Văn Trương Chí Dũng

Anh CD_1
Bấm vào các link dưới đây

Đi Đi, Về Về
Đôi Mắt Ấy
Đồi Cù Ngày Thơ
Hoa Lưu Ly
Không Phải Dễ
Lụa Hà Đông
Một Đêm Sinh Nhật
Một Mình
Người Phụ Nữ Ngủ Trong Nhà Thờ
Nhớ Về Một Rừng Mai Đà-lạt
Những Nốt Ruồi
Vườn Xưa

Đi Đi, Về Về

Trương Chí Dũng


Có một con đường hẹp mà hai lề đường không đủ chỗ cho hai người tránh nhau. Bên này đường là Mai đang đi về và bên kia đường là Quân đang ra khỏi thư viện chuẩn bị về nhà. Trong lòng họ dấy lên hai câu chuyện rất khác nhau. Khi Mai thấy Quân đi ngang qua, Mai mỉm cười. Phía bên kia đường Quân vẫn mải miết đi. Nụ cười của Mai bị gió cuốn phăng đi. Thật ra trong nụ cười ấy chứa đựng rất nhiều điều thú vị. Rất thú vị...

Quay lại hôm đó. Hôm mà Quân cũng từ thư viện đang bước về nhà như hôm nay. Chỉ khác là hôm đó Quân còn mang cả một chồng sách dầy cộm. Khi đi ngang qua chỗ Mai, hình như Quân cũng mỉm cười thú vị về một việc gì đó, nụ cười với riêng mình bao giờ cũng thật tình. Ngay lúc đó một chiếc xe hai bánh trờ tới và tông vào người Quân.

Khi chạy băng qua bên kia đường thì Mai thấy Quân nằm xấp trên nền đường. Chồng sách văng ra xa, lấm lem trong nước mưa. Không hiểu sao, Mai lại chạy đến nhặt lấy từng quyển sách, rồi như thấy mình hơi vô lý, Mai đặt vội chồng sách lên lề đường và chạy đến bên Quân. Cặp kính vỡ. Trán và mặt đầy máu lẫn trong đất bùn...

Có một chiếc xe lam vừa trờ tới và Mai nhanh chóng xốc lấy vai của Quân để diù lên xe. Một thân hình mềm nhũn và nặng trĩu.

Ở phòng cứu cấp, Mai khai đại một tên cho Quân, và cũng trong lúc bối rối, Mai nhận mình là em gái của Quân để cho xong chuyện.

Khi đã chuyển Quân từ phòng cứu cấp lên Khoa ngoại thì yên tâm là không đến nỗi gì. Bấy giờ Mai cảm thấy bực mình về tính dễ thương người của mình. Tự dưng...

Phòng bệnh có hai giường, ngoài giường Quân nằm còn chiếc giường phía ngoài có một chú bé, chân còn băng bột treo lên cao. Bà cụ ngồi săn sóc an ủi Mai về những bất trắc. Và hai bà cháu nói cho qua chuyện trong lúc Mai nóng ruột nhìn khuôn mặt của Quân vẫn còn bất động.

Đến tám giờ tối thì Mai phải về. Trước khi về Mai gửi gắm lại cho bà cụ. Tổng kết lại ngày hôm đó Mai đã bỏ buổi học thêm buổi chiều và bỏ cả cơm chiều. Trên đường về lúc băng qua đường Hai Bà Trưng, Mai vẫn mải miết tìm một lý do hợp lý cho sự vắng mặt của mình. Hình như chỉ mới có mấy tiếng đồng hồ mà Mai trong có hốc hác đi. Còn mấy chục ngàn tiền thuốc nữa...

Rồi cũng xong. Lẫn vào được trong phòng mình, Mai tìm cách xoá vội đi những dấu vết có thể vô tình tiết lộ câu chuyện. Và ngả lưng ra ngủ. Giờ thì chắc anh chàng ấy vẫn còn mê chưa tỉnh. Không biết con nhà ai mà báo nữa. Lỡ nhận bà con rồi mới phiền chứ.

Sau buổi học sáng hôm sau, Mai lại lên Khoa ngoại. Thiệt là chuyện bao đồng, nhưng chẳng còn cách nào khác. Anh chàng vẫn chưa tỉnh nhưng bà cụ cho biết có khá hơn. Và, cũng như buổi tối hôm trước, Mai phải rời bệnh viện lúc tám giờ. Và tiếp tục tìm một lý do mới cho mình. Lại thêm một buổi học thêm bị lỡ.

Vậy rồi thôi. Mai không vào bệnh viện nữa. Lúc anh chàng tỉnh dậy sẽ không biết ăn nói ra sao. Chắc chắn là anh chàng sẽ qua khỏi và rồi người nhà sẽ tìm ra. Còn bây giờ, Mai phải đứng lại và nhìn từ xa. Hình như mình đã đi quá xa. Mai nghĩ vậy.

Câu chuyện trong đầu của Quân vẫn vo ve mãi lâu nay mà không tài nào giải đáp được: Người con gái nào đã mang mình vào bệnh viện và ngồi chăm sóc cho mình trong hai ngày đó. Bà cụ sau này còn bảo là “em gái của cậu rất lo lắng, nó bỏ cả học mà ngồi canh chừng cậu đó”. Nhưng đó là ai, có mãi mãi tan biến trong thế giới này không.

Còn câu chuyện trong đầu Mai sau này mỗi khi gặp Quân ngoài đường vẫn là nối tiếp một chi tiết thú vị: Mai còn nhớ rõ là trong lúc còn đang mê man, có lần Quân cầm lấy tay Mai bấu chặt là kêu “Má ơi”...

Vậy đó. Vậy mà quanh năm suốt tháng họ vẫn đi đi về về ngang qua nhau. Bình thản đến nỗi làm cho mọi người có cảm tưởng đó là hai kẻ hoàn toàn xa lạ. Mỗi người mang theo thế giới riêng của mình và thường cười hồn nhiên trong đó.

Về đầu trang

Đôi Mắt Ấy

Trương Chí Dũng


Ở mỗi góc đường trong thành phố thường có những kiosque được cất một cách tạm bợ. Những nơi như vậy, với những dáng vẻ sơ sài của nó, thường làm cho người qua lại nhìn bằng cặp mắt khinh thị, và đôi khi thương hại.

Sau tủ kính của một kiosque như thế có một cô gái đang ngồi. Không phải chủ mà cũng không phải tớ. Dáng ngồi của cô gái nói lên điều ấy.

Trên cổ có một khăn quàng màu sáng rực rỡ, kiểu khăn quàng người ta thường bán cho du khách, dùng tạm trong mấy ngày trời trở lạnh khi ghé thành phố này. Khuôn mặt tàn nhang tạo thành một lớp sương bảo vệ chính khuôn mặt của mình. Hình như cô gái mới ngồi đó từ chiều nay. Chiều hôm qua chưa có.

Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt cô gái khiến Lân dừng ánh nhìn khinh thị của mình lại lâu hơn một chút rồi, không biết vì sao, Lân nhận ra là cô gái có một vẻ gì đó đáng yêu hơn mình tưởng. Ánh nhìn khinh thị tan dần, hình như cô gái chưa nhận ra mình đang bị nhìn một cách khác thường như vậy. Lúc ấy cô vẫn tỉnh bơ, nhìn xuống con dốc dẫn ra xa, dưới ấy xe cộ đang leo lên đồi và quanh ra trước ngay kiosque của cô nàng. Chỉ có dăm ba cuộn len mầu sáng tối, một vài chiếc áo len đan vụng về và một tủ thuốc lá . Đó là cả những gì mà cô gái muốn mời chào du khách trong tình cảnh của mình.

Hai hôm sau. Lân đi ngang kiosque. Tò mò nhìn qua tủ kính, thấy cô gái đang cuối xuống, hình như cô nàng xem truyện chứ không đan lát. Vẫn những chiếc áo len sặc sỡ mấy hôm trước còn treo đó. Hình như cô nàng rất rỗi. Sau lớp tàn nhang trên mặt là một làn da xanh, không giống da của những người nữ còn lại trong thành phố này.

Lại một tuần sau nữa Lân đi qua kiosque. Vẫn cảnh cô gái ngồi cuối xuống như chăm chú đọc. Mớ áo len sặc sỡ treo trong kiosque hình như còn nguyên.

Bận việc cả tháng sau Lân mới có dịp qua phố. Tiết trời vào đông rồi. Chợt nhớ đến hình ảnh cô gái ngồi trong kiosque hôm nào, Lân tò mò băng qua phố và đi về phía ấy.

Kiosque đã bị giở đi mất. Cả dẫy kiosque chỉ còn là một đống gạch đá ngổn ngang. Một khoảng trời thoáng rộng trước mặt thay cho nơi choáng chổ lâu nay của những kiosque xập xệ.

Không hiểu cô nàng đã đi đâu nhỉ. Lân chỉ còn nhớ đôi mắt. Liệu đôi mắt ấy có còn giữ mãi được vẻ thánh thiện như hôm nào mình bắt gặp lần đầu chăng. Lúc rời phố Lân vẫn chưa hết băn khoăn với suy nghĩ rất vẩn vơ này.

Hóa ra là không phải chỉ những người quen mới làm mình bận tâm mà đôi khi những kẻ chưa quen cũng thế.

Sau này, cứ mỗi lần Lân đi ngang khu vực ngày-trước-từng-có-những-kiosque này, vẫn một câu hỏi cũ dâng lên: bây giờ thì cô gái ấy đang ở đâu? và có sống nổi với tủ hàng chỉ có vài chiếc áo len sặc sỡ ấy không? Và trời ơi, đôi mắt ấy có còn thánh thiện như hôm ấy nữa không?

Về đầu trang


Đồi Cù Ngày Thơ

Trương Chí Dũng


Hai tiếng “thảo nguyên” gợi lên trong trí ta một màu xanh nước mênh mang, đưa tâm hồn ta đi vào cõi xa diệu vợi. Ai đã nghĩ rằng Đà Lạt có thảo nguyên? Những đồi cỏ ở Lạc Dương hay chính ngay trung tâm thành phố: Đồi Cù? Ai nỡ chỉ tính diện tích rộng hay hẹp để giới hạn mong ước của con người! Nếu vượt qua tiêu chuẩn diện tích đất đai, Đồi Cù vẫn là một thảo nguyên trong ký ức của các dân tộc ở đây. Đồi Cù có thông, có những thảm cỏ xanh, dòng suối róc rách chảy qua thung lũng, và đặc biệt có nhiều gió như ở giữa một thảo nguyên thực sự mà nhiều nhà văn đã mô tả. Nhìn từ xa, những ngọn đồi mượt mà nổi rõ lên bên hồ Xuân Hương, nhất là khi trời chuyển mưa: mưa thưa dần và cái lạnh lại tan nhiều trong nắng và gió. Càng lạnh, gió càng nhiều và càng thôi thúc người ta thử phi ngựa quanh thảo nguyên bé bỏng ấy.

Gió hội tụ trên đỉnh đồi, nơi có những khoảng đất gọt phẳng với nhiều lỗ thật tròn, dấu tích của một môn thể thao mà ngày nay gần như phai mờ trong trí nhớ dân Đà thành: đánh cù. Môn thể thao đã qua thời “náo nức”, nhưng lưu lại tên cho một nhóm đồi. Một biệt thự lẻ loi ở phía đường xuống vườn hoa, đã qua rồi thời rộn rịp: Golf Club (nhà sinh hoạt của hội chơi cù).

