm vui ít mà nỗi buồn chồng chất, đó là cái giá của tự do và chân lý của cuộc đời.

Chưa kịp rút đủ kinh nghiệm để hoàn thiện cuộc đời thì cái già đã sập đến, sập đến bất ngờ khiến tôi cứ ngỡ là mình đang còn trai trẻ.

Bây giờ, tôi biết tôi là không còn dịp để làm lại cuộc đời nữa và nằm đó để nhìn những đứa con tôi đang hăng hái lăn xả vào đời. Rồi thì chúng – một ngày nào đó, sẽ như tôi ngày hôm nay. Ngẫm mà chán cho đời, thương cho những đứa con đang đi trên những vết hằn năm tháng của bố chúng.

Tuổi già mới chính là lúc mình được tự do vì chẳng ai ngó ngàng đến mình, chẳng ai còn cần đến mình, họ đang bị vòng xoáy của cuộc đời cuốn theo.

Tự do, lúc này có giá trị gì nhỉ ? Tự do đi lại ? Chẳng ai cấm, nhưng “gối mỏi , chân mòn” một bước đi là khó, nếu không có cái gậy giúp đỡ. Tự do nghĩ ? nghĩ cả đời, chán rồi, chẳng thiết nghĩ tiếp; chỉ còn nghĩ về cái chết, về thế giới bên kia, nhưng những nghĩ ngợi về loại này thì lại vượt quá khả năng của tôi; vì thế giới siêu hình ta không với tới được. Những bậc tu hành cũng còn chưa với tới, huống chi là người trần tục như tôi ! Ừ thì ai cũng chết và tôi cũng đang chờ chết, nhưng chẳng biết bao giờ thần chết đến gõ cửa ! Chờ ? chờ đến bao giờ ! tôi chỉ ước biết được cái chết khi nào đến, để tôi quần áo chỉnh tề, gọi mọi người đến để gửi lời từ biệt, kẻo mang tiếng thất lễ với mọi người, với cuôc đời !.....

Tháng 01/2018

Về đầu trang


Nhớ Và Quên

Thầy Phạm Văn An


( Trường hợp Trương vô Kỵ trong “ Ỷ thiên Đồ long Ký ” )

Kim Dung là nhà văn Trung Hoa viết kiếm hiệp nổi tiếng. Trong tác phẩm “ Ý thiên đồ long ký “ Ông đã viết về Trương vô Kỵ - nhân vật chính trong truyện, có 1 đoạn đáng chú ý. Lúc còn thiếu niên, Vô Kỵ có nội lực thâm hậu. Một hôm nghe tin phái Võ Đăng bị cường địch tấn công, sư tổ bị ám hại, ông lên núi giải cứu. Sư tổ Trương Tam Phong bị trọng thương, không thể nghênh địch được, nên phải truyền thụ cho Vô Kỵ một pho kiếm pháp vừa sáng chế. Dạy được một lúc Tam Phong hỏi :” Con nhớ được mấy phần ?” Vô Kỵ trả lời :” Chỉ nhớ được 3 phần”. Sư tổ nói :”tốt”. Một lúc sau lại hỏi :” Con nhớ được bao nhiêu” Vô Kỵ trả lời :” Con quên hết cả rồi “, Tam Phong vui mừng : “ Vậy, bây giờ con có thể ra đấu với quân địch được rồi “.

Thật kỳ lạ, Vô Kỵ “chỉ nhớ được 3 phần” mà được thầy khen là “tốt” rồi quên hết lại dám cho cho Vô Kỵ ra tranh đấu với địch. Ta phải hiểu đây là cách nói, cách hiểu của các bậc kỳ tài trong võ lâm. Vô Kỵ chỉ nhớ được 3 phần, có thể hiểu là bài học khó. Thông minh như Vô Kỵ mà chỉ lãnh hội được 3 phần thì kẻ phàm phu chắc chỉ nhớ được nửa phần. Khi Vô Kỵ trả lời là “ quên hết rồi “, có nghĩa là bài học phức tạp và siêu đẳng, phải lấy tâm và trí ra mới lãnh hội được các tinh túy của bài học và điều này thì Vô Kỵ đã làm tốt, nên Tam Phong mới dám cho Vô Kỵ ra thi đố. Vô Kỵ đã hấp thụ được cái cốt yếu của võ nghệ trong bài học, như các thiền sư chỉ “ tâm truyền tâm “ mà ngộ được, có nghĩa là biết và hiểu không cần nói thành lời, mà đã ngấm vào máu thịt. Ruột non chỉ hấp thu tinh chất bổ dưỡng của thức ăn, cặn bã không cần để hấp thụ, cũng vậy. Vô Kỵ đã thấm sâu ý võ vào tâm khảm, không cần suy nghĩ phải đưa đường kiếm như thế nào, chỉ cần dụng tâm điều khiển, thì đường kiếm trong tay nhất định đi đến mục đích. Thông thường người nói muốn người nghe phải ghi nhớ tất cả mọi điều đã giảng và đa số người nghe cũng muốn “nuốt” hết lời đã nghe.

Bộ óc thông minh có biệt tài chắt lọc ý chính trong vấn đề để lưu lại trong bộ nhớ rồi sau đó vận dụng theo cách riêng của minh để áp dụng. Khi đó kiến thức thu lượm được đã trở thành kiến thức của mình.

Kinh Phật có lời dặn : Nhờ đò qua sông, nhưng đã đến bờ bên kia thì nên để đò lại, chớ đừng vác theo thêm mệt xác mà vô ích. Lời nói chỉ là phương tiện để chuyển ý, cái chính là ý. Có những người nói 1 mà ta hiểu rộng đến 2,3, nhưng có người nói “ tràng giang, đại hải “ mà chỉ gạn được 1,2 ý, đôi khi “ chẳng hiểu gì cả “.

Cái “biết” và cái “quên” của Vô Kỵ là vậy.

Tháng 12/2014


Những Từ Thân Thương Của Người Việt

Thầy Phạm Văn An

Một tập hợp người quần cư trong một vùng, có chung một văn hóa, một số phận, một tổ chức chính trị, thực thể này được người Việt gọi bằng những từ khác nhau, tùy thời gian : đó là các từ : nước (nước tôi), đất nước (đất nước tôi), tổ quốc, v.v…

Ta lần lượt tìm hiểu sự ra đời của những từ này :

Nước : Theo các nhà nghiên cứu tiền sử và khảo cổ : Lớp người tiền sử ở Việt Nam – cũng như người tiền sử ở các nơi khác – sống bằng nghề săn bắt và hái lượm trong rừng. Lúc này, họ chưa có một ý thức về đoàn thể. Họ sống nay đây mai đó. Dân số phát triển, cuộc sống trở nên khó khăn, người Việt cổ phải di cư xuống miền thấp – miền sông nước để kiếm sống.

Truyền thuyết Âu Cơ – Lạc long Quân mang dấu ấn thời kỳ này. Lạc long Quân thuộc giống Rồng ( rồng là loại lưỡng cư, vừa sống trên cao, vừa sống dưới nước) và Âu Cơ thuộc giống Tiên (trên cao, trên rừng).

Khảo cổ học cũng tìm thấy trong các hang động ở vịnh Hạ Long có dấu vết của người tiền sử sinh sống : những đống vỏ loài nhuyễn thể (sò, hến, ốc) bên cạnh dấu vết đun nấu (đống than củi) và cả những ngôi mộ, chứng tỏ cư dân đã sống bằng nghề “mò cua, bắt ốc”.

Lịch sử cũng ghi lại truyền thuyết người giao chỉ (người Việt cổ) có tục xăm mình để tránh giao long ( cá sấu) và lịch sử cũng ghi lại đến tận thời Trần, tục lệ này vẫn còn, đó là việc Nguyễn (Hàn) Thuyên làm bài văn tế cá sấu.

