Văn Trương Chí Dũng - VAN-HOC DALAT

Văn Trương Chí Dũng

Anh CD_1
Bấm vào các link dưới đây

1. Đôi Mắt Ấy
2.Đồi Cù Ngày Thơ
3.Một Mình
4.Nhớ Về Một Rừng Mai Đà-lạt


Đôi Mắt Ấy

Trương Chí Dũng


Ở mỗi góc đường trong thành phố thường có những kiosque được cất một cách tạm bợ. Những nơi như vậy, với những dáng vẻ sơ sài của nó, thường làm cho người qua lại nhìn bằng cặp mắt khinh thị, và đôi khi thương hại.

Sau tủ kính của một kiosque như thế có một cô gái đang ngồi. Không phải chủ mà cũng không phải tớ. Dáng ngồi của cô gái nói lên điều ấy.

Trên cổ có một khăn quàng màu sáng rực rỡ, kiểu khăn quàng người ta thường bán cho du khách, dùng tạm trong mấy ngày trời trở lạnh khi ghé thành phố này. Khuôn mặt tàn nhang tạo thành một lớp sương bảo vệ chính khuôn mặt của mình. Hình như cô gái mới ngồi đó từ chiều nay. Chiều hôm qua chưa có.

Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt cô gái khiến Lân dừng ánh nhìn khinh thị của mình lại lâu hơn một chút rồi, không biết vì sao, Lân nhận ra là cô gái có một vẻ gì đó đáng yêu hơn mình tưởng. Ánh nhìn khinh thị tan dần, hình như cô gái chưa nhận ra mình đang bị nhìn một cách khác thường như vậy. Lúc ấy cô vẫn tỉnh bơ, nhìn xuống con dốc dẫn ra xa, dưới ấy xe cộ đang leo lên đồi và quanh ra trước ngay kiosque của cô nàng. Chỉ có dăm ba cuộn len mầu sáng tối, một vài chiếc áo len đan vụng về và một tủ thuốc lá . Đó là cả những gì mà cô gái muốn mời chào du khách trong tình cảnh của mình.

Hai hôm sau. Lân đi ngang kiosque. Tò mò nhìn qua tủ kính, thấy cô gái đang cuối xuống, hình như cô nàng xem truyện chứ không đan lát. Vẫn những chiếc áo len sặc sỡ mấy hôm trước còn treo đó. Hình như cô nàng rất rỗi. Sau lớp tàn nhang trên mặt là một làn da xanh, không giống da của những người nữ còn lại trong thành phố này.

Lại một tuần sau nữa Lân đi qua kiosque. Vẫn cảnh cô gái ngồi cuối xuống như chăm chú đọc. Mớ áo len sặc sỡ treo trong kiosque hình như còn nguyên.

Bận việc cả tháng sau Lân mới có dịp qua phố. Tiết trời vào đông rồi. Chợt nhớ đến hình ảnh cô gái ngồi trong kiosque hôm nào, Lân tò mò băng qua phố và đi về phía ấy.

Kiosque đã bị giở đi mất. Cả dẫy kiosque chỉ còn là một đống gạch đá ngổn ngang. Một khoảng trời thoáng rộng trước mặt thay cho nơi choáng chổ lâu nay của những kiosque xập xệ.

Không hiểu cô nàng đã đi đâu nhỉ. Lân chỉ còn nhớ đôi mắt. Liệu đôi mắt ấy có còn giữ mãi được vẻ thánh thiện như hôm nào mình bắt gặp lần đầu chăng. Lúc rời phố Lân vẫn chưa hết băn khoăn với suy nghĩ rất vẩn vơ này.

Hóa ra là không phải chỉ những người quen mới làm mình bận tâm mà đôi khi những kẻ chưa quen cũng thế.