Đối với người dân Đà Lạt, đối với các dân tộc người thiểu số ở đây, nhất là đối với những chú bé lớn lên từ thành phố, trong tiềm thức Đồi Cù là thảo nguyên vừa mộng vừa thực. Khách dừng lại ở sườn đồi về phía Golf Club, qua con dốc gặp một dòng suối nhỏ. ở chỗ nước sâu mọc lên những hoa súng. Ai có “duyên nợ lịch sử” như Đinh Gia Trinh với loài hoa “tiên tử” sẽ thấy được những hoa súng “xô đẩy lên trên mặt nước một tâm hồn, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của trời đất”. Lại có chỗ như đầm lầy cho lau sậy yếu ớt, những con người của Pascal có đất sống mà suy tưởng. Dưới suối có cá “lòng tong” bé xíu rất kén mồi. Khách muốn câu cá phải thật nhẫn nại đợi chờ như ngày xưa Lã Vọng ngồi câu chờ thời cuộc bên dòng sông Vị đến vóc gầy, đầu bạc. Có những hôm nắng ấm, nơi suối cạn, lũ trẻ con tranh nhau dầm chân xuống nước. Một cảm giác mát lạnh, lâng lâng. Rồi chúng tát nước vào nhau, lúc chững lại lội xuống khuấy bùn đất lên đục ngầu, nhưng vài phút sau, lên bờ lại có thể soi mặt ngay vũng nước ấy. Nước chóng trong như tâm hồn trong trắng của lũ trẻ. Nô giỡn đến mệt nhoài, các chú nhóc leo lên đồi nằm nghỉ ngửa mặt nhìn vòm trời xanh bao la vời vợi. Lúc khát nước, các chú đào củ “mưa đá” nhai hay uống. Ai lại trở xuống suối vốc nước cho phiền! Sẵn “cây mưa đá” ở bên cạnh, có hoa vàng, nhỏ như ngón tay, cao chừng một tấc, lũ trẻ chỉ cần một cành thông, cũng ở đâu đó bên chỗ nằm, xới đất sâu độ nửa gang, tìm được ngay một củ “hoa mưa đá” to bằng ngón tay cái. Gỡ vỏ, “củ hoa” trắng tinh. Ai mà cầm lòng được? Và thế, trẻ nhai ngấu nghiến, rất ngon lành. Một cảm giác dèo dẻo ở đầu lưỡi. Và trẻ con hết khát. Trong ý nghĩ của trẻ con Đà Lạt, thì khi những trận mưa đá đầu mùa trút xuống cao nguyên, có những hạt nước đá to bằng ngón tay mà trẻ thường thấy sau cơn mưa, trên cỏ, trên sân, trên hoa, trên lá… những hạt mưa ấy chui lọt xuống lòng đất nằm chờ cho đến cuối mùa mưa, ngoi lên mặt đất, nở hoa vàng mời mọc những bạn quen tìm kiếm đã nô giỡn với chúng, đã nâng niu chúng, bỏ vào những chiếc lon, những cái ly lạnh buốt nên chốc lát chúng tan biến đi như những viên ngọc của những nàng tiên không bao giờ ấm tay người trần thế vô duyên. Truyền thuyết ấy sống mãi trong tâm trí các chú bé Đà Lạt mỗi khi nhai ngấu nghiến củ mưa đá. Có lẽ sự mát lạnh của huyền thoại về những cơn mưa đầu mùa ngấm vào tâm hồn trẻ thơ hơn là tác dụng của củ hoa hoang dã đối với vị giác của lũ bé con chưa từng quen cay đắng của cuộc đời?

Có một dạo Đồi Cù vắng bóng “hoa mưa đá”. Hồi cuối những năm 60 khi xe Sach và Goebel không còn được ưa chuộng, khi xe Honda được dân Đà Lạt mến yêu. Bước chuyển sở thích về xe ấy lại là một tai họa cho loài “hoa mưa đá”, tai họa cho huyền thoại, tuổi thơ Đà thành. Xe Honda tràn lên Đồi Cù. Một môn gọi là “thể thao” mới xuất hiện: đua Honda trên thảo nguyên. Những chiếc xe thi nhau lao lên không trung, rơi xuống, điên cuồng, cày nát không biết bao nhiêu vùng cỏ hoa hoang dã. Sự diệt chủng của một loài hoa không ngờ chỉ vì một trò chơi nhất thời của con người! Dù cho hoa mưa đá đã hiểu thân phận của mình, nên không rực rỡ khoe màu mà sống âm thâm với cỏ dại, hòa mình với màu đất, màu trời! Còn chú bé nào không chịu lôi cuốn trong phong trào “phi Honda” ấy muốn kiếm những củ “hoa mưa đá” trong cơn khát nước phải đợi đến mùa sau! Những mùa sau biết ai còn trở lại? Và biết đâu những tai ương khác lại không đến với muôn loài?

Sườn đồi nhìn về phía trường Bùi Thị Xuân, từ dòng suối qua chiếc cầu nhỏ, khách đi thêm một đoạn đường mòn sẽ gặp nhữmg bụi cây đặc biệt của Đà Lạt: những bụi cây đuôi chồn. Người yêu hoa hồng, cẩm chướng, muốn một bình hoa đẹp thì phải tìm cho được vài lá đuôi chồn để cắm chung. Ai ngờ hoa lá khác loài mà sống chung lại hòa hợp thẩm mỹ đối với khách yêu hoa. Nhưng lũ trẻ chưa đến kỳ yêu hoa, chúng chỉ tìm thấy ở đuôi chồn một phương tiện đùa giỡn lý thú: những chiếc gậy con con, màu nâu đen ngộ nghĩnh đẹp như tuổi thơ của chúng. Thế là chúng chia phe, dùng gậy đuôi chồn khèo nhau chơi, và tiếng cười trong trẻo liên tục truyền đi, lắng tỏ giữa vùng đồi núi mát dịu một màu xanh mênh mông. Có hôm mây trắng ở đâu bay về thật nhiều, hình như có tơ trời nữa. Lũ trẻ cứ nhìn mây trắng và tơ trời ngang qua đầu mà sờ sững, có đứa dùng cây gậy đuôi chồn đưa lên không quyết “khèo” cho được một áng mây qua! ở những thảo nguyên của á châu trầm lắng, người ta có ý tưởng hoặc cảm nhận như trẻ của Đà thành không?

Trước 1975, khách cũng có đến chơi Đà Lạt, tuy không ồ ạt, náo động như bây giờ. Cũng có người lên Đồi Cù nhưng họa hoằn mới mò đến tận Golf Club, nơi các đoàn thể thanh niên học sinh sinh viên thường sinh hoạt. Có một dạo, trong ngôi nhà Golf Club vang vọng tiếng nhạc dân ca quốc tế, nhạc của Trịnh Công Sơn. Thỉnh thoảng ở đây thanh niên nam nữ tập vũ, diễn kịch. Qua cửa kính, khách bước Polka, Mazurka… và nếu ai chú ý, những người say sưa tập vũ, đóng kịch ấy lại có mặt trong các buổi biểu tình đấu tranh ở thành thị. Những kỷ niệm đã qua có còn trở lại?

Những ngày Đà Lạt thật yên, trên đỉnh Đồi Cù vẫn lộng gió. Ta cứ ngỡ gió xôn xao kéo về từ phía hồ Xuân Hương, nơi những chiếc xe đạp nước đang lặng lờ di động. Ngồi trên đồi cao ngắm hồ, ta thấy tâm hồn yên tĩnh lạ thường. Tuổi ấu thơ nhiều thần thoại hình như được quay phim trở lại. Không hẹn mà khách trần ai bỗng trầm lặng. Có lẽ thiên nhiên và con người trong một khoảnh khắc đã hòa hợp cảm thông thực sự với nhau.
1987

Về đầu trang


Hoa Lưu Ly

Trương Chí Dũng


Câu truyện về hoa lưu ly có rất nhiều phiên bản. Một ngày đẹp trời nào đó, khi vào Google, gõ vào từ khóa “lưu ly”, bạn có thể sẽ đến được trang Wikipedia tiếng Việt. Nơi đó câu chuyện về hoa lưu ly, cũng có tên tiếng Anh “forget-me-not”, xuất hiện tại đó. Ít ra là tại trang này có hai phiên bản về hoa lưu ly. Một phiên bản thì kể chuyện hoa lưu ly từ thế kỷ 15 tại Đức.

Còn một phiên bản về hoa lưu ly mang tâm tưởng tôn giáo, cũng xuất hiện từ rất lâu rồi. Thực ra còn một phiên bản nữa về hoa lưu ly nữa. Phiên bản này sở dĩ có là do người viết tình cờ ngủ trưa trên bãi cỏ ven đồi ở nơi mà người dân Đàlạt vẫn gọi là valée d’amour.

Giấc ngủ kéo dài bao lâu không rõ. Chỉ biết rằng khi tỉnh giấc thì trời đã rất chiều rồi. Người viết đi một mạch về nhà, mở laptop ra và ghi lại câu truyện về hoa lưu ly này, như là một phiên bản từ giấc mơ lúc đang ngủ của mình. Chuyện tất nhiên là có một cặp nam nữ rồi, chẳng thóat đi đâu được. Chỉ có điều là nhân vật nữ thì bị mù, đi tham quan Đàlạt cùng với rất nhiều bạn cùng trang lứa, cô nàng tên là Diên. Còn nhân vật nam trong phiên bản này có tên là Vỹ.

Thật ra nếu ghép tên của họ lại thì lại ra một lọai hoa khác, hoa Diên Vỹ, màu tím. Nhưng đó lại là một câu truyện khác, xuất hiện trong một giấc mơ khác, chưa phải lần này. Vỹ gặp một cô gái đang ngồi lặng trên triền đồi thông. Lúc đó chỉ có gió là ồn ào, còn tất cả thì lặng thinh. Chỉ đến khi đến thật gần Vỹ mới nhận ra tình trạng mù của cô gái. Khi nghe bước chân Vỹ đi tới, cô gái vẫn ngồi im lặng. Và điều gây sự chú ý cho Vỹ.

- Anh làm ơn chỉ cho em hướng đi trở lại chỗ đậu xe được không? Vậy là rõ rồi. Vỹ chuẩn bị đóng vai đôi mắt của Diên. Tất nhiên là họ có ngượng nghịu đối đáp với nhau vài câu gì đó. Nhưng để không lõang câu chuyện, người viết lướt qua đọan đối đáp này. Và nóng lòng đi ngay vào phần chính, và rất ngắn, của câu truyện.

- Phía trước mặt em là gần đến bờ nước rồi. May mà em không tự ý đi về phía đó nãy giờ. - Em sẽ dừng lại đây vì đã cảm thấy mình đang rất gần nước. - Rồi em còn cảm thấy quanh em có rừng thông chứ?

- Đúng là em cảm thấy, và em cũng biết là rừng thông rất đẹp nữa. Tự nhiên em nhớ câu: “Kiếp sau xin chớ làm người; Làm cây thông đứng giữa trời mà reo…” Hình như Diên đang cảm thụ đất trời vào lúc Vỹ xuất hiện.

Có lẽ vì vậy mà vẻ ngồi lặng một chỗ của Diên trông rất hồn nhiên.

- Anh tả giúp giùm em một chút về rừng thông nghe? Không hiểu sao, chỗ bờ nước mà Vỹ đang đứng nhìn xuống có một cảnh rất giống trong bức tranh Bờ sông Seine tại Champrosay của Renoir. Nhìn lại phía Diên, Vỹ thấy nhớ lại thoang thoáng hình cô gái trong bức tranh Irène Cahen d'Anvers, cũng của Renoir. (Thật ra là đêm hôm trước, người viết có vào trang Web triển lãm tranh của Renoir và có nhìn thấy hai bức tranh này).

- Rừng thông thì em đã cảm nhận đúng rồi đó. Tả lại sẽ làm cho nó vô duyên đi mất. Nhưng tôi sẽ tả cho em nghe về mấy cụm hoa dại màu tím ở bờ nước dưới kia.

- Ồ thích thật, lại có những hoa màu tím nữa…

- Đúng là chúng rất đẹp, nhưng chúng mọc quá gần bờ nước, nghĩa là rất nguy hiểm nếu em tìm cách đi về phía chúng. Đúng không?

- Lúc ngồi ở đây một mình em cũng cảm thấy quanh mình có điều gì đó rất đẹp, hóa ra là những cánh hoa tím ấy.- Diên nói. Thật ra người viết có thể kéo dài lê thê cuộc đối đáp giữa hai bên, rồi thì sẽ kể chuyện anh chàng Vỹ sẽ đi xuống bờ nước, sẽ ngắt một cành hoa tím lên tặng cho cô gái. Rồi chuyện anh chàng bị lún xuống bãi lầy tại đó và chìm đi nhanh chóng, không kịp kêu cứu, chỉ hướng đôi mắt về phía Diên như nói là “xin đừng quên tôi”. Nếu như vậy là lại giông giống một phiên bản nhiều người đã biết. Do vậy mà người viết phải kéo mình ra khỏi sự xúc động riêng tư và quay lại kể đọan cuối của giấc mơ của mình.

Câu chuyện tiếp theo là như thế này: Lúc Vỹ ngắt cành hoa tím và quay lên bờ đưa tăng cho Diên, lúc đó trời đã về chiều. Rồi thì Vỹ dẫn cô gái đi dần về phía bãi đậu xe du lịch để cô nàng có thể quay trở về thành phố Đàlạt.

Cuộc chia tay bắt đầu mang hơi hướng lãng mạn cũng bị người viết đắn đo thêm thắt, mô tả rất dài dòng, và cuối cùng thì quyết định cắt bỏ vì thực ra đọan ấy cũng không có trong giấc mơ chập chờn của mình. Biết sao được, phải kể lại cho trung thực thôi. Thực ra trong giấc mơ là như sau: Lúc xe chạy rồi thì Diên vẫn chưa hề biết khuôn mặt của Vỹ ra sao. Cô nàng ôm cành hoa tím vào lòng. Lúc đó thì Vỹ đi vội lên ngọn đồi phía bên phải.