Do đó, có thể nói lúc đầu, nước là yếu tố quan trọng trong đời sống của người Việt – từ huyền sử cho đến cổ sử - nên từ Nước đã được dùng để chỉ mảnh đất họ sinh sống.

Dân số càng đông, thì người Việt phải tìm một cách kiếm sống bảo đảm hơn, họ đã biết trồng lúa nước : trên các trống đồng thời kỳ này ( thế kỷ 1, 2) có hình chiếc thuyền với đoàn thủy thủ, còn có cả hình người giã gạo bên chiếc cối. Các hình ảnh này cho thấy cư dân Việt giỏi nghề sông nước lẫn nghề nông.

Truyền thuyết Lang Liêu – thời Hùng Vương – với bánh dày , bánh chưng cho thấy nghề nông đã phát triển : bên cạnh cây lúa, thì rau đậu cũng là lương thực.

Bên cạnh yếu tố nước, thì yếu tố đất (để trồng trọt) cũng quan trọng không kém. Đất nước đã được dùng để chỉ cương vực người Việt sinh sống.

Đồng bằng Bắc bộ được coi là vùng trồng lúa cổ nhất vùng Đông nam Á; có cách đây trên dưới 3.000 năm. Với nghề nông, người Việt phải đương đầu với lũ lụt. Sự tích Sơn tinh, Thủy tinh biểu lộ một khát vọng trị thủy để bảo vệ mùa màng. Sơn tinh chính là ý chí đó và đã được cụ thể hóa bằng bằng một sức mạnh siêu nhiên, đó là Tản viên sơn thánh, một vị thần tối linh và bất tử trong tín ngưỡng dân gian của người Việt.

Khi yếu tố Đất trở nên quan trọng cho nền kinh tế, thì yếu tố nước có phần mờ nhạt, nhưng vẫn là một yếu tố tiềm tàng mà người Việt không quên. Nhưng khi lãnh thổ bị xâm hại, thì những cuộc thủy chiến lẫy lừng chiến thắng vẫn được lịch sử ghi nhận : Trận Bạch Đằng với Ngô Quyền, rồi Trần hưng Đạo, trận Rạch Gầm – Soài Mút của Nguyễn Huệ và xa hơn nữa cuộc chinh phục các đảo xa như Hoàng Sa, Trường Sa, cho thấy nghề sông nước vẫn là sức mạnh của dân Việt.

Với Đất và nước; người Việt đã tạo dựng vững vàng một lãnh thổ, có cương vực rõ ràng, từ nhiều công phu xây dựng, phát triển và tranh đấu. Đất nước Việt, với thời gian, là công trình được tô điểm bằng xương máu của nhiều thế hệ. Ý thức đó đã được nói lên bằng từ TỔ QUỐC – đất nước do tổ tiên để lại, một từ linh thiêng và đượm hồn dân tộc.

Tổ quốc đã được giữ gìn trong thực tế bằng những triều đại, một thực thể hữu hình và mang tính pháp lý, từ quốc gia cho biết thực thể đó được cấu thành từ gia đình ( Quốc : nước, Gia : nhà ), một từ nói lên ảnh hưởng của triết lý Khổng Mạnh. Gia đình (một tập thể nối kết bằng dòng máu ) chứ không phải là cá nhân, là nhân tố chính xây dựng nên đất nước. Yếu tố gia đình trong quốc gia cũng đã bị thử thách nhiều phen : đầu thế kỷ 20, người ta đã muốn phá vỡ nó vì nó làm cản trở sự tiến bộ của xã hội, rồi sau 75, người ta nhẹ nhàng để cá nhân “thoát ly” khỏi gia đình để sống với “tập thể” nhưng rồi nay người ta lại khôi phục cơ chế gia đình, tuy với những hạn chế ít nhiều để cởi trói cho cá nhân.

Hai từ mang hình tượng “nhỏ nhắn” “dễ thương” và đầy chất “thi ca” mà trong nghĩa rộng để chỉ tổ quốc, quốc gia, đó là quê hương và đất mẹ.

Quê đối chọi với thành – thành là nơi đô hội, đông người sống, chủ yếu là nơi tiêu thụ. Hương là từ cổ, chỉ một tập hợp người sản xuất, lúc đầu là tự cung, tự cấp, sau mang trao đổi với thành để thêm thu nhập. Vậy Hương và Quê cùng một nghĩa. Có quê mới có thành; như 36 phố phường của Hà Nội xưa gốc là người quê cùng một nghề, tụ họp nhau ở thành để sản xuất và cung ứng cho thành. Các phường này cùng nghề, đầu tiên họ vẫn liên hệ với quê gốc, rồi dần dần tách hẳn ra để hội nhập với thành, nhưng vẫn liên hệ tinh thần với quê trong các ngày giỗ tết, hội hè. Do đó, ai cũng có một vùng quê gốc gác.

Còn đất mẹ không có nghĩa hẹp là “đất của mẹ” “quê của mẹ” mà là một từ hình tượng để chỉ mảnh đất đã nuôi lớn ta, vì con người – cho đến thời hiện đại – vẫn phải sống nhờ đất như ta sống nhờ mẹ. Đất cung cấp tất cả các nhu cầu của ta từ thức ăn hàng ngày cho đến các vật dụng thiết yếu và tân tiến nhất, vì chẳng có vật phẩm nào mà không sử dụng nguyên liệu từ lòng đất. Con người chỉ có công chế tác, chế biến chứ không tạo ra được nguyên liệu.

Hai từ quê hương và đất mẹ hiểu rộng ra chính là Tổ quốc, là đất nước, là quốc gia; tuy nghĩa không được đầy đủ, nhưng hình tượng của nó lại mang nhiều tình cảm và gợi nhớ. Các người xa tổ quốc, hay vĩnh viễn rời tổ quốc vẫn thích hai từ này khi nhớ đến tổ quốc mình.

Trong đời sống hiện tại ở Việt Nam, người ta dùng lẫn lộn các từ trên, khiến không còn một ranh giới rõ rệt và ý nghĩa đôi khi kém chính xác : Chủ tịch nước, nước CHXHCNVN, Ngân hàng NHÀ NƯỚC VIỆT NAM, Đại học quốc gia và đôi khi các từ này lại đồng nghĩa với chữ NHÂN DÂN như Quân đội nhân dân, Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân. Tuy dân chẳng tham dự gì vào các tổ chức đó.

Có thể phân biệt đôi chút giữa từ Nước và Nhà nước. Nước tương đồng với Quóc gia, còn nhà nước không có nghĩa là Quốc gia mà là một thực thể chính trị (chính quyền) điều khiển quốc gia. Có người thấy sự lẫn lộn này hơi khó hiểu nên đã giải thích một cách giản dị : cái gì có lợi thì thuộc về nhà nước, cái gì chẳng lợi, chẳng hại thì thuộc về nước, còn cái gì là gánh nặng và mang nhiều bất trắc, tai tiếng thì thuộc về nhân dân.

Chẳng hiểu thực hư ra sao và cũng chẳng phí thời gian để tìm hiểu sâu xa vấn đề, nên nếu có thắc mắc và không đồng ý về cách giải thích “hàm hồ” trên xin cứ hỏi những người đang lèo lái con thuyền Quốc gia.

Tháng 11/2017


Những Vấn Nạn Trong Lịch Sử Việt Nam

Thầy Phạm Văn An


2. Tài liệu nước ngoài

Bài 1 cho thấy tài liệu trong nước rất ít và hạn chế về nhận xét, nên các sử gia sau này ( từ TK 16 đến đầu TK 20) thường phải dùng thêm các tài liệu do người ngoại quốc viết.