Sau này, cứ mỗi lần Lân đi ngang khu vực ngày-trước-từng-có-những-kiosque này, vẫn một câu hỏi cũ dâng lên: bây giờ thì cô gái ấy đang ở đâu? và có sống nổi với tủ hàng chỉ có vài chiếc áo len sặc sỡ ấy không? Và trời ơi, đôi mắt ấy có còn thánh thiện như hôm ấy nữa không?

Về đầu trang


Đồi Cù Ngày Thơ

Trương Chí Dũng


Hai tiếng “thảo nguyên” gợi lên trong trí ta một màu xanh nước mênh mang, đưa tâm hồn ta đi vào cõi xa diệu vợi. Ai đã nghĩ rằng Đà Lạt có thảo nguyên? Những đồi cỏ ở Lạc Dương hay chính ngay trung tâm thành phố: Đồi Cù? Ai nỡ chỉ tính diện tích rộng hay hẹp để giới hạn mong ước của con người! Nếu vượt qua tiêu chuẩn diện tích đất đai, Đồi Cù vẫn là một thảo nguyên trong ký ức của các dân tộc ở đây. Đồi Cù có thông, có những thảm cỏ xanh, dòng suối róc rách chảy qua thung lũng, và đặc biệt có nhiều gió như ở giữa một thảo nguyên thực sự mà nhiều nhà văn đã mô tả. Nhìn từ xa, những ngọn đồi mượt mà nổi rõ lên bên hồ Xuân Hương, nhất là khi trời chuyển mưa: mưa thưa dần và cái lạnh lại tan nhiều trong nắng và gió. Càng lạnh, gió càng nhiều và càng thôi thúc người ta thử phi ngựa quanh thảo nguyên bé bỏng ấy.

Gió hội tụ trên đỉnh đồi, nơi có những khoảng đất gọt phẳng với nhiều lỗ thật tròn, dấu tích của một môn thể thao mà ngày nay gần như phai mờ trong trí nhớ dân Đà thành: đánh cù. Môn thể thao đã qua thời “náo nức”, nhưng lưu lại tên cho một nhóm đồi. Một biệt thự lẻ loi ở phía đường xuống vườn hoa, đã qua rồi thời rộn rịp: Golf Club (nhà sinh hoạt của hội chơi cù).

Đối với người dân Đà Lạt, đối với các dân tộc người thiểu số ở đây, nhất là đối với những chú bé lớn lên từ thành phố, trong tiềm thức Đồi Cù là thảo nguyên vừa mộng vừa thực. Khách dừng lại ở sườn đồi về phía Golf Club, qua con dốc gặp một dòng suối nhỏ. ở chỗ nước sâu mọc lên những hoa súng. Ai có “duyên nợ lịch sử” như Đinh Gia Trinh với loài hoa “tiên tử” sẽ thấy được những hoa súng “xô đẩy lên trên mặt nước một tâm hồn, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của trời đất”. Lại có chỗ như đầm lầy cho lau sậy yếu ớt, những con người của Pascal có đất sống mà suy tưởng. Dưới suối có cá “lòng tong” bé xíu rất kén mồi. Khách muốn câu cá phải thật nhẫn nại đợi chờ như ngày xưa Lã Vọng ngồi câu chờ thời cuộc bên dòng sông Vị đến vóc gầy, đầu bạc. Có những hôm nắng ấm, nơi suối cạn, lũ trẻ con tranh nhau dầm chân xuống nước. Một cảm giác mát lạnh, lâng lâng. Rồi chúng tát nước vào nhau, lúc chững lại lội xuống khuấy bùn đất lên đục ngầu, nhưng vài phút sau, lên bờ lại có thể soi mặt ngay vũng nước ấy. Nước chóng trong như tâm hồn trong trắng của lũ trẻ. Nô giỡn đến mệt nhoài, các chú nhóc leo lên đồi nằm nghỉ ngửa mặt nhìn vòm trời xanh bao la vời vợi. Lúc khát nước, các chú đào củ “mưa đá” nhai hay uống. Ai lại trở xuống suối vốc nước cho phiền! Sẵn “cây mưa đá” ở bên cạnh, có hoa vàng, nhỏ như ngón tay, cao chừng một tấc, lũ trẻ chỉ cần một cành thông, cũng ở đâu đó bên chỗ nằm, xới đất sâu độ nửa gang, tìm được ngay một củ “hoa mưa đá” to bằng ngón tay cái. Gỡ vỏ, “củ hoa” trắng tinh. Ai mà cầm lòng được? Và thế, trẻ nhai ngấu nghiến, rất ngon lành. Một cảm giác dèo dẻo ở đầu lưỡi. Và trẻ con hết khát. Trong ý nghĩ của trẻ con Đà Lạt, thì khi những trận mưa đá đầu mùa trút xuống cao nguyên, có những hạt nước đá to bằng ngón tay mà trẻ thường thấy sau cơn mưa, trên cỏ, trên sân, trên hoa, trên lá… những hạt mưa ấy chui lọt xuống lòng đất nằm chờ cho đến cuối mùa mưa, ngoi lên mặt đất, nở hoa vàng mời mọc những bạn quen tìm kiếm đã nô giỡn với chúng, đã nâng niu chúng, bỏ vào những chiếc lon, những cái ly lạnh buốt nên chốc lát chúng tan biến đi như những viên ngọc của những nàng tiên không bao giờ ấm tay người trần thế vô duyên. Truyền thuyết ấy sống mãi trong tâm trí các chú bé Đà Lạt mỗi khi nhai ngấu nghiến củ mưa đá. Có lẽ sự mát lạnh của huyền thoại về những cơn mưa đầu mùa ngấm vào tâm hồn trẻ thơ hơn là tác dụng của củ hoa hoang dã đối với vị giác của lũ bé con chưa từng quen cay đắng của cuộc đời?