Chắc là khi xe đã chạy xa, Diên mới bắt đầu có cảm giác là mình vừa lạc mất trong đời, chắc là vĩnh viễn, một người rất thân, người đã đặt vào tay mình cành hoa và mô tả là nó mang một màu “tím” rất đẹp. Sở dĩ người viết giật mình thức dậy là vì hình như có tiếng kêu của Vỹ, có vẻ như là một câu đại để là “xin đừng quên tôi”. Một điều mà xúyt chút nữa người viết quên ghi lại đây. Thực ra chỉ là một chuyện nhỏ. Đó là tên của hai nhân vật trong truyện này là do người viết tự gán cho hai nhân vật. Còn thực ra lúc nằm mơ, chỉ có hình ảnh hai nhân vật là có thật, còn lại là sự thêm thắt của người viết. Hơn nữa ai đã từng nằm mơ thì cũng biết là mạch chuyện trong mơ không liên tục, chập chờn, và logic của nó đôi khi rất khó tin. Mơ mà.

Về đầu trang


Không Phải Dễ

Trương Chí Dũng


Nhà Mai có một cây mận Trại Hầm.

Đến mùa mận Mai mang đến lớp mận và muối ớt, chia cho bàn của mình vào những lúc ra chơi. Việc trở thành thông lệ đến mức Mai có tên tại lớp là Mai mận.

Khi Duy vào học cùng lớp với Mai thì biệt danh Mai mận đã quá quen thuộc, không ai còn thắc mắc về nguồn gốc của nó nữa.

Không phải vậy đâu. Còn có một người thắc mắc: Duy.

Khuôn mặt Mai tròn tròn, hay ửng hồng nhất là vào mấy hôm đi học sớm.

Sau này Duy tự nghĩ biệt danh Mai mận xuất phát từ khuôn mặt tròn tròn, có một chút hồng rất Pastel ấy.

Mỗi ngày thứ bẩy bao giờ Duy cũng buồn buồn khi học xong tiết học cuối cùng.

Mỗi ngày chủ nhật đến bao giờ cũng dâng lên một không khí nghèn nghẹn. Một ngày nữa sẽ không gặp Mai. Vậy đó.

Chúng ta sẽ nói: Ồ, thật là lắm chuyện! thích thì cứ đến nhà mà tìm. Hơi đâu mà buồn cho mệt.

Vâng. Vậy là để kết thúc cảm giác buồn buồn của mình, Duy đã quyết định là ngày chủ nhật này sẽ đến nhà Mai. Và sẽ chia tay với nỗi buồn rất vu vơ lâu nay.

Đã qua mùa mận từ lâu. Lúc này thì Duy không đến nhà Mai với lý do để được chia sẻ những qủa mận nữa. Mọi lý do đều xuất hiện theo mùa. Dùng một lý do trái mùa sẽ là một tai họa.

Chỉ quanh quẩn tìm cho ra một lý do hợp lý luc này cũng đã làm Duy tốn khá nhiều thời giờ.

Mượn vở chép bài ư? Cũng có thể, nhưng rõ ràng là Duy chẳng vắng mặt buổi học nào để mà phải mượn vở.

Cuối cùng thì Duy tìm ra một lý do. Sẽ mượn cô nàng chiếc máy ảnh cho có chuyện. Số là hôm nọ dịp lễ hai mươi tháng mười một, Duy thấy Mai xách máy ảnh lên lớp. Phải rồi, Duy quyết định lý do đến nhà Mai là để mượn máy ảnh.

Sau khi bấm chuông ở cổng xong, Duy biết là mình không thể quay lại, không thể bỏ chạy và chỉ còn một nước là đương đầu.

Quái thật. Là bạn hằng ngày thấy nhau tại lớp. Tên hai đứa cùng nằm trong sổ điểm cách nhau mười bốn dòng. Đâu đã là ngăn sông cách trở gì mà sao hôm nay Duy lại thấy công việc đứng lại chờ cho đến lúc Mai hiện ra cửa sao mà khó đến vậy.

Có tiếng cửa xịch mở. Một chú bé nhô đầu ra. Hóa ra cô nàng có một người đàn ông bảo vệ hẳn hoi. Tay phải thả cái chốt cửa, tay trái đẩy tiếp cánh cửa rộng ra. Người sẽ-là-đàn-ông ấy lên tiếng:

- Anh hỏi ai?- Chú bé có vẻ quen với cảnh đón tiếp người lạ lâu nay.

- Cho anh gặp chị Mai.

- À, vậy anh là anh Nam phải không ?

Chết rồi. Chúng ta không thể nào ngờ rằng Duy phải lúng túng ngay sau câu hỏi thứ hai này. Có một loại “anh Nam” nào đó đang được chú bé quan tâm. Và anh Nam ấy chắc thường được Mai nhắc đến. Rút lui thì không kịp. Chỉ còn có nước nói thật tên mình. Và chấp nhận mình đứng xếp hàng trong đầu chú bé đứng phía sau một “anh Nam” ăn hại nào đó. Đó là trong đầu chú bé, còn trong đầu Mai thì lại là một bài toán khác. Một thứ tự khác nữa.

- Không, anh là Duy, lớp chị Mai.

- À, anh Duy, lớp chị Mai.

Chú bé quay vào trong mà không mời Duy bước vào. Chuyện này cũng thường. Duy chấp nhận đứng lại lưng chừng gần cửa ra vào, tiện thể đưa mắt nhìn quanh. Mấy cây mận trong vườn không còn một trái nào. Mùa mận qua lâu rồi.

Lúc Mai đi ra thì Duy đang nhìn đi nơi khác, lưng quay về phía cửa.

- Ủa, ngọn gió nào...

Duy quay lại, hai má Mai đỏ ửng.

- Thì có một ngọn gió...

Chúng ta tạm hài lòng với khung cảnh ban đầu này. Vậy là hai ngọn gió đã gặp nhau ngay tại cổng nhà này. Ôi, những ngọn gió trông dễ thương thật.

Chú bé, người sẽ-là-đàn-ông ấy chưa chịu rời bỏ nhiệm vụ của mình. Chú im lặng đứng nhìn dò xét. Không phải dò xét một người, mà cả hai ngưòi. Như thể chú đang xem phim.

- Ngày chủ nhật Duy không đi đâu chơi sao?

- Thì đi đến đây còn gì.

- Ghé ngang hay từ nhà đến.

- Từ nhà. Để mượn Mai chiếc máy ảnh. Đáng lẽ Duy nên để dành lý do đáng giá ấy nhằm kéo dài câu chuyện. Đàng này, chỉ mới có mấy câu, không ai ép, Duy lại đã phun ra ngay lý do mà mình mất biết bao nhiêu giờ suy nghĩ để nặn ra.

- Vậy thì chờ Mai chút nghe, Mai vào lấy.

Lại đứng tần ngần, vẫn chưa vào đến bên trong nhà. Lần này thì chú bé vẫn đang xem chuyện phim của mình. Chú bé tỏ vẻ thông cảm với lý do đến nhà của Duy. Một lý do chính đáng biết bao. Tiếp tục chờ đợi.

Mai quay ra với chiếc máy ảnh.

Và Duy, sau khi đã cám ơn vội vã, quay đi và dấu nỗi thất vọng vì quá mau miệng của mình, ra về. Chú bé bị ngắt khỏi đoạn phím rất ngắn của mình, đứng nhìn theo Duy. Cũng tiếc.

Duy chưa bao giờ chụp ảnh. Đúng hơn là chưa bao giờ dùng một máy ảnh để lấy hình. Cất máy ảnh cẩn thận trên một góc tủ và chờ đến chủ nhật tuần sau mang trả. Ở lớp trong tuần này Mai không hề tỏ ra một thái độ gì đặc biệt với Duy, cả không hỏi thăm Duy về việc dùng chiếc máy ảnh. Mạnh ai nấy học và một tuần nữa trôi qua thật chậm. Cho đến khi ngày chủ nhật lại quay về.

Lần này thì Duy sở hữu sẵn một lý do rất mạnh để đến nhà Mai một cách danh chính ngôn thuận.

Sáng sớm, Duy đã ra khỏi nhà, đi lang thang và mua một gói chewingum (cái này sẽ là dành cho chú nhỏ canh cửa). Giờ này thì quá sớm để đến nhà Mai nhưng lại quá sốt ruột nếu cứ đi quanh quẩn ở nhà chờ đợi.

Bấm chuông. Chờ. Chú bé sẽ-là-đàn-ông xuất hiện đúng như kịch bản.

- A, lại anh Duy chị Mai ơi. - Vậy là lần này thứ tự trong đầu chú nhỏ có ít nhiều cải thiện.

Duy chìa gói chewingum ra. Chú nhỏ liếc nhìn vào trong, khựng lại một giây rồi cầm lấy, bỏ chạy vội vào trong quên cả cám ơn và mời Duy vào nhà.

Duy đứng tần ngần nơi cửa, gần chỗ đã dừng chân hồi chủ nhật trước. Không tiến thêm được bao nhiêu sau một tuần. Khi Mai bước ra thì, khác lần trước, Duy đang quay mặt về phía Mai. Không phải bắt đầu bằng câu “ Ngọn gió nào…” nữa.

- Tới trả máy ảnh cho Mai.

Điều tệ ở đây không phải là một câu vào chuyện hơi què quặt. Điều tệ là ngay câu nói đầu tiên Duy đã vội dùng ngay và dùng cạn mất lý do chính đáng dành dụm cả tuần nay của mình. Ngay lúc ấy, Duy nhận ra ngay sai lầm của mình...

Điều tệ hơn nữa là, khi thấy mình chẳng còn lý do gì đứng lại, Duy vội vã cảm ơn và quay ra phiá cổng.

Chúng ta nhìn thấy là : mất đến hai chủ nhật rồi là Duy chưa bước qua được cửa vào nhà Mai. Quên. Không phải chỉ chúng ta biết. Còn chú nhóc cũng biết. Bằng chứng là chú yên tâm đứng nhai chewingum, lưng dựa vào tường trong tư thế người bảo vệ kiên cường của mình. Chú tiếp tục xem đoạn phim bị bỏ dở từ chủ nhật trước. Trong lúc Duy đã ra khỏi cổng, Mai vẫn đứng ngay cửa nhìn theo. Chú nhóc định gọi với theo nhưng nghĩ sao lại thôi...

Không hiểu Mai sẽ ngạc nhiên đến mức nào nếu vài ngày sau, khi cô nàng mở máy ảnh ra và nhận thấy phần phim ảnh dở dang trong máy của mình vẫn còn đó, không nhảy lên một số mới nào chứng tỏ có ảnh mới chụp cả. Trời ạ, là sao đây?

Về đầu trang


Lụa Hà Đông

Trương Chí Dũng

Lúc mới lớn lên, đến trường học vào năm lớp mười, đã thấy bạn bè ghi hai câu thơ trong vở:

...Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát,

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông...

Long chợt chú ý ngay đến “áo lụa Hà Đông” từ dạo ấy.

Sau này khi nghe trong một bài hát có câu ấy, Long đâm ra thích áo lụa Hà Đông. Thích khơi khơi vậy thôi, chẳng rõ vì sao. Không có bóng dáng nào mang hình ảnh áo lụa ấy làm xiêu lòng của Long cả. Đó là một tình cảm rất mơ hồ nhưng có thực. Cứ mỗi lần vào quán nhạc nào nghe lại được bài hát ấy, tự nhiên Long có cảm tình với quán nhạc đó. Cũng lại là kiểu cảm tình khơi khơi chẳng gắn vào ai cả. Long yêu áo lụa Hà đông một cách hoàn toàn vô tư, không điều kiện, và đậm đà dần lên. Yêu áo chứ chưa từng yêu người mặc áo. Đó là hồi ấy.

Sau này nghe nói ở Bảo Lộc cũng có lụa, ở Tân Châu cũng có lụa, vậy mà không hiểu sao lụa Hà Đông tự nhiên lại ám vào lòng Long một cách bền bỉ đến nỗi, tuy chưa thấy mặt mũi những tấm lụa nơi khác ra sao, tuy có nghe nói lụa Tân Châu nhuộm bằng mặc nưa rất đẹp, Long vẫn cảm thấy chỉ có lụa Hà Đông mới đúng là lụa.

Long muốn đi tìm áo lụa Hà Đông. Tìm để cho biết vậy thôi. Nghĩa là nếu có tìm thấy thì có lẽ Long sẽ vô cùng lúng túng vì chẳng rõ sau khi nhìn thấy chiếc áo lụa ấy mình sẽ tiếp tục muốn gì .

Rồi cũng đến một ngày Long đi Hà Nội. Vào đúng những ngày nóng nhất của năm : tháng sáu. Đến Hà Nội trên một chuyến tầu lửa vào buổi chiều. Sống lâu năm ở xứ lạnh, tự nhiên lại rơi vào một mùa nóng đến ngộp thở, Long cảm thấy người như say và vã mồ hôi ngay cả lúc năm giờ sáng.