Trước thời điểm này, tài liệu nước ngoài chỉ có một nguồn duy nhất là các sử gia Trung Quốc mà người Trung Quốc viết về VN thường mang ý thức “đại quốc” khinh thường VN là nước nhỏ, man rợ (Nam di - Bắc dịch). Họ viết về VN với một não trạng kỳ thị và một ý đồ xâm lấn : nổi bật nhất có sử ký của Tư mã Thiên, Hoài nam Tử, Tây vực Ký… Các sứ thần VN dùng tài liệu Trung Quốc với sự cảnh giác, nghi ngờ.

Từ TK 16 trở đi, Việt Nam tiếp xúc với các nước Tây phương qua 2 con đường : buôn bán và truyền giáo. Về buôn bán, ở đàng ngoài ( Miền Chúa Trịnh : Bắc) tập trung ở phố Hiến (Hưng Yên) và đàng trong ( các Chúa Nguyễn) có Hội An. Chính quyền VN tập trung họ lại hai nơi này, hạn chế đi lại. Dù sao họ cũng đã được tiếp xúc với dân bản địa với một nền văn hóa khác lạ, nên vì tò mò, họ viết như viết nhật ký để ghi lại đời sống, sinh hoạt của địa phương họ đến. Họ cũng được tiếp xúc với quan lại qua việc mua bán và đóng thuế nên một phần sinh hoạt chính trị của vua quan VN cũng được họ ghi nhận.

- Về việc truyền giáo, các nhà truyền giáo tây phương đến VN từ TK 15, sang TK 16 thì đã có hẳn các phái đoàn thường trực, lúc đầu họ không bị cấm đoán nhưng sau vì đạo công giáo có nhiều điều trái ngược với quan niệm Khổng giáo, nên họ bị cấm đoán, tuy vậy họ vẫn lén lút ra vào, không kiểm soát được. Người ngoại quốc này phần lớn là : Trung Quốc, Nhật (thương mại), Bồ đào Nha, Hòa Lan, sau thêm Anh, Pháp (truyền giáo). Các nhà truyền giáo đa phần có học thức rộng, nên bên cạnh việc truyền giáo, họ còn ghi lại sinh hoạt xã hội văn hóa, kinh tế nơi họ đến. Tài liệu của họ phong phú, tính chính xác cao, trừ mảng về vua quan thì nhận xét có phần thiên vị : cho truyền giáo thì nói tốt, cấm thì nói xấu.

Vài ba tài liệu ở thời kỳ này có người đã tin dùng nhưng cần xét lại tính chính xác :

- Về việc quân Tây Sơn cướp phá Hội An mà tài liệu Nhật nào đó nói đến, cũng có thể đúng một phần, vì khi đó (TK18) đàng trong rất loạn lạc, các cuộc nổi dậy khắp nơi vì nạn quần thần Trương phúc Loan chuyên quyền. Không ngoại trừ đám giặc này có mặt, vả lại, TK 16 thì Hội An đã mất địa vị cửa biển độc tôn, vì cửa sông Trà Khúc bị bồi lấp. Đà nẵng (cảng Sơn Trà) đã chiếm phần. Thuyền to ra vào thuận tiện, nên, nếu có thuyền Nhật nào đó bị cướp phá thì chỉ là thuyền nhỏ, tới buôn bán lặt vặt.

- Còn việc thành Đông Kinh (Đông Đô – Thăng Long) bị đốt, tác phẩm đương thời là Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia Văn phái cho biết là do dân, nhân dịp này, trả thù các Chúa Trịnh, đã đốt, cháy đến 7 ngày. Vả lại vào đến Đông kinh, Quang Trung đã hạ nghiêm quân luật, răn đe quân sĩ, nên nếu có đám quân Quang Trung nào “xé rào” trộm cướp thì cũng chỉ là thiểu số.

Nhân vật Quang Trung sang bệ kiến vua Càn Long là Quang Trung giả, vì quần thần bàn bạc với Nguyễn Huệ e sợ Càn Long làm “càn”, bắt Quang Trung trả thù cho sự bại trận. Nhưng người đóng thay cho Quang Trung là cháu gọi bằng cậu : Nguyễn quang Trị, có tướng mạo hơi giống Nguyễn Huệ ( theo HLNTC) còn nói đó là con rể nhà vua thì rõ ràng là sai, Quang Trung chết mới 35 tuổi – dù con của bà vợ trước cũng chưa đủ lớn, Quang Toản lên nối ngôi mới được 5 tuổi.

- Rồi một Ông Pháp nào đó ngạc nhiên khi nói VN thắng quân Mông Cổ. Ông có thể đúng trong suy luận vì Nguyên Mông dày xéo cả Á , Âu, “cỏ không mọc nổi, chó không dám kêu” như sử tây phương đã ghi, nhưng thực tế thì VN thắng thật. Không những thắng một lần mà thắng đến 3 trận vào thời nhà Trần. đa số các trận thắng của người Việt nam với quân thù đều do “mưu cao, chí sâu” để bù đắp cho vị thế nhỏ bé của mình và quân xâm lược thua chỉ vì khinh thường đối phương, Quang Trung thì dùng chiến thuật thần tốc và kế nghi binh, Quân Trần thì dụ địch và du kích chiến, cũng phải nói nhà Trần nhiều tướng tài và các vua nhà Trần được lòng dân (Hội nghị Bình Than, Hội nghị Diên Hồng ) và quân Nguyên gặp nhiều bất lợi : kỵ binh của họ chỉ dùng được nơi thảo nguyên, còn sang VN (miền Bắc) đầm lầy không tác dụng, lại bị khí hậu nhiệt đới gió mùa khiến quân sĩ ốm đau nhiều, lương thảo đã bị đánh chìm hầu hết, dân Việt không cộng tác với chiến thuật “vườn không, nhà trống”.

Với những bất lợi như vậy, “đại binh” thành “bại binh” là điều chắc chắn.

- Còn việc Trần nhân Tông đi tu vì hối hận việc giết quân Nguyên? Phân tích sẽ thấy vị vua này suy nghĩ rất sâu sắc :

Người ta bảo ông dùng Yên Trí (trong dãy Đông Triều) đắc địa để trông ngó phía biển, phòng khi quân Nguyên trở lại, lại là chốn thắng cảnh để tu hành.

Truyền thống “vua đi tu” đã có thừ thời Lý, Ông chỉ theo truyền thống đó và làm mới Phật giáo Việt Nam. Ông gom các trường phái tu thiền sẵn có khi ấy, kết hợp với tư tưởng nhập thế của Khổng Mạnh thành phái Thiền mới : Thiền Trúc Lâm mà ông là người đứng đầu. Phái thiền này phát triển mạnh, lan sang cả Chiêm Thành. Ông được tôn làm giáo chủ với danh hiệu là :Trúc Lâm đại đầu đà”. Nếu chỉ vì hối hận và chán đời. ông chỉ cần gõ mõ, tụng kinh sám hối như người khác đã làm.

- Sự giằng co giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh mà cuối cùng Nguyễn Ánh vùng dậy thành công là do Nguyễn Lữ ( Đông đình vương) thiếu mưu đồ, thiếu tài cán, không thi hành được nhiệm vụ mà anh giao lại, sau khi Nguyễn Huệ đại thắng quân Xiêm ở Xoài Mút (quân Xiêm sang tiếp viện cho Nguyễn Ánh) Nguyễn Huệ bận việc ngoài Bắc, lại cũng vì Nguyễn Nhạc nghi ngại Nguyễn Huệ chiếm quyền. Sự chia rẽ của nhà Tây Sơn là nguyên nhân chính khiến Tây Sơn suy yếu ở miền Nam. Chẳng thấy tài liệu nào ghi việc dân miền Nam ghét Tây Sơn; còn việc Nguyễn Ánh luôn luôn được dân miền Nam che chở, giúp đỡ vì họ vẫn nhớ ơn các Chúa Nguyễn đã đưa cha ông họ vào Nam khai phá, lập nghiệp và nhiều dòng họ ở đây đã có con, cháu là tướng tài giúp các chúa Nguyễn chinh phục mảnh đất này và chinh phục luôn cả Cao Miên.