Có một dạo Đồi Cù vắng bóng “hoa mưa đá”. Hồi cuối những năm 60 khi xe Sach và Goebel không còn được ưa chuộng, khi xe Honda được dân Đà Lạt mến yêu. Bước chuyển sở thích về xe ấy lại là một tai họa cho loài “hoa mưa đá”, tai họa cho huyền thoại, tuổi thơ Đà thành. Xe Honda tràn lên Đồi Cù. Một môn gọi là “thể thao” mới xuất hiện: đua Honda trên thảo nguyên. Những chiếc xe thi nhau lao lên không trung, rơi xuống, điên cuồng, cày nát không biết bao nhiêu vùng cỏ hoa hoang dã. Sự diệt chủng của một loài hoa không ngờ chỉ vì một trò chơi nhất thời của con người! Dù cho hoa mưa đá đã hiểu thân phận của mình, nên không rực rỡ khoe màu mà sống âm thâm với cỏ dại, hòa mình với màu đất, màu trời! Còn chú bé nào không chịu lôi cuốn trong phong trào “phi Honda” ấy muốn kiếm những củ “hoa mưa đá” trong cơn khát nước phải đợi đến mùa sau! Những mùa sau biết ai còn trở lại? Và biết đâu những tai ương khác lại không đến với muôn loài?

Sườn đồi nhìn về phía trường Bùi Thị Xuân, từ dòng suối qua chiếc cầu nhỏ, khách đi thêm một đoạn đường mòn sẽ gặp nhữmg bụi cây đặc biệt của Đà Lạt: những bụi cây đuôi chồn. Người yêu hoa hồng, cẩm chướng, muốn một bình hoa đẹp thì phải tìm cho được vài lá đuôi chồn để cắm chung. Ai ngờ hoa lá khác loài mà sống chung lại hòa hợp thẩm mỹ đối với khách yêu hoa. Nhưng lũ trẻ chưa đến kỳ yêu hoa, chúng chỉ tìm thấy ở đuôi chồn một phương tiện đùa giỡn lý thú: những chiếc gậy con con, màu nâu đen ngộ nghĩnh đẹp như tuổi thơ của chúng. Thế là chúng chia phe, dùng gậy đuôi chồn khèo nhau chơi, và tiếng cười trong trẻo liên tục truyền đi, lắng tỏ giữa vùng đồi núi mát dịu một màu xanh mênh mông. Có hôm mây trắng ở đâu bay về thật nhiều, hình như có tơ trời nữa. Lũ trẻ cứ nhìn mây trắng và tơ trời ngang qua đầu mà sờ sững, có đứa dùng cây gậy đuôi chồn đưa lên không quyết “khèo” cho được một áng mây qua! ở những thảo nguyên của á châu trầm lắng, người ta có ý tưởng hoặc cảm nhận như trẻ của Đà thành không?