Ngay chiều hôm sau, theo chỉ bảo của bạn bè từ hồi trước, Long ra hồ Hoàn Kiếm tìm bến xe điện. Ai cũng quở là dại quá, đi làm qủy gì cái thứ xe cà rịch cà tang ấy. Mặc kệ, cuộc sống trôi qua qúa nhanh rồi, mấy khi được níu thời gian ở lại với mình. Vậy là Long thanh thản ngồi trên xe điện để mặc nó lôi mình đi.

Xe điện đi rất chậm, như đi dạo nhàn tản, và rồi cũng đến nơi. Cuối một vòng đi của xe điện là Hà Đông. Long bước xuống với vẻ mặt ngơ ngác. Ao lụa đâu rồi, chỉ thấy toàn người với người, thật khác với không khí mà Long vẫn hình dung ra từ câu thơ lâu nay. Hơi thất vọng. Long bước đi chầm chậm qua bên kia cầu sông Nhuệ và loay hoay tìm nhà một anh bạn họa sĩ quen ở đó. Không khí ở đây chuyển dần từ thành thị sang nông thôn. Gặp những mái đình, những bờ tre. Cảnh làng xóm trong những ngày còn đi học, như từ trong sách giáo khoa đang bước ra chào Long. Mình đi tìm gì đây? Long vẫn không biết nữa. Ơi, áo lụa Hà đông ẩn nấp ở đâu? Qua những ngõ quanh co, lúc nào Long cũng ngong ngóng hy vọng gặp được áo lụa Hà Đông của mình. Suốt buổi chiều lang thang đầu tiên ở Hà Đông chưa hứa hẹn với Long điều gì cả.

Chiều xuống. Long lại lần theo đường cũ trở về trạm xe điện. Bước lên xe, Long còn ngoái cổ như ráng chờ đợi một một người quen. Vẻ mặt Long như lỡ hẹn với ai đó. Thực ra thì chẳng với ai cả, nhưng vẫn có cảm tưởng như là có hẹn. Chỉ có Long mới thầm nhận ra điều ấy. Và, cuối cùng khi xe điện đưa Long về đến Ngả tư Sở, Long vẫn biết mình còn thèm khát một chút gì đó bỏ lại đàng sau . Mặc. Xe điện vẫn lạnh lùng lôi Long trở về Hà nội và vất Long xuống Bờ Hồ. Phố đã lên đèn từ lâu. Đèn đường như yên lặng trước một bóng người bước về lầm lũi, lỗi hẹn.

Ngày hôm sau. Long ra phố Tràng Tiền ghé vào một quày sách và cố tìm xem có quyển sách nào nói về vùng Hà Đông không. Cuối cùng Long tìm được một quyển sách : quyển Làng Xã ngoại thành Hà Nội. Hy vọng quyển sách này sẽ vui lòng giúp mình. Quyển sách phủ một lớp bụi dầy. Khi cô hàng sách đưa quyển sách ra cho Long xem, một lớp bụi còn bay tung lên, rồi đáp nhẹ xuống trong vùng không gian trước mắt chàng. Một quyển sách in trên giấy đen, có lẫn đây đó những hạt cát trong giấy. Trong sách có một tấm bản đồ Hà Nội, in khổ nhỏ.

Long trở về nằm lại tại nhà nghỉ trong một không khí nặng và nóng. Trên bàn là một bọc dưa lê (lần đầu tiên Long biết đến) và mấy qủa sấu ( cũng lần đầu tiên ăn bát canh có hương vị sấu trưa hôm qua). Bắt đầu từ tấm bản đồ, đi tìm vùng Hà Đông. À, đây rồi, có một chữ Hà Đông nằm giữa hai chữ Hoài Đức và Thanh Trì. Hoài Đức thì mới nghe lần đầu, còn Thanh Trì thì có biết rồi. Tại Đàlạt, nơi Long sinh ra và lớn lên, có một hiệu bánh cuốn mang tên Thanh Trì. Hóa ra không phải chỉ con người, mà bánh cuốn và áo lụa cũng có một cuộc sống phiêu bạt riêng của mình.

Tìm trên bản đồ thì thấy nhưng Long muốn tìm đọc những gì người ta viết về Hà Đông thì tìm mãi không thấy. Chàng gấp quyển sách lại, đưa tay lấy một quả dưa lê. Trời nóng không thể tưởng.

Khi ăn dưa xong, Long lại tiếp tục lục lọi trong quyển sách. Lúc ấy Long có cảm tưởng là, chỉ với một chút cố gắng, sẽ tìm thấy áo lụa Hà Đông của mình trong quyển sách ấy. Sách vẫn đang cố gắng giúp Long. Khi quay lại trang 11, Long đọc dòng ghi chú thứ ba ở cuối trang :

Thị Xã Hà Đông tạm thời do tỉnh Hà Sơn Bình quản lý nên chúng tôi không tính vào đây.

Vậy là hết, Long buông sách đứng dậy, ra chống hai tay nơi cửa sổ nhìn xuống con đường Lê Thánh Tông. Chiều xuống dần, cơn nóng vẫn chưa có dấu hiệu gì dịu xuống. Mồ hôi vẫn vã ra ướt cả áo. Lại một buổi chiều nữa qua đi mà Long cảm thấy tiếc. Tiếc một cách mông lung. Chẳng biết mình tiếc cho điều gì nữa.

Buổi tối, Long đi lẩn thẩn ra Bờ hồ. Không định trước nhưng tự nhiên chân lại vẫn bước về hướng trạm xe điện bên hồ. Long chờ cho đến khi chuyến xe điện đổ hết khách xuống. Mắt nhìn đăm đắm vào dòng người bước xuống từ xe. Như chờ đợi đón một người thân. Chắc chắn đêm nay sẽ không gặp ai. Không hy vọng tìm thấy sự hò hẹn mông lung từ hồi rất trẻ của mình. Vậy mà vẫn đứng như trời trồng. Chờ đợi.

Trong liên tiếp mười ngày tiếp theo, mỗi khi rỗi việc công tác, Long lại lên ngồi trên xe điện túc tắc trôi về Hà Đông. Từng ngày lại qua đi. Không đi thì tiếc. Đi thì lúc bước xuống Hà Đông rồi Long không biết sẽ tiếp tục đi về đâu. Có lần Long đứng tần ngần ngay trên cầu sông Nhuệ hàng giờ, nhìn nước trôi qua cầu như một đứa trẻ. Cũng có ngày ngồi thờ thẫn trước nhà Văn Hoá Tỉnh, như ngồi chờ đợi người quen . Lại cũng có ngày Long lần mò hết cửa hàng này qua cửa hàng nọ. Cửa hàng nào cũng tắp vô vài phút, rồi lại tiếp tục đi. Chẳng mua gì, chẳng hỏi gì mà cũng chẳng gặp gỡ ai. Chẳng lẽ mở miệng ra hỏi đâu là áo lụa Hà Đông. Long ngại phải hỏi như vậy.

Hôm rời Hà Nội, Long ngồi dãy băng ngược trên tầu. Vậy là mọi cảnh vật vùng ngoại thành Hà Nội cứ từ từ rời xa chàng, nhỏ dần và sau cùng mất hút. Long vẫn mang tâm trạng lỗi hẹn giống như ngày đầu khi rời khỏi Hà Đông. Mắt cay cay, lúc tầu đã ra hẳn ngoại ô, ngang qua những cánh đồng. Vậy là mình chưa có duyên gặp được áo lụa của mình.

Cuối năm 1994, tình cờ đọc được một phóng sự ngắn trên tờ tạp chí Tuổi Trẻ Chủ Nhật viết về ấp Hà Đông ở Đàlạt. Quái. Tại sao sau khi đọc xong bài báo ấy, tự nhiên mọi hình ảnh cũ về những ngày lang thang tại Hà Đông lại tiếp tục quay về. Long cứ tưởng mình sẽ chẳng bao giờ quay lại với điều ấy nữa. Hóa ra là, ngoài một Hà Đông thật xa, ngay bên cạnh Long, lại có một Hà Đông nữa mà mình không hay. Cả hai Hà Đông này bà con với nhau. Bài báo nói như vậy.

Trời lúc này lạnh. Long thả bộ về phía ấp Hà Đông. Một bên là con đường Phù Đổng Thiên Vương dẫn lên Thung Lũng Tình Yêu, bên kia là những vườn rau và hoa. Hà Đông nằm ở đó. Xa hơn nữa là nghĩa trang thành phố lặng lẽ tựa vào ven đồi. Ai đã về đến nghĩa trang, họ thôi không còn hẹn hò gì nữa và nằm tĩnh lặng ngắm trời xanh. Đứng bên này đường Long nhìn qua thung lũng rau hoa ấy với một tâm trạng giống như lúc bước xuống Hà Đông từ xe điện. Vừa bỡ ngỡ, vừa như có hẹn trước với ai. Trời vẫn nắng chói chang nhưng lạnh buốt. Long đang tiếp tục cuộc hành hương thứ nhì của mình sau một thời gian gián đoạn.

Gặp những nữ sinh đi học sớm, Long ngoái lại nhìn. Không phải lụa, chỉ là hàng ngoại nhập trong hình hài chiếc áo dài. Không phải áo lụa Hà Đông. Long tiếp tục lầm lũi đi. Hình như Kinh thánh cũng có ghi : hãy tìm, sẽ thấy, hãy gõ cửa, sẽ mở. Gió từ phía đường lên thung lũng tình yêu cứ tràn về ngập cả ngực . Đúng là bù lại cho những ngày nóng khủng khiếp ở Hà Đông năm xưa. Chỉ có những bước chân của Long là liên tục. Và, lòng hoài mong vẫn không có gì thay đổi.

Nếu tình cờ trên con đường từ ấp Hà Đông ra phố, bạn gặp một anh chàng vẻ mặt đăm chiêu, có lẫn vẻ ngơ ngác, ngoái nhìn bạn lúc đi qua, xin bạn vui lòng bỏ qua cho anh ta. Hay là nếu được, bạn hãy tỏ ra thông cảm với anh ta. Đó không phải là một người tâm thần. Anh ta lúc nào cũng ra đi từ sáng sớm và trở về khi trời đã sụp tối. Anh ta hay ngẩn nhìn những tà áo dài, rồi lầm bầm một câu gì đó. Hy vọng của anh ta là tìm gặp cho được dáng vẻ của áo lụa Hà Đông. Điều này không biết rồi ra anh ta có tìm thấy không, nhưng việc anh ta phải lòng câu ”... bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” là điều có thực. Chắc chắn như vậy. Cho nên ngày nào anh chàng cũng lại hăm hở ra đi…

Về đầu trang


Một Đêm Sinh Nhật

Trương Chí Dũng


Khi phóng xe lên dốc Hòa Bình hồi chiều, Vũ nghĩ mình đang bay lên trời. Đàlạt gồm những qủa đồi liên tiếp nhau. Những qủa đồi lớn nhỏ, nằm bên nhau như những đợt sóng biển xô vào tận chân núi Lang Biang. Thật ra ngay cả Khu Hòa Bình cũng là một quả đồi.Tiếc là bây giờ gạch đá , xi măng và nhựa đường phủ lên làm nó mất đi dáng vẻ đồi. Cứ đi từ bất cứ chân qủa đồi nào lên, bầu trời cứ mở ra dần, cho đến khi đứng trên đồi, gió lành lạnh, bao giờ cũng có cảm giác bay bổng. Và chiều nay khi phóng xe từ dưới dốc lên, Vũ nhận được chính cảm giác ấy.

Nhận được một thư mời dự sinh nhật của Chi Lan, ngay lúc cầm thư Vũ cũng đã muốn bay bổng rồi.

Mượn xe, mượn luôn cả đôi giầy da của Khang, coi như phần lo toan cho phương tiện đi lại tạm ổn. Qùa thì nhờ đứa em họ, cũng trọ học như Vũ, đi phố lựa và gói dùm, xong hồi năm giờ chiều. Còn non hai tiếng nữa là bắt đầu vào buổi chơi đầy thú vị này.

Mùa này, tháng mười ta, trời ập tối nhanh kinh khủng. Mới hơn năm giờ rưỡi mà đã nhá nhem. Vũ vừa chuẩn bị, vừa huýt sáo. Đến sớm quá cũng không nên. Mình phải làm bộ tới chậm vài phút cho có vẻ quan trọng, và có vẻ tự nhiên hơn, Vũ nói thầm với mình như vậy. Đôi giầy lấy của Khang thì vừa khít, tuyệt, đi lại rất thoải mái. Bây giờ chỉ còn chờ đến bảy giờ kém mười lăm là lên xe vọt xuống nhà Chi Lan. Xong chuyện.

Gửi xe của Khang ở đầu hẻm từ chiều, vì từ đường cái vào đến nhà trọ của Vũ hơi gập ghềnh, sợ hư xe. Lúc sáu giờ rưỡi chiều, Vũ bắt đầu rời nhà đi ra đầu hẻm. Chuẩn bị lấy xe đi. Có lẽ rồi ra thay vì định đến trễ vài phút, Vũ lại lập luận là nên đi sớm kẻo Chi Lan chờ cũng tội. Khách tối nay sợ không đông. Mưa cuối mùa đang kéo đến vào lúc chập choạng tối. Lạnh. Lập luận nào cũng ra vẻ đúng cả.