Việc dùng tài liệu lịch sử VN gốc từ bên ngoài trước đây là một căn “bệnh” của các trí thức VN có tây học. Trước hết họ không có Hán học để tìm hiểu tài liệu trong nước, sau là vì ảnh hưởng của lối học phương tây và thêm có tật thích “của nước ngoài” như ta nay thích hàng ngoại, hàng xách tay. Nên biết là các học giả nước ngoài chỉ đúng khi nói về văn hóa, lịch sử VN, nếu họ sống tại VN lâu dài, biết rõ văn hóa VN, còn nếu họ chỉ dựa vào tài liệu này, tài liệu khác rồi suy đoán theo tư duy Tây phương, thì họ nắm chắc cái sai.

Ngẫm nghĩ mà phục cho các học giả Pháp

- Nhất là học giả của trường Viễn Đông Bác Cổ, họ không bị ảnh hưởng thực dân của giới cầm quyền, mà có tư duy khoa học, tư duy độc lập khi nghiên cứu về Sử và Văn hóa Việt Nam. Những người như Colannie, Maspero, đã để lại những nghiên cứu rất quí giá mà người VN cho tới nay cũng phải dùng.
Tháng 3/2017

Về đầu trang


Những Vấn Nạn Trong Lịch Sử Việt Nam-3

Thầy Phạm Văn An


3. SUY ĐOÁN LỊCH SỬ

Suy đoán hay suy luận là phương pháp mở rộng kiến thức. Nói một hiểu mười là bộ óc thông minh, suy luận tốt. Luân lý học đã tìm ra nhiều cách suy đoán và cảnh báo các cách suy đoán sai (xem lại luận lý học lớp 12 chương trình miền Nam trước 1975).

Trong lịch sử, khi thiếu tài liệu để tìm hiểu một sự kiện lịch sử, người ta thường suy đoán. Nhưng phương pháp sử học ít dùng cách suy đoán vì một sự kiện lịch sử là con đẻ của một thời kỳ, thời kỳ đó có thể có những cách suy nghĩ khác bây giờ, lấy hiện tại để hiểu quá khứ là cách võ đoán. Xưa không có khái niệm tự do, nên phê các triều đại là độc quyền, chuyên chế là một sự áp đặt, không hiểu lịch sử. Trong sử học, một sự kiện chưa rõ thì nên để “tồn nghi”. Sau này tìm ra tài liệu sẽ giải thích.

Chẳng hạn trống đồng Đông Sơn, một thời gian dài, người ta không biết là do địa phương làm ra hay từ nơi khác mang đến, vì cả miền Hoa Nam đến tận các đảo miền Indonesia cũng có trống đồng. Mãi đến gần đây, khi một nhà khảo cổ học Nhật Bản tìm ra một mẫu di vật của khuôn trống đồng, ở tại Cổ Loa ( Hà Nội ), người ta mới xác quyết là Trống đồng ở VN là do dân Việt cổ làm ra.

Nếu bảo Hai bà Trưng không phải là người Việt cổ, vì ở miền Hoa Nam cũng có những nơi thờ Hai bà Trưng thì ở Hà Nội và vùng lân cận cũng có đền thờ Hai bà, mà theo truyền thuyết thì nơi đó, Hai bà đã nổi dậy, dựng đô và tuẫn tiết.

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

(Đại Nam quốc sử diễn ca thời nhà Nguyễn)

Vậy ta “tồn nghi” và tạm công nhận như truyền thuyết.

Lại nói thời Hai bà còn chế độ mẫu hệ vì Hai bà làm vua và đa số tướng lĩnh đều là nữ nhi. Có thể suy luận này đúng, nhưng nên hiểu là toàn nhân loại đã chuyển sang chế độ phụ hệ từ sau thời đồ đá, nên nếu thời Hai bà, còn chế độ mẫu hệ thì cũng chỉ là “tàn dư” hay “hình thức”, cũng như các dân tộc Tây nguyên hiện tại, gọi là theo “mẫu hệ” nhưng thực quyền đã chuyển sang người đàn ông.

Cũng như thấy trong quân lực Tây Sơn có nữ tướng Bùi thị Xuân, mà cho rằng lúc đó còn chế độ mẫu hệ thì rõ ràng là sai. Vì chế độ phong kiến (nam quyền) đã được công nhận từ nhà Đinh (TK 10 – 11). Quang Trung có một bà vợ lẽ người Ba Na, thường gọi là cô hầu. Sự kiện này cho thấy ở VN nói chung và Bình Định (Qui Nhơn) chế độ phụ quyền đã thắng thế chế độ mẫu quyền. (Vì người Ba na cho tới nay vẫn theo mẫu hệ ).

Trường hợp nữ tướng Bùi thị Xuân, nên giải thích vì vùng này là đất võ, nam nữ đều học võ từ nhỏ, nên đã có Bùi thị Xuân là tướng. Câu ca dao địa phương nói hộ chúng ta :

Ai về Bình Định mà coi

Con gái Bình Định múa roi, đi quyền.

Còn giai thoại Trần quốc Toản với quả cam, bị nghi là bịa đặt; nhưng sử có ghi rõ đạo quân của chàng trai trẻ này với lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng Ân” còn quả cam ta nên hiểu rõ là miền Bắc, cứ quả lớn gọi là cam, quả nhỏ gọi là quít, cam vỏ dày gọi là cam sành, còn vỏ mỏng cũng gọi là cam. Với quả cam vỏ mỏng thì đứa trẻ 14, 15 tuổi lại đã học võ, thì bóp nát là chuyện dễ.

Lại suy đoán là miền Bắc không có cam là sai. Từ rất lâu cam miền Bắc đã nổi tiếng như cam Bố Hạ, cam Canh (cam Canh, bưởi Diễn).

Cũng như bài I đã giải thích, đọc sử còn phải tìm ra ý nghĩa của sự kiện, nên dù Trần quốc Toản không thể bóp nát quả cam, thì sự “thêu dệt” đó, nếu có, lại biểu lộ một ý chí cương quyết cho lớp trẻ lúc đó trước họa ngoại xâm.

Kỹ thuật và nghệ thuật đọc lịch sử không phải là cách đọc một cuốn tiểu thuyết, vì tiểu thuyết dựa trên hư cấu (tưởng tượng) nhiều hơn là thực tế, nên ta có thể suy đoán nọ, kia. Đọc lịch sử thì phải đặt mình vào thời gian, không gian, để hiểu, cho nên chưa hiểu rõ lịch sử thì không hiểu được “chân lý” lịch sử.

Cũng đừng lầm lịch sử chính thống với tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết lịch sử chỉ dựa vào “cái cốt” “sự kiện chính của lịch sử”, rồi thêm thắt vào cho mượt mà, hấp dẫn như trong tiểu thuyết. Chân lý lịch sử ở đây rất ít. Do đó nếu dùng tiểu thuyết lịch sử để hiểu sử là điều trái ngược và sai lầm sẽ là vô số. Tiểu thuyết lịch sử như “Đêm hội Long Trì” hay “Lá cờ thêu 6 chữ vàng” chỉ là phác họa lịch sử.

Lịch sử đã không biết nói, chớ nên nói thay lịch sử, lịch sử không tự cải chính được, nên nếu sai lầm lịch sử kéo dài thì méo mó của lịch sử sẽ làm tiêu tan hồn cốt của một dân tộc.