Trước 1975, khách cũng có đến chơi Đà Lạt, tuy không ồ ạt, náo động như bây giờ. Cũng có người lên Đồi Cù nhưng họa hoằn mới mò đến tận Golf Club, nơi các đoàn thể thanh niên học sinh sinh viên thường sinh hoạt. Có một dạo, trong ngôi nhà Golf Club vang vọng tiếng nhạc dân ca quốc tế, nhạc của Trịnh Công Sơn. Thỉnh thoảng ở đây thanh niên nam nữ tập vũ, diễn kịch. Qua cửa kính, khách bước Polka, Mazurka… và nếu ai chú ý, những người say sưa tập vũ, đóng kịch ấy lại có mặt trong các buổi biểu tình đấu tranh ở thành thị. Những kỷ niệm đã qua có còn trở lại?

Những ngày Đà Lạt thật yên, trên đỉnh Đồi Cù vẫn lộng gió. Ta cứ ngỡ gió xôn xao kéo về từ phía hồ Xuân Hương, nơi những chiếc xe đạp nước đang lặng lờ di động. Ngồi trên đồi cao ngắm hồ, ta thấy tâm hồn yên tĩnh lạ thường. Tuổi ấu thơ nhiều thần thoại hình như được quay phim trở lại. Không hẹn mà khách trần ai bỗng trầm lặng. Có lẽ thiên nhiên và con người trong một khoảnh khắc đã hòa hợp cảm thông thực sự với nhau.
1987

Về đầu trang


Một Mình

Trương Chí Dũng


Nhật quay lại quầy sách cũ một lần nữa. Quyết định mua quyển “ Một mình với mùa Thu”, của Pautovski.

Bên trong quyển sách cũ ấy có ghi rõ tên của Nhật kèm theo cả chữ ký, đã phai mờ khá nhiều do thời gian. Hơi mỉm cười, nhận ra nét ngây ngô của chữ ký mình mấy năm về trước, Nhật còn nhớ mình mua quyển sách ấy một ngày trước sinh nhật của mình. Hồi ấy đã đọc quyển sách hai lần và Nhật vẫn còn nhớ mình thích quyển sách đến như thế nào. Vậy mà sau một vòng chu du khắp các chợ sách, quyển sách đã đi qua không biết bao nhiêu vỉa hè, giờ nó nằm đây. Nhật quyết định mua nó một lần nữa, cứu quyển sách của mình khỏi cảnh lăn lóc rày đây mai đó của nó.

Đầu đuôi là như vầy: Trong lần mua nó lần đầu, khi quyển sách còn mới tinh và thơm mùi mực còn nằm sang trọng trên kệ sách của nhà sách nơi đầu phố, Nhật mang quyển sách về và bọc nó cẩn thận bằng một lớp giấy hoa. Ghi tên mình vào và ký chữ ký còn ngây ngô ấy vào trang trong của quyển sách. Chữ ký ấy bây giờ vẫn nằm đúng chỗ ban đầu của nó, mầu mực nhạt đi nhiều nhưng vẫn mang vẻ ngây ngô ngày nào.