Chiếc chìa khóa xe Cup được Khang gắn trong một khoen tròn. Đầu khoen có một miếng nhựa dầy và nặng, trên có ghi nhãn hiệu Ricoh. Vũ xỏ ngón tay cái vào cái khoen tròn, xoay xoay miếng nhựa tròn lúc bắt đầu đi ra hẻm. Miệng huýt gió. Hẻm vào sâu khoảng năm trăm mét kể từ đường cái. Một bên là bờ tường xi măng, một bên là hàng rào dâm bụt thấp, ngăn chia hẻm với vườn rau thơm và cải bắp thảo. Qua nhiều mùa mưa lầy lội, mới đây dân trong hẻm góp vốn đặt được một đường cống nhỏ thoát nước, bên trên phủ những tấm đan xi măng, chỗ có, chỗ không, chưa hoàn chỉnh.

Cái chìa khóa xe, khi gia tốc quay đủ lớn, từ ngón tay trỏ của một anh chàng đang hứng chí và hăm hở đi dự sinh nhật, đã bay xà rớt xuống mặt hẻm, hình như rớt xuống kẽ hở giữa hai tấm đan, mất hút. Bên dưới cống, do mùa mưa vẫn còn, nước cống cao xâm xấp và kéo theo nhiều bùn đen, bao ny lông, và lá cây mục.

Vũ chợt nhận ra ngay tình trạng bi đát bất ngờ của mình. Trời bắt đầu tối. Mưa lất phất. Không có cả cái bật lửa trong tay. Nhìn xuống kẽ hở giữa hai tấm đan, lượng sức, và cuối cùng Vũ quyết định lôi một tấm đan lên. Lúc này chắc chắn là Chi Lan đã bắt đầu đón những người bạn đầu tiên đến, thôi thì mình chịu trễ vài phút, Vũ nghĩ như vậy.

Hóa ra là nước cống bên dưới chảy siết hơn Vũ tưởng nhiều. Khi một tấm đan được bật lên. Mùi hôi từ dưới bốc lên rất khó chịu. Quyết định xắn cao bên tay phải đến gần nách, và cởi chiếc áo veston chiến nhất của mình vắt lên hàng rào dâm bụt, Vũ xộc tay phải xuống dòng nước cống đen ngòm đang chảy mạnh. Không biết Chi Lan đã đón tới người bạn thứ bao nhiêu rồi ? Hình như mình đang bị tất cả bỏ quên lại trong dòng nước cống bẩn thỉu hôi hám này. Trời mưa mưa rất lạnh, nhưng mồ hôi bắt đầu tuôn ra trên ngực Vũ, một thứ mồ hôi nhầy và bắt đầu một nỗi sợ.

Khi gặp những điều xấu, hãy gắng chọn điều ít xấu nhất. Trong đầu của Vũ có ngay một kế hoạch. Năm phút cho việc mò tìm trong dòng nước cống đen và hôi hám này. Sau đó quay về nhà ngay và tẩy uế trong mười lăm phút. Phóng xuống nhà Chi Lan trễ khoảng mười lăm phút. Chấp nhận được. Và đó là điều ít xấu nhất phải lựa chọn ngay lúc này.

Cơn mưa cuối mùa lớn dần lên rất nhanh, gió lạnh nhưng bây giờ Vũ như toát mồ hôi. Phải chạy đua với thời gian rồi. Cái chìa khóa khỉ gió thật. Nếu mình cứ nắm chặt lấy nó thì đến nỗi gì.

Năm phút trôi qua rất nhanh. Chưa tìm thấy gì cả. Dòng nước cống hôi hám ban đầu đã dần trở nên quen thuộc. Vấn đề bây giờ là phải đi dần xuống theo dòng nước. Có thể miếng nhựa dầy có dòng chữ Ricoh ấy đã bị cuốn trôi theo dòng nước. Vũ quyết định xài tiếp mười lăm phút nữa cho việc mò mẫm tiếp xuống khoảng hai mét kể từ tấm đan bị lật lên. Lúc này thì không phải một tay phải đã tham gia mà là cả hai tay. Cánh tay trái do không được xắn lên từ ban đầu nên bây giờ được thọc sâu vào trong nước cống với cả phần tay áo còn cài khuy nút hẳn hoi,rất lịch sự. Nhìn từ xa, và nếu có đủ ánh sáng, giống như Vũ đang đi bắt ốc ở dọc các ao hồ. Chắc chắn lúc này cổng nhà Chi Lan đóng lại rồi, và sẽ chỉ đóng hờ, dành cho mình. Có lẽ phải mau mau thoát khỏi cảnh này, Vũ bắt đầu nóng ruột.

Qúa hai mét nữa là một nơi thoát nước chính của cống này. Một rờ ga. Dòng nước đến đây chảy bắt đầu mạnh và xoáy hơn. Còn hơn một mét nữa là chạm phải nắp rờ ga rồi. Đi đến đoạn nào, Vũ ráng sức lật tấm đan che đoạn cống ấy lên, và đồng thời lấp lại tấm đan cũ nơi vừa đi qua. Mấy người hàng xóm đi về trong hẻm khi đó đã tối, chỉ tránh qua một bên rồi tiếp tục đi. Hình như mọi người thấy cảnh ngộ đó cũng bình thường. Chắc là ai đó đang vét cống vậy thôi. Vũ cảm thấy mình hơi lẻ loi.

Đã lại xài cạn mười lăm phút tiếp theo của mình mà chẳng đem lại kết qủa gì, Vũ bèn phải chuyển ngay qua một quyết định khác. Phải thay đổi ngay, và trong những điều xấu còn lại, gắng sức chọn một điều ít xấu nhất có thể chấp nhận được. Bỏ chiếc chìa khóa xe, mai ra nhờ thợ khóa đánh lại một cái khác cho Khang là xong. Vũ lấp tấm đan mới lật lên cuối cùng xuống mặt cống. Khi thả tấm đan xuống, do hơi nặng, Vũ hơi bị chúi người chồm ra trước. Hình như có một vật gì khá nặng vừa rơi khỏi từ trên áo.

Nếu lúc đó trời không tối sẽ thấy mặt của Vũ tái nhợt. Gói qùa sinh nhật dành cho Chi Lan vừa bị rơi. Đó là một hộp trang điểm dã chiến , hiệu Revlon, dành cho khách đi đường hàng không, xinh xắn và dễ thương. Khi mở hộp ra hầu như một thế giới màu sắc thu gọn, mỗi thứ một ít, rất ít. Chỉ dùng vài lần là cạn, nhưng chắc chắn Chi Lan sẽ thú vị vô cùng với món qùa này.

Món qùa ấy chỉ để lại một tiếng rơi ngắn gọn. Mất hút ngay dưới dòng nước cống. Không lý luận gì dong dài. Lật tiếp ngay tấm đan trước mặt, Vũ lại xộc tiếp hai tay xuống dòng nước đen ngòm Cùi thôi sợ lở.

Mất thêm mười phút nữa. Vẫn chẳng tìm thấy gì. Thật kỳ lạ . Chiếc hộp mới qủy quái làm sao. Mới nhảy ra từ túi trên của chiếc áo sơ mi trắng. Giờ cũng đã chẳng còn tăm hơi. Quái thật.

Khi áng chừng là nãy giờ chiếc hộp bị ngâm trong nước đủ lâu để nước đã có thể ngấm vào và tàn phá những gì xinh xắn nhất mà hồi chiều lúc mở ra xem còn nhìn thấy , Vũ quyết định ngay một hướng khác.

Trong những điều rất xấu còn lại, dù đau lòng, hãy cố gắng chọn điều ít xấu nhất. Bỏ lại món qùa sinh nhật, chiếc hộp Revlon qùa sinh nhật của Chi Lan, cho dòng nước cống đen ngòm này tha hồ dày vò. Bỏ lại chiếc chìa khóa xe. Vũ quyết định quay ngay về nhà tẩy uế và đón xe thồ cho kịp đi xuống nhà Chi Lan. Qùa sinh nhật sẽ mua lại lúc ghé ngang phố. Chi Lan sẽ thông cảm cho mình. Sẽ thanh minh với nhau sau. Đời còn dài. Hình như buổi sinh nhật đã bắt đầu hơn một tiếng rồi là ít.

Vũ quay lại hàng rào dâm bụt và gỡ chiếc áo veston, giờ đã ướt đẫm nước mưa, lủi thủi quay về nhà. Bây giờ mới thấy lạnh. Dáng đi lập cập của Vũ về trước cửa nhà nếu có ai thấy lúc đó chắc cũng phải động lòng. Như một kẻ vửa được vớt từ dưới ao lên. Ướt lóp ngóp.

Khi tìm mãi không ra chiếc chìa khóa vào nhà thì Vũ mới lờ mờ nhận ra thêm tình cảnh bi đát của mình lúc này. Nhớ lại tiếng rơi của gói qùa sinh nhật xuống cống khi nãy. Lúc tiếng gói qùa chạm nước cống, đúng ra Vũ nghe có hai tiếng vọng lại nhưng vì sự việc xảy ra quá nhanh nên nãy giờ Vũ chỉ nghĩ đến sự kiện gói qùa rơi. Hóa ra là cả chiếc chìa khóa phòng trọ cũng đã đi theo gói qùa ngay lúc ấy.

Trong những điều xấu còn lại, thôi đành phải chọn cho được một điều ít xấu nhất. Để chọn được điều này cũng đã phải mất đến gần nửa giừ dằn co giữa việc tiếp tục đi hay thôi. Và cuối cùng là thôi. Khuya rồi. Buổi sinh nhật ấy cũng đã tàn rồi. Vũ tự an ủi mình như vậy khi quyết định thôi không đi nữa. Rón rén đi qua phòng khách, gõ cửa phòng bé Thảo, mượn nó chiếc chìa khóa dự trữ, Vũ lò dò trở về phòng và bật sáng đèn phòng trọ của mình. Bây giờ thì quá lạnh. Dường như không còn một chỗ nào trên người còn khô ráo nữa. Nước cống, cùng với mùi vị khó chịu của nó, thấm vào người Vũ một cách toàn hảo nhất. Từ đầu đến chân...

Vũ trở dậy lúc bẩy giờ sáng để tìm cách đi đánh ngay chiếc chìa khóa khác trả lại xe cho Khang đi làm sớm. Chỉ có nửa tiếng đồng hồ để xoay sở. Lúc đi từ cuối hẻm ra đường, ngang đoạn cống tối hôm qua đã làm khổ mình, Vũ liếc mắt nhìn những tấm đan mà tối hôm qua mình đã lần lượt lật từng tấm lên.

Dưới chân hàng rào dâm bụt, ngay chỗ mà Vũ đã vắt chiếc áo veston của mình, chiếc chìa khóa nằm đó. Tấm nhựa dầy nối với khoen chìa khóa có mang chữ Ricoh nằm ngửa lên , đẫm sương mai. Hóa ra nó không lọt xuống cống mà văng ra đây. Nguyên vẹn.


Đàlạt ngày 08/12/1995

Về đầu trang


Một Mình

Trương Chí Dũng


Nhật quay lại quầy sách cũ một lần nữa. Quyết định mua quyển “ Một mình với mùa Thu”, của Pautovski.

Bên trong quyển sách cũ ấy có ghi rõ tên của Nhật kèm theo cả chữ ký, đã phai mờ khá nhiều do thời gian. Hơi mỉm cười, nhận ra nét ngây ngô của chữ ký mình mấy năm về trước, Nhật còn nhớ mình mua quyển sách ấy một ngày trước sinh nhật của mình. Hồi ấy đã đọc quyển sách hai lần và Nhật vẫn còn nhớ mình thích quyển sách đến như thế nào. Vậy mà sau một vòng chu du khắp các chợ sách, quyển sách đã đi qua không biết bao nhiêu vỉa hè, giờ nó nằm đây. Nhật quyết định mua nó một lần nữa, cứu quyển sách của mình khỏi cảnh lăn lóc rày đây mai đó của nó.

Đầu đuôi là như vầy: Trong lần mua nó lần đầu, khi quyển sách còn mới tinh và thơm mùi mực còn nằm sang trọng trên kệ sách của nhà sách nơi đầu phố, Nhật mang quyển sách về và bọc nó cẩn thận bằng một lớp giấy hoa. Ghi tên mình vào và ký chữ ký còn ngây ngô ấy vào trang trong của quyển sách. Chữ ký ấy bây giờ vẫn nằm đúng chỗ ban đầu của nó, mầu mực nhạt đi nhiều nhưng vẫn mang vẻ ngây ngô ngày nào.