Tháng 4/2017

Về đầu trang


Níu Lại Mùa Xuân

Thầy Phạm Văn An


- Ông Tám về hưu đã được vài năm. Ông vẫn ấm ức về việc “về vườn” của ông, nhân viên của ông cũng tiếc nuối một thủ trưởng đa năng, đa tài. Sao không tiếc ! Một người “thông kim, bác cổ” như ông lại hoạt bát, bạch thiệp ít thấy. Trong phòng ông , cấp dưới có anh chỉ ngoài 50 chút ít đã lú lẫn, nói trước quên sau, có anh tóc còn đen nhánh, mà đã như ông cụ non : Lẩn thẫn vào ra, uể oải muôn phần. Trong phòng hễ gặp điều gì khó, hỏi ông là ông giải quyết cái rụp, như trở bàn tay. Ai cũng nể phục một người tài ba như ông; thế mà ông bị “cho về vườn” còn tụi làng nhàng thì lại coi là “còn năng lực phục vụ”.

- Nhìn mái tóc muối tiêu, mà muối nhiều hơn tiêu, kết hợp với bộ ria mép một màu bac trắng, thì người ta bảo ông già, nhưng nhìn lại khuôn mặt, tuy có vài nếp nhăn, lại còn hồng hào, đầy sinh lực, thì phải nghĩ khác lại : Người còn phong độ, chẳng khác gì trai bị bệnh tóc trắng mà thôi.

- Từ khi về hưu, ông xoay xở đủ đường mà con cái không chịu cho ông làm gì. Chúng cứ một mực :”Bố già rồi, dưỡng sức, an nhàn cho khỏe”, các món bóng bàn, tennis, không hợp với ông, múa may quay cuồng sao ấy ! Chơi non bộ thì ông cũng đã chơi, nhưng chăm chút từng cái rễ, chiếc lá, ông không đủ kiên nhẫn, ông còn sức để hoạt động mà. Ngồi cũng chán, bạn già có vài ông thỉnh thoảng đến chơi, nhưng cũng không hợp gu lắm. Ông bèn lãnh trách nhiệm đón đưa đứa cháu đích tôn đi học. Thằng bé cũng thích được ông dắt đi, rồi được ông cho ăn quà này, rồi khỏi sợ bị bắt nạt.

Hai Ông cháu tỏ ra tâm đắc. Một hôm thằng cháu tỉ tê với ông :”Ông già rồi, mai mốt chết đi, ai đưa đón cháu ?”. Đầu tiên ông không trả lời cháu, mà chỉ “ừ hừm” cho qua chuyện, nhưng lâu lâu, nó lại nhắc lại câu hỏi với dáng vẻ ưu tư. Khiến ông suy nghĩ. Thương cháu, muốn cho cháu yên lòng, nhưng làm cách nào ?”Chà, đến thằng cháu cưng cũng chê ông nó già”, thôi được ta sẽ có cách.

- Một buổi sáng ông thong thả bước vào phòng hớt tóc quen thuộc; anh thợ cười hỏi ông : “à,chú mới hớt tóc tuần trước mà…” nghe đáng ghét, thằng này cũng chê ông già nên lẩn thẫn “Ông lẩm bẩm rồi dõng dạc phán : “Cạo nhẵn cho tao bộ ria !” Anh thợ ngạc nhiên góp ý : “Uổng quá chú ơi! Để đẹp mà !...” Ông nghiêm mặt lên tiếng : “bảo cạo là cạo ! Tao không nói đùa”Anh thợ răm rắp tuân theo. Loáng mép ông sạch bách, Ông ra về hí hửng : Nào còn chê Ông già nữa không ?

- Trong bữa cơm con dâu của ông than : Bộ ria của bố đẹp quá, ai cũng khen bố đẹp lão nhờ bộ ria….Ông im lặng, chẳng một lời. Thằng cháu lại góp ý : Nhìn mái tóc của nội, ai cũng biết là nội già, me nói chi lạ. Ông thở dài, vội ăn cho xong bữa rồi vào nằm. Cứ trằn trọc mãi, ông thấy không ổn, “làm sao đây” ông tự hỏi.

- Sáng hôm sau ông lên chợ, vào các tiệm hớt tóc hỏi mua thuốc nhuộm tóc. Mấy thằng thợ cứ tủm tỉm cười, thấy ghét, ông ghé qua chợ, tìm nơi hàng tạp hóa, chọn một chủ hàng sồn sồn, hỏi mua và ông mua được dễ dàng.

- Trên đường về, ông vui vẻ hẳn lên và thầm nghĩ :’lần này, chúng bay hết chê già !”

- Buổi trưa ông cáo cơm vì mệt; nhưng thực tình ông muốn nhuộm kỹ mái tóc cho ưng ý. Loay hoay mãi rồi soi gương : Hình ảnh một chàng trung niên hiện ra, phù hợp với sự mong muốn của ông.

- Buổi chiều, đúng giờ ăn, ông ngồi bàn trước, chẳng cần ai mời gọi. Con trai đi làm về, chưng hửng nhìn ông rồi xuống bếp to nhỏ gì đó với vợ. Hai vợ chồng khúc khích cười. Trong bữa đứa cháu ngơ ngác nhìn nội, không dám lên tiếng; cô con dâu khen :”Bố trẻ ra, trẻ hơn nhà con lận…” Anh con trai vẻ đăm chiêu lên tiếng : Bố nhuộm tóc thành ra bố trẻ hơn con, tóc con đã có vài sợi bạc, nếu nhân viên con tới nhà, làm sao phân biệt được bố và con ! Ông thản nhiên, không trả lời, thủng thẳng vào phỏng.

- Cũng như mọi hôm, Ông đi đón cháu, thấy cháu ra khỏi cổng, ông vẫy tay nhưng thằng nhỏ không nhận ra, tụi bạn nó nhắc : “Ê, kìa, ai vẫy mày kìa” đứa khác lại nhắc : “hình như nội mày ấy” đứa kia cãi : “Chắc chú nó đó, bố nó tao biết, nhưng đã có tóc bạc rồi cơ” nghe tụi nhỏ tiếng ra tiếng vào, thằng bé vội trốn thẳng về nhà. Chiều ăn cơm, nó nói với ông : “Ông không còn là nội con nữa, tụi bạn nói làm con thấy…thế nào ấy… từ nay, con không cần ông đưa đón nữa”.

- Ngày tết đến, cháu con đi chơi tết một nơi xa, để ông ở lại với lời dặn : “Mọi thứ đã sẵn sàng trong tủ lạnh, ông rủ mọi người tới vui xuân tự nhiên.” Tụi con tới mồng bốn mới về.

- Trên đường đi, vợ chồng người con tủm tỉm cười : “Xuân này chắc bố vui lắm … Bà nào mà gặp bố cũng tốt… Ông cụ còn sung sức mà !”

- Về đến nhà, vợ chồng và con vào chào ông, thấy ông đang ngủ, xem xét mọi thứ , còn in nguyên. Họ chẳng hiểu sao ra sao… Tháng 1/2017 Thầy Phạm văn An

Về đầu trang


Nước Của Sự Sống

Thầy Phạm Văn An




PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
NƯỚC CỦA SỰ SỐNG (EAU DE VIE)

Bảng hiệu đề : Quán giải khát EAU DE VIE, tôi thấy lạ, bèn vào. Tiếp viên đem ra một ly nước lọc ( nước của sự sống? ) và tờ menu, tôi xem mãi không thấy món Eau de vie, bèn liền gọi :

- Cho tôi một ly Eau de vie !