Dạo đọc xong quyển sách ấy lần thứ nhất thì Hương nhìn thấy. Cũng mọt sách như Nhật. Cũng có thú lang thang xoi mói bất cứ kệ sách nào trong những lần đi phố và lôi về những quyển sách mình săn tìm. Chỉ khác Nhật ở chỗ là, thay vì đọc ngay, Hương chỉ tìm đọc những quyển sách của mình sau một thời gian, thường là sau khi ai đó có nhận xét về quyển sách. Còn thường thì Hương hay đọc sách mượn ở thư viện. Đọc đều như dùng bữa hằng ngày.

- Quyển này ra sao hả Nhật?- Hương cầm quyển sách của Nhật và hỏi. Có ý chờ xem Nhật sẽ buông ra một câu bình luận nào đó.

- Tuyệt !

- Nghĩa là sao?

- Không thể nói gọn trong vài ba câu, tốt nhất là Hương nên tự đọc.

Hồi đó hai đưa chưa gây nhau...

Nhật nhớ như in ngày hai đứa gây nhau. Lúc đó hai đứa đang ngồi trong tiệm kem trên đường Nguyễn Chí Thanh. Đang thú vị nhìn xuống dốc Lê Đại Hành xem xe cộ lên xuống trong một buổi chiều chủ nhật gần như rất trọn vẹn. Và điều không trọn vẹn cho ngày chủ nhật đó là hai đứa gây nhau.

Nhật sinh tháng bẩy và Hương sinh tháng ba cùng một năm. Đang ngồi ăn kem thì Hương hỏi:

- Hình như Nhật phải gọi Hương bằng chị mới đúng lễ đó nghe !

- Sao vậy?

- Hương sinh trước Nhật bốn tháng kia mà. Hương sinh tháng ba.

Nhật im lặng. Đã biết thời gian là rất tương đối. Đã biết bốn tháng chẳng là gì cả trong cuộc sống một đời người. Nhưng từ lâu, khi biết đúng là Hương sinh trước Nhật bốn tháng, Nhật đã đau khổ về chuyện này, một mình, từ ngày đó.

- Đùa vậy thôi. Hương cho Nhật nợ tiếng chị qua kiếp sau hẵng trả.

Vậy là gây. Nhật nhớ mình đã đứng dậy, im lặng lấy tiền ra trả ở quầy và đi thẳng không quay lại.

Lúc gây nhau thì Nhật đã đọc xong quyển sách lần thứ hai. Và đã cho Hương mượn quyển sách. Hình như Nhật linh cảm quyển sách sẽ rời xa mình nên lần đọc thứ hai Nhật đọc rất chậm và tìm ra thêm nhiều chi tiết thú vị mà lần đọc đầu Nhật chưa khám phá ra. Lần đầu là khai hoang, lần sau mới thâm canh.

Sau lần gây nhau ấy thì ai nấy đều tự ái. Mạnh đường ai nấy đi. Hương chơi với Bảo. Còn Nhật thì lang thang một mình. Hương có một lần nhắn một câu rất độc lọt đến tận tai Nhật. Nó nhỏ hơn mình bốn tháng. Nó là em mình đó. Quên nó đi.

Và rồi quên đi thật. Chỉ đến khi đi tìm mua sách cũ, Nhật mới nhớ lại chuyện này. Lần giở ra nhìn lại chữ ký ngày xưa của mình. Nhật thấy tội nghiệp cho mình quá. Và một nỗi nhớ dâng lên. Ôi sao lạ vậy. Hoá ra con người không thể quên nhau thật sao.

Nhật đem quyển sách về và bọc lại cho nó một bao bằng giấy hoa mới. Vậy là, sau mấy năm lưu lạc, giờ quyển sách lại quy cố hương.

Nhật định tối nay sẽ lấy đọc quyển sách một lần nữa. Kỷ niệm. Đúng là chỉ còn ngán có mỗi việc kỷ niệm sẽ quay về thì khổ. Nhật đang chần chờ.