Dạo đọc xong quyển sách ấy lần thứ nhất thì Hương nhìn thấy. Cũng mọt sách như Nhật. Cũng có thú lang thang xoi mói bất cứ kệ sách nào trong những lần đi phố và lôi về những quyển sách mình săn tìm. Chỉ khác Nhật ở chỗ là, thay vì đọc ngay, Hương chỉ tìm đọc những quyển sách của mình sau một thời gian, thường là sau khi ai đó có nhận xét về quyển sách. Còn thường thì Hương hay đọc sách mượn ở thư viện. Đọc đều như dùng bữa hằng ngày.

- Quyển này ra sao hả Nhật?- Hương cầm quyển sách của Nhật và hỏi. Có ý chờ xem Nhật sẽ buông ra một câu bình luận nào đó.

- Tuyệt !

- Nghĩa là sao?

- Không thể nói gọn trong vài ba câu, tốt nhất là Hương nên tự đọc.

Hồi đó hai đưa chưa gây nhau...

Nhật nhớ như in ngày hai đứa gây nhau. Lúc đó hai đứa đang ngồi trong tiệm kem trên đường Nguyễn Chí Thanh. Đang thú vị nhìn xuống dốc Lê Đại Hành xem xe cộ lên xuống trong một buổi chiều chủ nhật gần như rất trọn vẹn. Và điều không trọn vẹn cho ngày chủ nhật đó là hai đứa gây nhau.

Nhật sinh tháng bẩy và Hương sinh tháng ba cùng một năm. Đang ngồi ăn kem thì Hương hỏi:

- Hình như Nhật phải gọi Hương bằng chị mới đúng lễ đó nghe !

- Sao vậy?

- Hương sinh trước Nhật bốn tháng kia mà. Hương sinh tháng ba.

Nhật im lặng. Đã biết thời gian là rất tương đối. Đã biết bốn tháng chẳng là gì cả trong cuộc sống một đời người. Nhưng từ lâu, khi biết đúng là Hương sinh trước Nhật bốn tháng, Nhật đã đau khổ về chuyện này, một mình, từ ngày đó.

- Đùa vậy thôi. Hương cho Nhật nợ tiếng chị qua kiếp sau hẵng trả.

Vậy là gây. Nhật nhớ mình đã đứng dậy, im lặng lấy tiền ra trả ở quầy và đi thẳng không quay lại.

Lúc gây nhau thì Nhật đã đọc xong quyển sách lần thứ hai. Và đã cho Hương mượn quyển sách. Hình như Nhật linh cảm quyển sách sẽ rời xa mình nên lần đọc thứ hai Nhật đọc rất chậm và tìm ra thêm nhiều chi tiết thú vị mà lần đọc đầu Nhật chưa khám phá ra. Lần đầu là khai hoang, lần sau mới thâm canh.

Sau lần gây nhau ấy thì ai nấy đều tự ái. Mạnh đường ai nấy đi. Hương chơi với Bảo. Còn Nhật thì lang thang một mình. Hương có một lần nhắn một câu rất độc lọt đến tận tai Nhật. Nó nhỏ hơn mình bốn tháng. Nó là em mình đó. Quên nó đi.

Và rồi quên đi thật. Chỉ đến khi đi tìm mua sách cũ, Nhật mới nhớ lại chuyện này. Lần giở ra nhìn lại chữ ký ngày xưa của mình. Nhật thấy tội nghiệp cho mình quá. Và một nỗi nhớ dâng lên. Ôi sao lạ vậy. Hoá ra con người không thể quên nhau thật sao.

Nhật đem quyển sách về và bọc lại cho nó một bao bằng giấy hoa mới. Vậy là, sau mấy năm lưu lạc, giờ quyển sách lại quy cố hương.

Nhật định tối nay sẽ lấy đọc quyển sách một lần nữa. Kỷ niệm. Đúng là chỉ còn ngán có mỗi việc kỷ niệm sẽ quay về thì khổ. Nhật đang chần chờ.

Lúc mà Nhật đang chần chờ thì Liên đến rủ Nhật đi phố. À, vậy là khỏi phải chần chờ nữa. Nhật quyết định đi ngay. Không hiểu sao, khi đi Nhật vẫn cầm theo quyển sách trong tay.

Đó lại là một chủ nhật tuyệt vời. Hai đứa định kết thúc ngày chủ nhật của mình một cách khác nhưng không hiểu sao cuối cùng thì Liên lại lôi Nhật vào quán kem ở đường Nguyễn Chí Thanh. Hai đứa nhìn xuống dòng xe lên xuống dốc một cách thanh thản. Chiều đang rơi xuống chung quanh hai đứa.

Lúc Liên với tay cầm quyển sách thì Nhật chưa chú ý gì lắm. Liên lật quyển sách ra và nhìn thấy chữ ký ngây ngô của Nhật.

- Ông tướng ký gì mà tức cười vậy?

- Ừ, chữ ký hồi nhỏ mà.

Nhật có cảm tưởng không phải Liên đang ngồi trước mặt mình mà là Hương.

- Nhật sinh năm nào?

Nhật nói năm sinh của mình.

- Tháng nào ?

Nhật nói tháng sinh của mình. Hình như mọi việc giống như vậy đã từng diễn ra.

- Vậy là Nhật phải gọi Liên bằng chị. Liên sinh trước Nhật bốn tháng.

Nhật tưởng tượng cảnh mình sẽ đứng lên, im lặng, đi đến quầy trả tiền và đi thẳng không quay lại. Y như hồi ấy.

Quyển sách đang nằm trong tay Liên, chẳng lẽ trước khi đứng lên lại dằn lấy quyển sách khỏi tay Liên thì kỳ quá. Nếu không làm như vậy thì quyển sách lại sẽ quay về cuộc đời trôi nổi của nó. Không thể được. Không bao giờ Nhật lại có thể để cho quyển sách lại vuột khỏi tay mình.

- Sao Nhật im lặng vậy?

Nhật như không nghe thấy và mãi theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình. Thấy vậy, Liên im lặng, quay ra đọc quyển sách và cười cười một mình. Lúc Liên hỏi mượn quyển sách về xem thì Nhật như chợt tỉnh.

- Không bao giờ !- Nhật buộc miệng.

Liên chưa từng nghe kiểu cách nói chuyện như vậy của Nhật. Hình như anh chàng này chiều nay có chuyện gì không ổn.

Quyển sách thì đang nín thở chờ đợi. Nó chưa biết mình sẽ được quay về căn phòng ấm cúng của Nhật hay lại tiếp tục một vòng đời trôi nổi mới...

Về đầu trang


Người Phụ Nữ Ngủ Trong Nhà Thờ

Trương Chí Dũng


Ở hàng ghế giữa nhà thờ thánh Vincent, vào đúng đêm Noel, có một người phụ nữ đang ngồi ngủ.

Một người phụ nữ ngồi ngủ trong nhà thờ vào đêm Noel thì cũng không có gì lạ. Có thể có rất nhiều nguyên nhân.

Cô ta đang bệnh. Đang uống thuốc điều trị, và trong liều thuốc có thể có một ít chất gây ngủ. Và bây giờ thì chất gây ngủ đó đang làm tròn nhiệm vụ của mình.

Cũng có thể do bài giảng của cha xứ.

Người phụ nữ ngủ vùi lúc cha xứ bắt đầu bài giảng. Thường thì bài giảng của cha xứ vào đêm Noel nào cũng được chuẩn bị rất công phu. Chỉ khi cha xứ tìm ra một ý tưởng thật sự mà ngài chắc chắn là sẽ mang lại cho giáo dân một đêm Noel đầy thánh thiện thì ngài mới bắt tay vào triển khai ý tưởng ấy thành bài giảng chi tiết dành cho đêm thánh vô cùng này. Bài giảng của cha xứ vào đêm Noel là một buổi tiệc đêm Chúa ban tặng, trước cả buổi tiệc đêm rất trần gian của giáo dân ngay sau thánh lễ.

Vậy mà…

Khi người phụ nữ bước vào dãy ghế giữa, những giáo dân nghe thấy mùi bơ thoang thoảng kéo theo. Đó không phải hẳn là mùi margarin, hay mùi bơ frais. Những người nội trợ sành việc ngồi ở những dãy ghế gần đó nhận ra ngay. Có điều là mùi bơ này có quyện theo vị ngọt. Lạ lùng.

Một người phụ nữ khác ngồi gần đó, khi thấy đôi môi bóng lưỡng của người phụ nữ ngồi ngủ gục trong nhà thờ lúc cha xứ đang giảng, đã nghĩ ra ngay một kết luận:

Biết ngay mà, lại tranh thủ ăn cả buche Noel ngay cả trước thánh lễ Noel. Sao lại đoảng thế nhỉ. Sao chị không chờ đợi thêm một chút. Chỉ cần chờ cho đến lúc ca đoàn hát xong câu cuối cùng của Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… là có thể quay về nhà nếm bánh buche ngay cũng được, đâu có trễ tràng gì đâu.

Mặc cho ca đoàn bây giờ đang hát đến bài Chuông vang vang lúc cha xứ đang chuẩn bị cho mọi người rước lễ, người phụ nữ vẫn ngủ say sưa, và người vẫn bốc mùi bơ thoang thoảng lan ra xung quanh. Chuyện này quả là không góp phần gì vào sự thánh thiện của đêm thánh mà có vẻ gây nên một sự lo ra đang lan tỏa dần theo mùi bơ đến các giáo dân dự lễ gần đó. Ai mà cản cho được sự tưởng tượng của những người dự lễ. Sự kiên nhẫn của họ xuất hiện trên những bờ môi hát nhẩm theo bài hát cực kỳ Noel là bài Chuông vang vang lúc này, cùng với một động lực rất ư là chính đáng là chỉ một chút nữa thôi thì buổi tiệc đêm “réveillon” của từng gia đình sẽ diễn ra cực kỳ ấm cúng, và tất nhiên là sẽ có buche Noel nữa mà.

Dòng tưởng tượng của một người ngồi ở dãy ghế bên phía đàn ông, ngang với dãy ghế của người phụ nữ đang ngủ diễn ra như sau:

Người phụ nữ ngủ trong nhà thờ này đã có đến mười đêm không ngủ. Cứ cho là đúng như vậy đi. Ngủ vùi từ lúc cha xứ giảng cho đến cả lúc rước lễ vẫn chưa tỉnh lại thì đúng là mất ngủ mười đêm là ít. Mùi bơ, có vị ngọt rất đặc trưng thì đúng là từ bơ bánh buche Noel rồi. Có điều nó khác dòng tưởng tượng của người đàn bà ngổi cạnh cô ấy. Nó không kết tội là cô ấy không kìm nổi sự kiên nhẫn, và đã vội ăn bánh buche ngay cả trước lễ Noel tối.

Chẳng qua là vì cô ấy quá mệt. Cô ấy phải làm mỗi đêm hai mươi ổ bánh khúc cây cho khách hàng. Tổng cộng mùa Noel này cô ta làm đến hai trăm ổ bánh buche. Và có như thế thì mùi bơ trong kem của bánh mới thấm đẫm vào người cô ta dai dẳng đến như vậy. Mà chắc là dòng tưởng tượng này là đúng, vì trong vị ngọt đượm trong mùi bơ, người đàn ông còn nhận ra hình như còn có cả mùi chocolat.

Dứt khoát là cô ta, sau mười đêm thức trắng làm bánh buche Noel, đã hết chịu nỗi cơn buồn ngủ kéo đến, đành có lỗi với cha xứ, và cả với Chúa nữa, trong đêm thánh vô cùng này.

Sau khi đi rước lễ về. Lúc mà bài Chuông vang vang ca đoàn đã hát xong, và ca đoàn đã bắt đầu qua bài hát năm nào cũng dành cho chặng cuối của thánh lễ đêm Noel: Đêm đông, lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… thì dòng tưởng tượng về người phụ nữ ngủ trong nhà thờ lại nảy ra một nhánh nhỏ mới.

Thật ra cô ấy đã dự định dừng việc làm buche Noel vào trưa ngày 24, và đã yên tâm sẽ dành trọn buổi chiều này để ngủ bù, chuẩn bị cho thánh lễ Noel tuyệt vời vào buổi tối.

Có một người khách muộn. Noel năm nào cũng có những người khách muộn. Làm như là những người khách muộn bao giờ cũng là một yếu tố không thể thiếu được của mọi Noel, ở mọi nơi trên trần gian này.

Người khách muộn này cần ngay năm ổ bánh buche cỡ lớn, loại dài 16 phân, để đi “tết” cho mấy gia đình thân quen ngay sau thánh lễ Noel này.

Lòng tốt muộn màng của người khách, chung quy cũng là do tất bật làm ăn cả năm quên mất, hóa ra đã làm cho kế hoạch ngủ bù chiều ngày 24 của cô ấy trở thành phá sản. Và, vậy đó, xem chừng là ngay cả khi ca đoàn kết thúc bài Đêm đông thì cô ta vẫn chưa tỉnh giấc.