Cô tiếp viên ngơ ngác , rồi nói :
- Quán cháu có từng ấy loại nước giải khát, chú chọn đi ạ ! Thầm nghĩ : chẳng lẽ nước nào cũng là Eau de vie , nước nào cũng là “nước của sự sống?” Không dám hỏi lại – sợ quê – bèn bảo : Chị cho tôi một ly, loại nào cũng được !
- Một lát sau cô tiếp viên đem cho tôi một ly nước chanh (là nước của sự sống?).
- Ngồi bên ly nước, tôi thầm trách tôi “ngu” và hình như phải hiểu, trong tờ menu đó, nước nào cũng là “nước của sự sống!”.
- Về nhà cứ bâng khuâng mãi, bỗng ngộ ra : “Đúng vậy, nước nào cũng là nước của sự sống!”.
-Này nhé ! người ta có thể nhịn ăn đến vài ngày, thậm chí cả tháng ! nhưng nhịn uống chỉ đếm được bằng phút. Không có nước, thì sự chuyển hóa ion trong máu ngưng lại, thần kinh rối loạn rồi ta “tiêu tán đường”. Người ta tuyệt thực (nhịn ăn) chứ đâu dám tuyệt ẩm (nhịn uống).
Nước là sự sống, mà nước là nguồn hạnh phúc. Nhớ xưa ông tôi sáng dậy, pha ấm trà rồi ngồi độc ẩm đến gần trưa, đôi khi bỏ cả buổi ăn sáng. Hỏi ông, ông trả lời : “không uống không chịu được, uống vào nó tỉnh người ra”. Đôi khi cụ rủ vài bạn già đến nhà, pha nước nhâm nhi, im lặng nhìn trời nhìn đất như tìm một chân lý gì trong vũ trụ, rồi lẳng lặng chia tay nhau, ai về nhà nấy chẳng một lời tạ từ : nước trà đã cho người già những giây phút suy tư về cuộc đời, về tình người, mà tìm được sự “tự tại” trong trời đất.
- Lại nhớ tói “Chí Phèo” suốt ngày kè kè bên người một chai rượu, đi khắp xóm trên, ngõ dưới, vung tê mọi thứ, mà có ai dám “đụng” đến “hắn” đâu ? Phút bay bổng của Chí Phèo cho hắn được làm “Thượng đế giáng trần” để bàn dân thiên hạ né sợ. Sướng biết bao anh Chí Phèo của “Thị Nở”.
- Rồi gần đây – cũng đã chục năm- phong trào bia bọt nở rộ, có người uống cả thùng bia mà chưa thấy đã– Tiền phạt người say càng tăng thì người uống càng nhiều, vì phạt chỉ là “hao tiền”, chứ thế giới “Lưu linh – Đế thích” quyến rũ lắm, ai mà bỏ được, mà dại gì bỏ cái hạnh phúc – niềm vui trời cho. Tản Đà đã nói :
Đất say, đất cũng lăn quay,
Trời say, mặt cũng đỏ gay, ai cười ?
Mỗi năm các nhà máy bia ở VN cho ra lò cả 2 tỷ lít bia, thế mà bia lậu, bia nhập ngoại vẫn cứ tràn vào vô kể; tiêu thụ như vậy thì hạnh phúc của người Việt Nam tăng theo cấp số nhân !
Có nhiều quán nhậu còn tạo điều kiện cho “dân phê” an tâm uống : say thì gửi xe lại, muốn về thì quán gọi taxi và có người hộ vệ tới tận nhà, sợ gì chết, mà có chết trong lúc đang say, hạnh phúc tràn trề chắc sẽ thấy được thiên đàng sớm hơn.
- Bọn trẻ - kẻ mà túi luôn lép – lại thích loại “nước của sự sống” ở các quán “trà chanh chém gió” chỉ với 5 ngàn đồng một ly, ngồi bao lâu cũng được, các cô cậu học sinh thoả sức “hội thảo”. Đây là giây phút hạnh phúc thực sự của tuổi mới lớn, để quên đi cái “địa ngục của sự học” “học ngày chưa đủ, tối rủ học thêm” học tối đêm, sáng ngày mà “dốt vẫn hoàn dốt”.
Trở lại đích thực của Dụ ngôn “nước của sự sống” trong thánh kinh, thấy có sự tích sau :
Khi xin người đàn bà Samari ngụm nước giếng Yacob Chúa nói : Khi uống nước này (nước giếng Yacob) sẽ còn khát nữa nhưng kẻ nào, một lần uống nước ta ban, sẽ nên mới nơi mình… Chính bà sẽ khấn xin và người ấy (Chúa) sẽ cho bà NƯỚC HẰNG SỐNG (6a-11. 5-26)
Nước của Chúa là NƯỚC HẰNG SỐNG (Eau de vie), nước của thế gian, uống thì khát vì dục vọng, ham muốn của con người được thì sẽ muốn thêm, không bao giờ ham muốn ngừng lại.
Nước của Thiên chúa là lời Chúa thánh thiện, con người làm điều thiện (sự yêu thương) khi tình thương lan tỏa đến mọi người, thì cuộc sống ý nghĩa mới hiện ra : Ta vì người, người vì Ta. Nguồn suối hạnh phúc là đây.

Tháng 3/2016

Về đầu trang


Ông Đồ Xưa Và Nay

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
ÔNG ĐỒ XƯA VÀ NAY

- Ở thế kỷ 21 này, rất khó gặp và hầu như không thể gặp được hình dáng ông Đồ xưa. Các vị dạy Hán văn ở Đại học dạy và giảng vẫn là văn hóa Khổng Mạnh, nhưng mang dáng dấp mới : dạy cho người học hiểu chứ không để thực hành, hoặc thực hành hay không, không phải chuyện của thầy.

- Họa chăng, trong những ngày giáp tết, ta cũng gặp lại hình ảnh Ông đồ xưa, ở phố “Ông Đồ” bên Quốc tử giám Hà Nội, hình ảnh được mô tả trong 2 câu thơ quen thuộc : Bày mực tàu giấy đỏ,

Bên phố đông người qua.

Họ ra đây, trong vài ngày tết để viết câu đối, cho chữ những người dừng lại, hoặc vì tò mò, hoặc muốn lưu giữ hồn tết xưa, thỉnh đôi câu đối hoặc một vài chữ đại tự về treo trong 3 ngày tết. Hiếm hoi mới có người thấy được ý nghĩa của tục lệ này.

- Ông đồ có 2 dạng :

+ Dạng người lận đận trong trường thi cử, thi mãi chỉ được cái tú tài ở kỳ thi địa phương (thi Hương) lần sau rớt thì vẫn là tú tài (tú kép, lần trước là tú đơn) nếu lần sau lại cũng rớt thì thành tú đụp. Có người chỉ đỗ được tam trường(tới tứ trường thì mới được gọi là tú tài) , họ được gọi là anh Khóa (khóa sinh).

Tú Xương than thở : Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui, bốn năm một khoa, vị chi Tú Xương giành ra 24 năm mà vẫn chỉ là tú tài.

Các ông Tú, ông Khóa khi thi rớt, cũng ngại trở về với nghề nông, vì đã quên nghề, vả lại cũng biết đôi chút chữ thánh hiền nên quy tụ lại bọn trẻ trong làng để dạy vỡ lòng sách Tam tự kinh; đôi khi họ được một nhà giàu nào đó gọi về dạy riêng cho con cháu trong dòng tộc, lương bổng thì không chừng , dạy ở làng thì tùy hỷ : người gánh thóc, kẻ gánh ngô, để thầy độ nhật. Tiền mặt thì hiếm khi, vì nhà nông, tiền nong đâu có dư, nếu dạy ở nhà giàu thì được cơm rượu 3 bữa khỏi lo, ngày tư, tết cũng được vài quan tiền để về thăm nhà. Chính lớp ông đồ này là “ông đồ trong ngày tết” và đôi khi dân cần viết giúp lá đơn. Đây là dịp kiếm thêm.