Lúc mà Nhật đang chần chờ thì Liên đến rủ Nhật đi phố. À, vậy là khỏi phải chần chờ nữa. Nhật quyết định đi ngay. Không hiểu sao, khi đi Nhật vẫn cầm theo quyển sách trong tay.

Đó lại là một chủ nhật tuyệt vời. Hai đứa định kết thúc ngày chủ nhật của mình một cách khác nhưng không hiểu sao cuối cùng thì Liên lại lôi Nhật vào quán kem ở đường Nguyễn Chí Thanh. Hai đứa nhìn xuống dòng xe lên xuống dốc một cách thanh thản. Chiều đang rơi xuống chung quanh hai đứa.

Lúc Liên với tay cầm quyển sách thì Nhật chưa chú ý gì lắm. Liên lật quyển sách ra và nhìn thấy chữ ký ngây ngô của Nhật.

- Ông tướng ký gì mà tức cười vậy?

- Ừ, chữ ký hồi nhỏ mà.

Nhật có cảm tưởng không phải Liên đang ngồi trước mặt mình mà là Hương.

- Nhật sinh năm nào?

Nhật nói năm sinh của mình.

- Tháng nào ?

Nhật nói tháng sinh của mình. Hình như mọi việc giống như vậy đã từng diễn ra.

- Vậy là Nhật phải gọi Liên bằng chị. Liên sinh trước Nhật bốn tháng.

Nhật tưởng tượng cảnh mình sẽ đứng lên, im lặng, đi đến quầy trả tiền và đi thẳng không quay lại. Y như hồi ấy.

Quyển sách đang nằm trong tay Liên, chẳng lẽ trước khi đứng lên lại dằn lấy quyển sách khỏi tay Liên thì kỳ quá. Nếu không làm như vậy thì quyển sách lại sẽ quay về cuộc đời trôi nổi của nó. Không thể được. Không bao giờ Nhật lại có thể để cho quyển sách lại vuột khỏi tay mình.

- Sao Nhật im lặng vậy?

Nhật như không nghe thấy và mãi theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình. Thấy vậy, Liên im lặng, quay ra đọc quyển sách và cười cười một mình. Lúc Liên hỏi mượn quyển sách về xem thì Nhật như chợt tỉnh.

- Không bao giờ !- Nhật buộc miệng.

Liên chưa từng nghe kiểu cách nói chuyện như vậy của Nhật. Hình như anh chàng này chiều nay có chuyện gì không ổn.

Quyển sách thì đang nín thở chờ đợi. Nó chưa biết mình sẽ được quay về căn phòng ấm cúng của Nhật hay lại tiếp tục một vòng đời trôi nổi mới...

Về đầu trang


Nhớ Về Một Rừng Mai Đà Lạt

Trương Chí Dũng


Ngày mai, du khách ghé thăm Đà Lạt vào cuối năm, lúc mà những tầng khí lạnh tràn về dồn dập hơn, bầu trời xanh hơn và dân Đà thành khoác áo ấm dày hơn, du khách bàng hoàng trước màu hồng của anh đào. Màu hồng này vẽ thêm cho chân dung Đà Lạt một thoáng Nhật Bản, bên cạnh những villa dáng dấp Tây Âu... và đó cũng là vẻ đẹp riêng khác mà Đà Lạt có, không giống bất cứ thành phố nào của đất nước: Xứ Anh - đào.

Dân Đà thành vẫn quen gọi anh đào là Mai. Có lẽ việc tìm cho đúng tên gọi của loài hoa này phải nhờ các nhà sinh học. Biết đâu một nhà nghiên cứu thực vật nào đó có vin một cành hoa đào lẩm bẩm một tiếng La-tinh "Prunoideae; abricotis..." nên bây giờ nhà nghiên cứu gọi là mai, là đào hay anh đào đều được cả. Nhưng dù sao nó vẫn là mai Đà Lạt, hay anh đào như du khách thường gọi...