Lúc bài hát Đêm đông kết thúc, đúng như người đàn ông đang loay hoay suy nghĩ nãy giờ: người phụ nữ ngủ trong nhà thờ vẫn không kịp thức giấc.

Thật ra anh ta không tưởng tượng. Anh ta biết câu chuyện này rõ một trăm phần trăm. Và anh ta cũng biết mùi bơ có đượm vị chocolat ấy cũng hoàn toàn rất thật.

Anh ta chính là người khách muộn đến cửa hàng cô ấy đặt buche Noel mà…


Viết riêng cho mùa Noel 2010

Về đầu trang


Nhớ Về Một Rừng Mai Đà Lạt

Trương Chí Dũng


Ngày mai, du khách ghé thăm Đà Lạt vào cuối năm, lúc mà những tầng khí lạnh tràn về dồn dập hơn, bầu trời xanh hơn và dân Đà thành khoác áo ấm dày hơn, du khách bàng hoàng trước màu hồng của anh đào. Màu hồng này vẽ thêm cho chân dung Đà Lạt một thoáng Nhật Bản, bên cạnh những villa dáng dấp Tây Âu... và đó cũng là vẻ đẹp riêng khác mà Đà Lạt có, không giống bất cứ thành phố nào của đất nước: Xứ Anh - đào.

Dân Đà thành vẫn quen gọi anh đào là Mai. Có lẽ việc tìm cho đúng tên gọi của loài hoa này phải nhờ các nhà sinh học. Biết đâu một nhà nghiên cứu thực vật nào đó có vin một cành hoa đào lẩm bẩm một tiếng La-tinh "Prunoideae; abricotis..." nên bây giờ nhà nghiên cứu gọi là mai, là đào hay anh đào đều được cả. Nhưng dù sao nó vẫn là mai Đà Lạt, hay anh đào như du khách thường gọi...

Cứ cuối tháng 11, sau khi những cụm dã quỳ nôn nóng nở rộ các sườn đồi, làm cho thành phố đẹp như một bức tranh ấn tượng của cuối thế kỷ 19, anh đào từ tốn hơn, nở muộn màng hơn. Đầu tiên cây rụng hết lá, thân cành trơ trụi mốc meo, giơ lên trời những bộ xương. Khách lạ đa cảm có thể buồn vì nghĩ đến các cây khô chết. Gió se lạnh luồn qua những cành mỏng manh, chịu đựng, âm thầm.

Nhưng một buổi sáng, du khách dậy sớm nhìn qua cửa sổ, cỏ vẫn xanh, hồ nước vẫn xanh, bay một lớp sương nhẹ và kìa : những cành anh đào trơ trụi mà khách không lưu ý, giờ hồng lên những nụ hồng tinh khiết, mơ màng và lôi cuốn. Đúng là mùa anh đào nở. Những cụm dã quỳ chưa tàn, màu vàng vẫn bàng bạc đâu đây, nhưng như hiểu thân phận mình, dã quỳ lùi dần sau những bờ thành, cuối thung lũng, còn cả thành phố các nẻo đường chính anh đào nở rực. Con đường nào cũng hồng lên, những cành cây khẳng khiu hôm nào giờ mang đầy sức sống, một sức sống dịu dàng, lung linh báo hiệu một thoáng xuân.

Có một điều du khách mãi băn khoăn khi ngắm những cây anh đào được trồng trong thành phố. Thông có rừng thông, dã quỳ có đồi dã quỳ... nghĩa là các đồi cây đều có một "buôn làng", "một quê hương". Thế mà anh đào sao chỉ có những hàng dọc đường phố hay ven hồ mà thôi sao. Một đặc điểm sinh thái nào đó ngăn trở nó hợp thành rừng? Làm cho anh đào không có một "làng quê"?

Không! Đã từ lâu Đà Lạt vốn có một rừng anh đào. Anh đào cũng có một "quê hương để trở về"!

Con suối Cam Ly chảy từ cầu Bá Hộ Chúc còn hẹp dòng và lặng lờ nhưng đến gần thác thì mở rộng. Rồi ào xuống những ghềnh đá tạo thành Cam Ly thượng. Rồi dòng suối ấy dừng lại ở một khúc quanh, ngoặc lại ôm lấy chân đồi Lê Lai, dòng trở lại hẹp, trơ đá và sỏi. Nước trôi qua hầm đá, vách đá xám dựng đứng dẫn dắt đôi mắt du khách lên cao dần, trên cùng có một biệt thự đổ nát, tàn tạ với thời gian cùng với những mỏm đá cuối sân bay Cam Ly. Dòng suối như nuối tiếc muốn trở lại trung tâm Đà Lạt một lần nữa trước khi rời xa. Mà thật vậy, con suối trắng ráng sức quay ngược về Đà thành: gắng gượng, nhẫn nại, nó vòng qua thung lũng nhìn lại phía đồi Đa Cát nhưng rồi "lực bất tòng tâm" nó đành buông xuôi theo dòng, ngậm ngùi đến một ghềnh đá nhỏ hơn là Cam Ly hạ, một thác "mi-ni" vừa đủ cho vài gia đình đến nghỉ cuối tuần trên các tảng đá ven bờ.

Sau Cam Ly hạ là lưu vực gần giống mọi con suối khác, giữa dòng có đá nổi lên, có những cây sung dại bên bờ, có đoạn cây mua mọc ra đến bờ nước, và còn bóng dáng một chiếc cầu đá sụp đổ bên dòng.

Dòng suối ở đoạn này ngày xưa dẫn nước qua một rừng vối mọc dựa lưng vào đồi cao, rừng vối ấy nay đã mất. Phía trên đồi cao, nơi mà rừng vối vốn có lúc "hưng thịnh" lan rộng đến... một rừng anh đào.

Ít ra là đến những năm 60 rừng anh đào này vẫn còn. Nếu những chú sóc ở vùng này có "sử" thì chắc "lịch sử" của rừng anh đào và cuộc sinh hoạt ở đây phong phú lắm. Vào mùa đông, anh đào nở hồng lên, nhựa chảy tràn ra, các chú sóc leo lên thưởng thức nhựa mai. Chắc là ngọt ngào lắm theo lưỡi chú! Cả một rừng mai thênh thang ngay cạnh sân bay mà sóc không đủ nhiều để dùng hết "kho lương vô tận" ấy, và cứ thế mai mọc tràn lan.

Trong rừng mai có một vài căn nhà không phải kiểu biệt thự, mà có dáng nông trại. Hồi mà rừng mai phát triển nhất, cỏ tranh cũng lan tỏa đến bờ tường những căn nhà ấy. Một chủ nhà có hai con chó mõm đen to dữ, loại chó Danois. Chúng nằm ngủ giữa sân, thỉnh thoảng thức dậy tỏ ra uy quyền, sủa dọc các chú sóc leo hút nhựa trên những cây anh đào.

Rừng hoa đào đẹp mãi trong ký ức của những đứa trẻ đầu trần, bận quần đùi, quảy ná cao su đi bắn chim chào mào và chim bụng trắng. Chúng bắn còn vụng về, tiếng những hòn sỏi va vào cành mai vang lên những tiếng khô khan. Đôi khi chúng bắn vào những con sóc và chỉ chịu bỏ chạy khi hai con chó Danois rượt chạy tận bờ tường. 

Đã bao nhiêu năm rừng cây anh đào này đã rực hồng, và có bạn sống chung, thân cây khá giống anh đào, cũng mốc meo, đến mùa cũng rụng hết lá, nhưng khi nở hoa, thì hoa trắng, đến thời kết trái cho những trái tròn nhỏ hơn mận Đà Lạt, da dẻ sù sì, có vị chát hơn. Khi các nhà phân loại học xếp vào bảng tên loại cây gì, ta tạm gọi nó là cây "anh đào trắng". Thế là "anh đào hồng" và "anh đào trắng" có duyên nợ, đã sống chung và đã chọn "một quê hương". Nhưng bọn trẻ con lại gọi "anh đào trắng" là cây xá lỵ. Sống chung trong rừng này, còn có cây bứa, trái cũng chát nhưng dễ ăn hơn. Tất nhiên là bọn trẻ không "từ" một trái gì, chúng nếm tất cả, tìm cách "ăn được" tất cả, không bỏ chê quả anh đào, kết thành chùm, có màu đỏ Bordeaux khi chín, sau Tết Nguyên Đán. Có khi vì đắng quá, chát quá, không ăn được, bọn trẻ chà quả anh đào, lấy nước bôi đỏ môi, má, móng tay, móng chân như những cô gái thích làm đỏm.

... Thế rồi, người ta phá rừng dữ quá! Ai cũng bỏ ra vài ngày "lao động đi củi". Hết các đồi thông ven Đa Cát, người ta đẵn luôn cây anh đào... đến một ngày, rừng mai huy hoàng một thuở không còn nữa.Những đứa trẻ năm xưa ấy, giờ lớn rồi. Có người đã có gia đình, có người là nhà thực vật học, nếu có dịp trở lại "vườn xưa", có nhớ gì chăng? Lòng có man mác không?

Bây giờ, du khách đến Đà Lạt không còn được nhìn rừng anh đào nữa, một phần nào cũng cảm thấy thiếu thốn khi đến xứ được gọi là "Xứ anh đào". Nhưng trong tương lai, biết đâu quê hương anh đào ở Cam Ly lại được tái dựng? Trong niềm tin của người dân Đà thành, rừng mai sẽ hồi sinh, chim chóc sẽ đến Đà Lạt ca hót nhiều hơn... và con người sẽ thoải mái hơn.
1987

Về đầu trang


Những Nốt Ruồi

Trương Chí Dũng


•  Năm thứ nhất

Trúng tuyển. Được vào học năm thứ nhất tại thành phố này, Nam cảm thấy thú vị khi sẽ trải qua bốn năm với một môi trường sống còn xa lạ với mình. Lâu nay ở biển. Giờ thì lên núi.

Xe thồ thảy Nam xuống giữa phố. Xa lạ và lạnh. Ngay cả đến chỗ ngủ buổi tối Nam cũng chưa biết tính sao. Cứ đi một vòng phố đã, rồi tính tiếp. Đi lang thang...

Ở góc phố có một quán sách nhỏ. Cô hàng sách trông còn rất trẻ con. Cận thị. Khi Nam bước vào quán sách thì hình như cô chủ đang cúi đầu đọc báo. Vậy là bán ế. Cô vội nhìn lên với một ánh nhìn mừng rỡ khi thấy Nam. Tất nhiên là phải vậy cái đã. Mua hay không còn tuỳ. Có khách bước vào là vui rồi.

Trên khuôn mặt cô hàng sách có nhiều nốt ruồi. Một tỷ nốt ruồi. Không sao. Những nốt ruồi ấy đã tự hòa giải với nhau một cách tuyệt vời và cuối cùng thì tạo nên vẻ mặt cô hàng sách cũng ưa nhìn.

Không hiểu sao, Nam định bụng sẽ làm quen cô hàng sách trong một vài ngày tới. Bốn năm học ở đây, mình phải quen với một ai đó. Những nốt ruồi ấy tạo ra ảo giác xinh đẹp hay là cô nàng xinh thật? Nam vẫn chưa tự trả lời được.

Ba tháng sau khi nhập học.

Có đám cưới tại cuối phố. Gần quán sách nhỏ. Nam tò mò bước đến. Cô dâu đang cùng chú rể còn đang đứng chụp hình. Nơi cổng vào có hai chữ “Vu quy”. Hóa ra là đám cưới cô hàng sách.

Vậy là hết.

Mà thật ra chưa hết. Còn nữa.

•  Năm thứ hai

Cửa hàng sách treo đầy lịch. Vậy là gần Tết mất rồi. Khi thấy Nam, cô hàng sách- cô dâu xinh tươi hồi trong Tết- mỉm cười mời Nam mua lịch mới. Thật ra thời gian còn đang theo đuổi miệt mài trò chơi khăm của nó: Nó thấm dần vào cuộc đời của từng người. Nó làm người ta nôn nóng vội lớn lên, vội vã tìm cho có đôi, vội vã chia tay và lại tiếp tục tìm cho có đôi. Cho đến mỗi dịp Tết về thì ai cũng nhận ra là thời gian đang vẫy tay lôi mình rời khỏi tuổi đáng yêu nhất và ấn thêm cho mình một tuổi mới lên vai. Cứ thế. Vâng, cứ thế đã.

Nam không mua lịch. Dứt khoát là mình phải tìm cách lẫn tránh trò chơi khăm của thời gian. Nam chỉ mua một tạp chí Xuân.

Sau Tết được ba tháng.

Đi ngang quán sách. Lại nhìn thấy cô hàng sách. Cô nàng đã mập ra trông thấy. Có nhiều vết nám trên mặt. Sau những vết nám ấy, những nốt ruồi vẫn sống hòa thuận bên nhau, nghĩa là cô nàng vẫn xinh. Vẫn xinh.

Rồi sau đó ba tháng nữa.