+ Lớp ông đồ cao cấp là những vị quan về hưu, hoặc những người có học, thi đỗ, nhưng không chịu ra làm quan như Chu văn An, Nguyễn bỉnh Khiêm : lớp học của họ thường đông vì uy tín và tài cán của họ. Họ theo truyền thống : “Tiến vi quan, thoái vi sư” (thành đạt thì là quan, rút khỏi quan trường thì làm thầy).

Dù ông đồ thuộc loại nào thì vẫn được xã hội coi trọng vì họ đại diện cho kiến thức và đạo đức xã hội.

Tục ngữ nói : “Không thầy đố mày làm nên”

Và khẩu hiệu sáng chói : "Quân, sư, phụ".

Nói lên tính quan trọng của người thầy, vì cha mẹ chỉ cho ta thân xác, chính thầy cho ta giá trị làm người.

Thầy trên cha, nên khi thầy còn sống thì chăm lo cho thầy : sửa sang nhà cửa, trợ giúp lương thực, thuốc men khi thầy ốm đau; tết nhất thì phải thịnh soạn tết thầy, và khi thầy chết phải để tang 3 năm như để tang cha mẹ.

Khi đỗ đạt, lúc “vinh qui, bái tổ” phải tới thăm và tạ ơn thầy trước, phải xuống ngựa từ xa, đi bộ vào chào thầy. Thầy vẫn chễm chệ trên sập gụ, chờ học trò cũ, nay đã là đường quan của triều đình, tới bàn thờ gia tiên, thắp hương vái lạy, cám ơn tổ tiên của thầy, rồi mới ra lạy thầy 3 vái, cuối cùng, thầy ban lời dạy dỗ, mới được cáo lui.

Đạo đức của ông thầy là điều tối quan trọng, nhưng với những ông đồ, anh khóa cấp dưới, sống trong dân, nên đôi lúc vẫn xuềnh xoàng, xí xóa, vi phạm…chẳng thế, mà Hồ xuân Hương đã có câu thơ :

Anh đồ tỉnh ? Anh đồ say ?

Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Này, này, chị bảo cho mà biết,

Chốn ấy. hang hùm, chớ mó may.

Hồ xuân Hương bạo dạn, mới dám nói lên sự việc. Bình thường, vì sự tôn trọng thầy, nên, nếu có chẳng ai dám lên tiếng. Chẳng có câu tục ngữ, ca dao nào nói về cái “hư” của ông Đồ, anh Khóa là vậy.

- Cuối thế kỷ 19, nền nho học bị bãi bỏ, ông Đồ lui vĩnh viễn vào lịch sử. Khi ngọn bút sắt thay ngọn bút lông, một lớp ông Đồ mới ra đời, ta gọi là các thầy giáo. Vì tư tưởng tự do đã xâm nhập vào xã hội, người ta bớt khắt khe với thầy giáo, cởi mở hơn với ông đồ mới. Ít xét nét, ít nhòm ngó, ít “to nhỏ” về đạo đức của thầy, mà chỉ chú ý đến học lực, tài ba của thầy và vẫn tôn trọng thầy, vì xã hội vẫn trọng chữ, nhất là chữ Pháp. Vì các trường do người Pháp mới lập, chú trọng đến chữ này trong việc đào tạo các công chức cho nhà nước bảo hộ.

- Trước 1975, trong các trường, câu “tiên học lễ, hậu học văn” không phải là khẩu hiệu suông, mà nó là thực chất của các trường có uy tín. Kỷ luật nghiêm minh, với thầy giỏi là tiêu chí của một trường, một sự gắn kết chặt chẽ giữa đạo đức và văn hóa. Thầy ra thầy, trò ra trò. Việc đánh roi vẫn được áp dụng như một sự răn đe hữu hiệu; thầy dùng roi không để trừng phạt, mà là sự nhắc nhở, trò biết điều đó nên “ăn” roi, mà không oán trách thầy. Hiện tượng trò đánh thầy, học sinh đánh nhau rất ít, nếu không nói là không xảy ra.

- Sau biến cố 1975, những học sinh trước đó, có dịp thể hiện tình thầy trò rõ rệt một lần nữa : thầy trò cùng đi làm tập thể, trò giành quyền cuốc nốt phần đất định mức của thầy, mà sức thầy không cáng đáng nổi. Thầy tới mậu dịch quốc doanh, chìa tem phiếu ra mua hàng, nếu gặp mậu dịch viên là học trò cũ, thì nhất định thầy được hưởng nhiều ưu đãi. Việc sau 53 năm xa cách, học sinh vẫn cố gắng đi tìm thầy, dù chỉ nghe phong thanh, không phải là điều đáng ngạc nhiên. Các ví dụ như trên, kể không hết.

- Một hôm, từ Dalat về Bảo Lộc, tôi có gói quà, trên có mảnh giấy đề : Thầy A. Một cô độ 15 -17 tuổi, là học sinh thời nay, thời @, tò mò hỏi : thuốc gì đó ạ? (cô tưởng tôi là thầy lang) Tôi trả lời : Không, đó là quà học sinh cũ cho. Cô cười, nói : À ra, thầy là thầy giáo. Tới một chỗ xe ngừng nghỉ, cô mời tôi xuống uống nước. Tôi cám ơn. Khi trở lại xe, cô đem chai nước và một gói bánh đưa tôi : thầy dùng tạm, đường còn xa. Tới Bảo Lộc cô xuống trước và chào tôi : Xin phép thầy, em xuống trước, nhà em đây.

Một học sinh thời đại mới, hiếm hoi coi giữ được nếp xưa.

- Một lần, tới nhà người con, thấy mẹ cháu đang gói quà, buột miệng, tôi hỏi . Mẹ cháu trả lời : học người ta, phải biết điều chứ bố. Đứa con học lớp 6, nguýt mẹ, lên tiếng : tội gì phải cho, mẹ ! học thì đóng tiền, con đâu muốn học thêm.

- Khi TP.HCM cấm dạy thêm, trên TV đài VTV1, một cô giáo phàn nàn : tôi có bằng thạc sỹ, mà lương tháng chỉ hơn 5 triệu. Không cho dạy thêm, thì sống sao được ?

- Nghề dạy nay là nghề kiếm sống cũng như các nghề khác vậy. Ngày xưa, chẳng ai theo nghề giáo mà mong làm giàu. -

Nay có ngày nhà giáo Việt Nam để tôn vinh các thầy , các cô. Trước kia, chẳng có ngày nào dành cho nhà giáo nhưng ngày nào bất kể mà trò gặp thầy cũng là ngày nhà giáo , vì sự kính trọng luôn thể hiện khi thầy trò gặp gỡ.

Tiếc thay thời vang bóng của các ông Đồ, và cũng sung sướng thay khi được là ông thầy thuở trước, dù nay vẫn được gọi là thầy giáo, nhưng là giáo rách.

Tháng 11/ 2017

Về đầu trang


Ông Giáo Rách

Thầy Phạm Văn An



PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
ÔNG GIÁO RÁCH

Anh cũng hỏi tôi (1) “Thầy làm gì?” Có trồng trọt, nuôi cấy gì không ? Tôi đã trả lời anh : Chẳng làm gì cả, sống nhờ vợ con, nghề giáo chẳng làm được cái gì ngoài việc dạy học. Chắc anh không tin.

Phân tích để anh rõ nhé :

Người thầy chúng tôi lấy cái lễ, cái đức làm đầu – nói nôm na là phải sống tốt, hợp với đạo lý xã hội. Nếu không được thế thì bị học trò khinh và xã hội không kính trọng. Điều này thâm nhập vào tim não như câu kinh nhật tụng, lâu dần thành một nếp sống. Xã hội quay cuồng, đạo đức xuống dốc, vật chất đang được đề cao, thành ra mình lạc lõng.