Cứ cuối tháng 11, sau khi những cụm dã quỳ nôn nóng nở rộ các sườn đồi, làm cho thành phố đẹp như một bức tranh ấn tượng của cuối thế kỷ 19, anh đào từ tốn hơn, nở muộn màng hơn. Đầu tiên cây rụng hết lá, thân cành trơ trụi mốc meo, giơ lên trời những bộ xương. Khách lạ đa cảm có thể buồn vì nghĩ đến các cây khô chết. Gió se lạnh luồn qua những cành mỏng manh, chịu đựng, âm thầm.

Nhưng một buổi sáng, du khách dậy sớm nhìn qua cửa sổ, cỏ vẫn xanh, hồ nước vẫn xanh, bay một lớp sương nhẹ và kìa : những cành anh đào trơ trụi mà khách không lưu ý, giờ hồng lên những nụ hồng tinh khiết, mơ màng và lôi cuốn. Đúng là mùa anh đào nở. Những cụm dã quỳ chưa tàn, màu vàng vẫn bàng bạc đâu đây, nhưng như hiểu thân phận mình, dã quỳ lùi dần sau những bờ thành, cuối thung lũng, còn cả thành phố các nẻo đường chính anh đào nở rực. Con đường nào cũng hồng lên, những cành cây khẳng khiu hôm nào giờ mang đầy sức sống, một sức sống dịu dàng, lung linh báo hiệu một thoáng xuân.

Có một điều du khách mãi băn khoăn khi ngắm những cây anh đào được trồng trong thành phố. Thông có rừng thông, dã quỳ có đồi dã quỳ... nghĩa là các đồi cây đều có một "buôn làng", "một quê hương". Thế mà anh đào sao chỉ có những hàng dọc đường phố hay ven hồ mà thôi sao. Một đặc điểm sinh thái nào đó ngăn trở nó hợp thành rừng? Làm cho anh đào không có một "làng quê"?

Không! Đã từ lâu Đà Lạt vốn có một rừng anh đào. Anh đào cũng có một "quê hương để trở về"!

Con suối Cam Ly chảy từ cầu Bá Hộ Chúc còn hẹp dòng và lặng lờ nhưng đến gần thác thì mở rộng. Rồi ào xuống những ghềnh đá tạo thành Cam Ly thượng. Rồi dòng suối ấy dừng lại ở một khúc quanh, ngoặc lại ôm lấy chân đồi Lê Lai, dòng trở lại hẹp, trơ đá và sỏi. Nước trôi qua hầm đá, vách đá xám dựng đứng dẫn dắt đôi mắt du khách lên cao dần, trên cùng có một biệt thự đổ nát, tàn tạ với thời gian cùng với những mỏm đá cuối sân bay Cam Ly. Dòng suối như nuối tiếc muốn trở lại trung tâm Đà Lạt một lần nữa trước khi rời xa. Mà thật vậy, con suối trắng ráng sức quay ngược về Đà thành: gắng gượng, nhẫn nại, nó vòng qua thung lũng nhìn lại phía đồi Đa Cát nhưng rồi "lực bất tòng tâm" nó đành buông xuôi theo dòng, ngậm ngùi đến một ghềnh đá nhỏ hơn là Cam Ly hạ, một thác "mi-ni" vừa đủ cho vài gia đình đến nghỉ cuối tuần trên các tảng đá ven bờ.

Sau Cam Ly hạ là lưu vực gần giống mọi con suối khác, giữa dòng có đá nổi lên, có những cây sung dại bên bờ, có đoạn cây mua mọc ra đến bờ nước, và còn bóng dáng một chiếc cầu đá sụp đổ bên dòng.

Dòng suối ở đoạn này ngày xưa dẫn nước qua một rừng vối mọc dựa lưng vào đồi cao, rừng vối ấy nay đã mất. Phía trên đồi cao, nơi mà rừng vối vốn có lúc "hưng thịnh" lan rộng đến... một rừng anh đào.