Không thấy cô hàng sách đứng bán như lâu nay. Thay vào đó là một anh chàng coi bộ còn lớ ngớ. Chắc là chồng. Ừ, chắc là chồng.

Sau đó hai tháng.

Bây giờ thì lại thấy cô hàng sách. Ốm đi nhiều. Khuôn mặt hơi xanh sao một chút. Vẫn xinh. Cô nàng vừa có con. Một con.

Anh chàng bán sách mấy hôm trước đúng là chồng. Đứng gần ngay sau cô nàng. À, tác giả giữ bản quyền.

•  Năm thứ ba

Lại đến Tết nữa rồi. Lịch lại treo đầy dẫy. Thời gian lại tiếp tục đi đến vỗ vai từng người và vắt lên vai họ thêm một tuổi nữa. Cứ thế. Vâng, cứ như thế đã nhé. Nam lại mua một tạp chí Xuân. Và đó vẫn là chiến thuật tránh né khéo câu mời chào mua lịch của cô hàng sách.

Sau Tết độ một tháng.

Lại không thấy cô hàng sách. Lại thấy anh chàng bán sách ra thay. Đứa bé được bồng trên tay- đứa bé gái- có một khuôn mặt hao hao cô hàng sách. Không có một nốt ruồi nào. Vậy là lớn lên sẽ không xinh rồi. Biết sao được. Hình như cô nàng lại nghỉ sinh. Hai con.

Sau đó một tháng.

Cô hàng sách lại đã xuất hiện. Lần này thì cô nàng như mập hẳn ra. Và trắng nữa. Chỉ những nốt ruồi trên mặt là không vơi đi chút nào. Và vì vậy, vẫn xinh. Vẫn xinh.

•  Năm thứ tư

Ngày Nam rời thành phố này sau bốn năm học ở đây, Nam ghé cửa hàng sách trước khi ra bến xe. Khi đến thế nào thì khi đi cũng nên thế ấy.

Không nhìn thấy cô hàng sách. Nam bước ra trung tâm thành phố tìm xe thồ ra bến xe. Vậy là mình vô duyên rồi.

Kìa, mà ai như cô hàng sách. Cô như đang tất tả chạy về phía mình. Nam hơi ngạc nhiên dừng khựng lại như chờ đợi. Ta đợi em từ ...

Rồi thì Nam dợm chân định chạy về phía cô nàng. Hình như chưa trễ lắm phải không. Tất cả vẫn còn đó mà.

Nam chợt quay người lại và nhận ra không phải nàng chạy đến mình mà chạy đến đứa bé-con gái của cô nàng- đang chập chững đi trên hè phố, bên cạnh một cụ già.

Đã lỡ bộ, Nam đành chạy tiếp- hướng về phía cô hàng sách nhưng làm như không nhìn thấy cô nàng.

Thật may mắn là một chiếc xe thồ trờ tới kịp lúc, cứu Nam ra khỏi hoàn cảnh của mình.

Khi đến thành phố này thì tay không. Giờ thì rời xa cũng tay không. Ngày xuống núi vậy là được rồi.

Chỉ còn những nốt ruồi vo ve trong đầu của Nam khi ngồi trên xe rời xa thành phố. Không biết phải làm cách nào xua chúng ra khỏi đầu mình. Chắc là lần này phải nhờ cậy đến thời gian...

Về đầu trang


Vườn Xưa

Trương Chí Dũng


Ai cũng từng có một vườn xưa. Và hằng mang nó theo trong túi đời của mình.

Vườn có rất nhiều cây ăn trái. Mít, ổi, bơ, mận Trại Hầm và hồng. Đứng riêng biệt ở một góc vườn, không phải loại thân cây gỗ mà lại là loại cây leo, là một vùng đầy dây mát mát. Nếu có dịp ăn dưa tây, phần ruột của nó ăn rất ngon, chua chua, ngọt ngọt, rất giống ruột của trái mát mát. Vườn xưa leo đầy mát mát như vậy đó.

Thật ra nếu nhìn xuống thảm cỏ xanh trong vườn, còn có những cây nhỏ bé như loài cỏ. Loại cây mang một chấm hoa vàng bé xiú trên thân, có vài chiếc lá cũng bé xiú mà bên dưới gốc là một củ màu trắng, lột ra nhai trong miệng như có chất nhừa nhựa. Cây mưa đá. Chúng vẫn nằm rải rác trên thảm cỏ trong vườn.

Trung lúi húi đi từ dưới suối lên với một bó cần câu cắm. Bấy giờ đang là mùa cá trê suối.

- Có chị Hân ở nhà không cưng ?- Một người mẫu trong tranh bước ra hỏi Trung, không biết cô nàng đến từ đâu. Hơi ngờ ngợ, hình như mình đã gặp khuôn mặt này đâu đó rồi. À, trong bức ảnh Sainte Madeleine (1) . Điều làm Trung chới với không phải là nét đẹp thánh thiện đang cười cười với mình mà là tự dưng mình được nàng gọi bằng cưng một cách bất ngờ.

Đã vậy thì cứ vào vai luôn xem sao.

- Chị chờ chị Hân một chút, khoảng nửa tiếng nữa chị ấy về.- Bây giờ thì Trung đã có đủ thì giờ quan sát nhân vật của mình. Cô gái trong tranh bước đi bên Trung vào vườn.

- Cưng là em thứ mấy của chị Hân ?- Vẫn một giọng chị hai tiếp tục hỏi Trung.

- Dạ , là út.- Trung trả lời trong lúc lúng túng chưa biết phải tiếp tục làm gì với vị khách từ trời xuống này. Tay thì ôm bó cần câu bê bết bùn. Xách thêm một giỏ mồi. Đi chân không. Bận quần đùi. Đầu khét nắng. Tóc cháy vàng hoe. Móng tay đen đúa đến phát sợ.

Cô gái có một cách cười rất lạ. Hình như cô nàng đang nhả nụ cười ra bầu trời vần vũ gió lúc ấy tạo ra một chút khói chiều bay lên cao. Trung đứng yên nhìn nụ cười ấy. Lạ qúa, giống như bị ai điểm huyệt. Trung thấy mình bị bất động khá lâu.

- Mình là Thư, bạn học của chị Hân. Mình ghé nhà hoài mà có bao giờ gặp cưng đâu.- Lối xưng hô kỳ cục, Trung chưa bao giờ gặp phải điều này. Mà thôi, cái đẹp sẽ cứu được tình hình này. Trung nghĩ vậy.

-Dạ.

Chưa bao giờ Trung thấy mình lễ phép như vậy. Hình như cảm thấy không thể phá hỏng không khí lúc này, Trung bèn ra sức bảo vệ nó càng lâu càng tốt.

-Ủa, những dây leo kia có phải bìm bìm không?- Người mẫu hỏi Trung với vẻ mặt thắc mắc thực sự.

Phì cười, Trung trả lời:

- Dây mát mát đó.

- Ủa, mấy dây leo này là mát mát ư. Hồi nào tới bây giờ mới thấy cây này.- Tưởng gì. Dây mát mát mà có gì lạ. Trung hơi tức cười trước sự ngạc nhiên của cô gái. Một người đẹp đến như vậy mà chưa hề biết cây mát mát ra sao. Ngộ thật.

- Phải đi tìm cho chị một cái ghế ngồi tạm chờ chị Hân...- Trung nói bằng một câu hình như không có chủ từ . Ngữ pháp trong con người của Trung đang bị lật nhào chỉ mới mấy phút nãy giờ. Mà có sao đâu. Vẫn hiểu được đó thôi. Hiểu mà.

- Mình ngồi đây cũng được. Cưng khỏi đi tìm ghế nữa.- Cô gái đã xà xuống ngồi bãi cỏ trong vườn. Đó là một bãi cỏ rất đẹp. Sau này, Trung nhớ cảnh tượng bấy giờ giông giống cảnh vẽ trong tranh của Renoir. Những người đàn bà ngồi trên cỏ. Trung đứng tần ngần bên cạnh, như một người hầu trung thành. Thật là tức cười.

-Ủa ! còn những cây cỏ có hoa vàng này là cây gì. ?- Nàng hỏi.

- Cây mưa đá !

- Cây mưa đá ?

- Dạ.

- Chị chưa thấy bao giờ ư ?- Trung không ngờ một người đẹp mà ít hiểu biết đến thế.

- Để đào cho chị ăn cho biết.- Lại phải dùng những câu đối thoại hết sức thô thiển kiểu này thôi. Trung lấy cuốc sau bếp ra đào củ mưa đá.

- Trồng à ?- Hình như cô gái cũng bắt đầu lây những câu trả lời thiêu thiếu của Trung.

- Tự mọc vậy thôi. - Rồi không hiểu sao, ngay cả đến sau nay Trung cũng không hiểu vì sao, Trung ngồi xuống bên cô gái lúc ấy. Ngay trên bãi cỏ xanh trong vườn.

-Sao gọi là mưa cây mưa đá ?- Cô gái tròn xoe đôi mắt quay sang Trung hỏi.

Là vì mỗi năm trời Đàlạt thường bắt đầu mùa mưa của mình bằng các trận mưa đá. Những viên đá bé xiú rơi từ trời xuống chui vào lòng đất nằm cho đến hết mùa mưa thì trồi lên những cây mưa đá như thế này. Khi ăn củ mưa đá ta thấy mát mát nơi cổ.

- Bịa ?

- Ừ thì bịa ! Trong ánh mắt cô gái bày tỏ sự thú vị khi bị đánh lừa bởi câu chuyện Trung kể.

Chiếc áo sơmi của cô gái bị lấm đất ở cổ tay. Những hạt đất đỏ lúc nàng chống tay ngồi xuống bãi cỏ. Tự dưng không hiểu sao, Trung lại đưa tay ra phủi. Lúc đó nàng im lặng cúi xuống. Cảm động.

Chỉ tiếc là bàn tay Trung dơ hầy, cũng còn dính đầy đất bùn. Ai mà chực được cả đời giữ nổi đôi tay luôn sạch sẽ.

- Cưng nghịch bẩn quá nha. Cô gái nhìn bàn tay Trung và nói.

- Đang cắm câu mà. Sạch gì nổi.-Trung trả lời cụt ngủn.

Sau đó là những phút im lặng trôi qua. Hình như Trung bị vét cạn mọi từ ngữ trong đầu hất cả xuống suối rồi. Cả cô gái cũng thế. Cả hai im lặng nhìn mấy cây mưa đá trên thảm cỏ. Gió từ phía suối thổi lên vờn mái tóc của cô gái. Bay bay theo gió...

Chỉ đến lúc Hân lên tiếng mới phá tan sự im lặng nãy giờ.

- Con qủy, mày trốn đi đâu cả tuần nay vậy Liên ?- Hân hỏi ngay khi vừa bước vào sân nhà.

Con qủy quay lại cười với chị Hân:

- Vậy là hết tất cả rồi Hân ơi. Tháng tới tao lấy chồng. Mai tao nghỉ học luôn.

- Lại nói dóc nữa đi, mày buồn chuyện gì vậy.- Hân thắc mắc hỏi

- Không. Lần này thật rồi. Tao đã quyết định.-Lúc ấy cô gái chống tay trên cỏ đứng lên.Nàng quay lại nói với Hân, mặt hất về phía Trung.

- Ông tướng này nói dóc có trình độ lắm nghen.- Hân nắm tay Liên đi dần ra sân nhà.

Ngồi lại một mình trong vườn, nhai một củ mưa đá còn sót lại mà cô gái chưa lột vỏ, Trung thầm nghĩ : Một người đẹp thánh thiện đến dường ấy mà rồi cũng bỏ đi lấy chồng ư ?

Chị Hân cùng con qủy đi dần ra cổng nhà, vừa đi vừa nói chuyện rù rì. Cả hai bỏ quên Trung ngồi lại trên bãi cỏ trong vườn.

Khi bóng cô gái khuất sau đồi cùng với bóng chị Hân, Trung phủi quần đứng dậy. Ôm bó cần câu trong tay đi thẳng vào bếp, Trung gác bó cần câu lên vách nhà. Lúc đó Trung chợt nhớ chiều nay mình chẳng câu được gì. Hình như Trung còn bước ra cửa và nhìn ra vườn thêm một lần nữa. Chỗ bãi cỏ vẫn còn vết người ngồi.

Lâu lắm sau này nơi ấy cỏ vẫn xanh. Cây mưa đá vẫn trổ hoa vàng. Nhưng nơi ấy đã trở vườn xưa. Một khu vườn không quên nổi bao giờ trong lòng.

Ai cũng có một vườn xưa riêng của mình. Chúng rất khác nhau. Đôi khi có bóng dừa. Đôi khi có bóng vú sữa. Và đôi khi chỉ có một bờ cỏ xanh . Vậy mà họ mang theo trong đầu mình đi khắp bốn phương trời. Không bao giờ quên đi nổi...

Về đầu trang

Powered by SmugMug Owner Log In