Một ví dụ nhỏ : Từ 40 năm nay, khi được mời dự một đám tiệc cưới xin, liên hoan, tôi cố ngồi vào một góc khuất để ăn uống được tự nhiên hơn, nhưng luôn luôn được chủ nhân ra “mời thầy lên bàn trên” (bàn của các ông tai to, mặt lớn). Có khi tưởng thoát được, thì một ông từ đâu đến :’Mời thầy cụng ly” thế là cả bàn – trước kia không biết mình là ai – liền đổi cách xưng hô :”mời thầy… mời thầy…”thế là phải chuẩn mực trong việc ăn uống, sợ người ta nói : “thầy bà gì mà ham ăn , tục uống”.

Lại nhớ thời đi dạy, độ đó trường tây sang Văn Học nhiều, các cô quen mặc váy. Một hôm từ nhà lên phố, qua đoạn nhà thủy tạ, thấy bên kia một đoàn tiên nữ xanh xanh, đỏ đỏ, tôi ngước sang, vô tình chạm phải xe đi trước, suýt ngã. Hôm sau, vào lớp, một cô được gọi lên trả bài, không thuộc, tất nhiên lãnh số không, khi lui về cô còn kịp hỏi nhỏ tôi một câu : Hôm qua thầy đi đâu mà vội thế ! Tôi giật mình, chắc cô này hiểu lầm rồi. Từ đó ra đường tôi nhìn thẳng đến bây giờ thành một “cố tật” lại bị người quen cho là “kẻ khinh người” “đi đường, gặp ông ấy, chào, chẳng bao giờ thấy trả lời, đúng là oan hơn oan Thị Kính”.

Xã hội đặt mình vào vị trí “Á thánh” cái gì cũng phải vẹn toàn. Ông giáo là ông thầy tu, liệu mà cư xử. Ông thầy tu sống đời trần tục chắc gặp nhiều va vấp :

Bán hàng cho vợ : người mua hỏi giá; cho giá thì nhận được câu : “Sao ông giáo bán đắt thế”. Khách mua 2 kilo định giá 23 ngàn, khách bớt phăng 3 ngàn, biết nói sao ! vợ thì bảo chỉ lời 2 ngàn.

Trồng trọt, chăn nuôi cũng vấp, vấp vì cơ chế thị trường, vì tranh đua xã hội, mà ông giáo dù có biết tranh đua cũng không dám xông trận.

Còn nhiều cái vấp lắm : dong chơi hóng mát: kẻ chán đời; năng vào quán xá: kẻ bệ rạc; giữ đạo nhà giáo : kẻ lạc thời, kẻ gàn dở; hòa đồng với xã hội mới : kẻ xu thời. Thôi đành lui về “chơi lan, cây cảnh” cho qua ngày, đoạn tháng.

Kể còn may là gia đình nề nếp còn giữ được, nếu không còn bị coi là kẻ lười biếng, ăn bám…

Thôi vậy : biết thôi, thôi thế thời thôi mới là ! nhớ lại câu thơ não nề của Nguyễn Khuyến .

Tháng 7/2015

Về đầu trang


Phúc Và Đức

Thầy Phạm Văn An




PHỖNG NGHĨ, PHỖNG SUY
PHÚC VÀ ĐỨC

Đức là một khái niệm của Khổng giáo, chỉ một người sống đúng với đạo lý xã hội. Cách sống này tích tụ cho con người nhiều điều tốt lành, để trở thành người mẫu mực được xã hội tôn trọng, gọi là người đạo đức. Đức tích tụ nhiều thì “đức cả, phúc dầy”, Không làm được điều tốt, hoặc làm trái với đạo đức thì là người thất đức, người vô đạo đức, người xấu.

Kết quả cuộc sống nhân đức là Phúc – hạnh phúc – điều tốt đẹp được hưởng trong đời.

“Có đức mặc sức mà ăn” là kinh nghiệm dân gian, nhận thấy rằng: Làm điều tốt sẽ tạo nhân lành, thành việc tốt đẹp được hưởng trong cuộc sống, đó là hạnh phúc. Lý luận thực tế chứng minh cho nhận xét này là có cơ sở. Xã hội luôn quí mến người nhân đức, tất nhiên dành cho họ nhiều cảm tình, nhiều giúp đỡ, nên họ dễ thành công.

Kinh nghiệm dân gian cũng nhận thấy Phúc có thể truyền lại cho con cháu:

Nếu: Cha mẹ hiền lành để Phúc cho con

Thì Đời cha ăn mặn đời con khát nước

Vì Trâu chất để da, người ta chết để tiếng

Tiếng tốt hay tiếng xấu của cha mẹ có thể ảnh hưởng đấn con cháu vì xã hội coi ảnh hưởng gia đình (giáo dục gia đình ) là điều căn bản cho cuộc sống của thế hệ sau.

Vì: cha nào, con nấy

Và: Con nhà Tông, không giống lông cũng giống cánh.

Dân gian cũng nhận xét rằng người mẹ để phúc cho con là chính, như Nguyễn Trãi đã nói trong Gia huấn ca

Phúc đức tại mẫu là lời thế gian.

Có lẽ vì người mẹ đóng vai chính trong việc dạy dỗ con ( người cha làm việc xã hội, quốc gia ). Lời mẹ đã thấm vào óc con từ tấm bé, mỗi ngày một chút qua sự dạy dỗ.

Thực tế cũng cho thấy, có những người sống nhân đức mà cuộc đời lại gặp nhiều đau khổ, thất bại. Triết lý Phật giáo về nghiệp có thể giải thích trường hợp này. Đạo Phật dạy rằng:Trong kiếp luân hồi có tu nhân tích đức, mới được đầu thai làm người. Vậy ta kiến tạo ở kiếp trước thường chỉ đủ để mua một giấy khai sinh, một giấy thông hành vào kiếp này, nghiệp chướng còn lại hiện hình bằng đau khổ ta đang chịu; nếu tu nhân tích đức dư thừa thì thành phúc trong hiện tiền, đúng như nhận xét thường có: cuộc đời sướng ít, khổ nhiều.

Có những kẻ “ác ôn” lại phây phây trong sung sướng vì kiếp trước đã tu nhân tích đức nhiều. Phần “ác ôn” nó đang làm là để dành cho kiếp sau.

Lập luận cách này, ta có thể giải thích trường hợp cha mẹ nhân đức mà con cái sống “liêu xiêu” dù đã để lại cho con cả “núi” của cải. Ở đây còn có thể bằng tài quản trị của con nữa.

Người khác lại nghĩ rằng chắc ăn thì để lại cho con một nghề. Vốn liếng nhét vào óc thì không mất được, cứ moi dần ra mà xài : trí tuệ tạo nên của cải. Nhưng nếu bắt con học một nghề mà nó không thích, không hợp với năng khiếu của nó, thì chưa chắc đã sống được bằng nghề, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, nghề tồi thì vinh sao được, đủ ăn là may rồi.

Lý luận loanh quoanh cũng đến hồi kết : Hạnh phúc là điều mọi người mơ ước, mơ ước lắm thì mộng ảo nhiều và khổ đau kèm theo. Hãy biết câu “tri túc” của người xưa để giới hạn mong ước của mình.

Trong đời, nếu sống nhân đức được thì cứ sống như vậy đi, đừng phân vân, thắc mắc làm gì, vì người nhân đức thì ai cũng ưa thích, kính trọng. Nếu sống nhân đức để mong được phúc thì ta đã sống “thiếu nhân đức” vì chỉ cầu lợi cho riêng mình mà quên rằng nhân đức mang bản chất “vì người khác”.

Xã hội cần một hiểu biết chính xác và nhân văn về 2 chữ Phúc – Đức.

Tháng 9/2016

Thầy Phạm văn An

Về đầu trang






Powered by SmugMug Log In