Ít ra là đến những năm 60 rừng anh đào này vẫn còn. Nếu những chú sóc ở vùng này có "sử" thì chắc "lịch sử" của rừng anh đào và cuộc sinh hoạt ở đây phong phú lắm. Vào mùa đông, anh đào nở hồng lên, nhựa chảy tràn ra, các chú sóc leo lên thưởng thức nhựa mai. Chắc là ngọt ngào lắm theo lưỡi chú! Cả một rừng mai thênh thang ngay cạnh sân bay mà sóc không đủ nhiều để dùng hết "kho lương vô tận" ấy, và cứ thế mai mọc tràn lan.

Trong rừng mai có một vài căn nhà không phải kiểu biệt thự, mà có dáng nông trại. Hồi mà rừng mai phát triển nhất, cỏ tranh cũng lan tỏa đến bờ tường những căn nhà ấy. Một chủ nhà có hai con chó mõm đen to dữ, loại chó Danois. Chúng nằm ngủ giữa sân, thỉnh thoảng thức dậy tỏ ra uy quyền, sủa dọc các chú sóc leo hút nhựa trên những cây anh đào.

Rừng hoa đào đẹp mãi trong ký ức của những đứa trẻ đầu trần, bận quần đùi, quảy ná cao su đi bắn chim chào mào và chim bụng trắng. Chúng bắn còn vụng về, tiếng những hòn sỏi va vào cành mai vang lên những tiếng khô khan. Đôi khi chúng bắn vào những con sóc và chỉ chịu bỏ chạy khi hai con chó Danois rượt chạy tận bờ tường. 

Đã bao nhiêu năm rừng cây anh đào này đã rực hồng, và có bạn sống chung, thân cây khá giống anh đào, cũng mốc meo, đến mùa cũng rụng hết lá, nhưng khi nở hoa, thì hoa trắng, đến thời kết trái cho những trái tròn nhỏ hơn mận Đà Lạt, da dẻ sù sì, có vị chát hơn. Khi các nhà phân loại học xếp vào bảng tên loại cây gì, ta tạm gọi nó là cây "anh đào trắng". Thế là "anh đào hồng" và "anh đào trắng" có duyên nợ, đã sống chung và đã chọn "một quê hương". Nhưng bọn trẻ con lại gọi "anh đào trắng" là cây xá lỵ. Sống chung trong rừng này, còn có cây bứa, trái cũng chát nhưng dễ ăn hơn. Tất nhiên là bọn trẻ không "từ" một trái gì, chúng nếm tất cả, tìm cách "ăn được" tất cả, không bỏ chê quả anh đào, kết thành chùm, có màu đỏ Bordeaux khi chín, sau Tết Nguyên Đán. Có khi vì đắng quá, chát quá, không ăn được, bọn trẻ chà quả anh đào, lấy nước bôi đỏ môi, má, móng tay, móng chân như những cô gái thích làm đỏm.

... Thế rồi, người ta phá rừng dữ quá! Ai cũng bỏ ra vài ngày "lao động đi củi". Hết các đồi thông ven Đa Cát, người ta đẵn luôn cây anh đào... đến một ngày, rừng mai huy hoàng một thuở không còn nữa.Những đứa trẻ năm xưa ấy, giờ lớn rồi. Có người đã có gia đình, có người là nhà thực vật học, nếu có dịp trở lại "vườn xưa", có nhớ gì chăng? Lòng có man mác không?

Bây giờ, du khách đến Đà Lạt không còn được nhìn rừng anh đào nữa, một phần nào cũng cảm thấy thiếu thốn khi đến xứ được gọi là "Xứ anh đào". Nhưng trong tương lai, biết đâu quê hương anh đào ở Cam Ly lại được tái dựng? Trong niềm tin của người dân Đà thành, rừng mai sẽ hồi sinh, chim chóc sẽ đến Đà Lạt ca hót nhiều hơn... và con người sẽ thoải mái hơn.
1987

Về đầu trang

Powered by SmugMug Log In