Văn - Trần Văn Sanh - VAN-HOC DALAT

Văn  Trần Văn Sanh

Trần Văn Sanh

BẠN CŨ

Trần Văn Sanh


Sau khi ở ĐL được hơn một tháng, tôi trở về SG trong một dịp cuối tuần để mang lên cái giá vẽ và những khung vải tôi đặt sẵn từ trước. Đang ngồi trên chuyến xe đò chờ giây phút khởi hành, một thanh niên xa lạ từ đâu bỗng bước đến hỏi chuyện:

- Xin lỗi, có phải anh về SG phải không?

- Vâng.

- Tôi cũng thế, thấy anh trông có vẻ dân văn nghệ nên muốn làm quen, để trò chuyện trên chuyến đi. Tôi tên Sơn.

Hắn đưa tay cho tôi bắt.

- Tôi tên Sinh, người nam gọi là Sanh.

Được biết Sơn hôm đó mang bó hoa Hồng về SG để tặng cho người yêu, một cô SV học ở trường Luật Khoa, và khi nghe tôi nói lý do chuyến đi của mình. Sơn vỗ đùi tự khen: "Biết ngay mà! bạn có dáng trông rất nghệ-sĩ, nhìn biết liền!". Tôi lúc đó nghĩ và cười ruồi trong bụng "Mẹ! tướng tá mình gầy nhom, trông như chó ốm. Văn ghệ với văn gừng con khỉ!". Từ đó Sơn trở thành thằng bạn thân đầu tiên ở ĐL. Hắn lớn hơn tôi gần hai tuổi, được cha mẹ đặt tên là HN Sơn, nghĩa là cao lớn như núi - nhưng Sơn lại lùn tè, đứng cỡ chỉ một thước mốt.

Có lần tôi bảo Sơn:

- Chả cần tao chấm tử-vi gì ráo, số mày phải lấy con vợ cao ráo, chân dài...

- Tại sao? Sơn tò mò.

- Này nhá, mày lùn và tròn như hột mít, lấy một hột mít nữa thì con mày sẽ thành hột đậu, mà nó mà lấy vợ hột đậu nữa thì sẽ sanh thằng cháu nhỏ như hột tiêu, rồi hai hột tiêu mà lấy nhau thì coi như triệt...tiêu luôn! Nghe lời ông đi con.

Cũng hên là Sơn có tánh giống tôi, cũng là dân Bắc Kỳ di cư, hai thằng đều có máu đùa dỡn, nghịch như quỷ, có khi quỷ sứ chắc cũng phải chào thua - cho nên nó chỉ đấm vào vai tôi để trả đũa cho câu sấm truyền đùa giỡn về tương lai và cái lùn của hắn. Có lẽ vì ông trời bắt Sơn mang cái tội phải lùn cho nên đã đền bù nó với những tài năng khác, thằng này ăn nói rất có duyên, dẻo quẹo và hoạt bát. Ngoài ra hắn tự học, chơi đàn guitar rất tuyệt mà tôi đã học từ Sơn cách búng ngón tay, chơi những bản Carulli. Nhà Sơn ở đường Phạm Hồng Thái, không xa nha Địa Dư và nhà ga xe lửa, và có hai mảnh vườn trồng rau sà lách xoong mà cả nhà sống nhờ vào đó.

Trước khi quen với tôi, Sơn làm nghề cưa chữ để bán cho du khách làm lưu niệm, mà những tên, chữ hắn làm rất cầu kỳ và công phu cho nên mất nhiều thì giời để nắn nót từng lưỡi cưa và phải cẩn thận khi chà giấy nhám. Thay vì tốn tiền phòng trọ ở một mình, Sơn rủ tôi dọn về ở chung với gia đình hắn - nghe cũng có lý nên tôi đã đồng ý, và nhờ ở chung mà sau khi quan sát lối làm việc của Sơn, tôi đề nghị Sơn thử cưa loại chữ mới, dùng bút pháp mà tôi viết theo kiểu chữ của Trịnh Công Sơn, vừa tao nhã, vừa đỡ tốn gỗ và cưa rất nhanh. Một chữ kiểu cũ Sơn làm để bán bấy lâu nay bằng thời gian để cưa bốn, năm chữ kiểu mới tôi vẽ. Không ngờ điều này lại đưa đến một sự thành công bất ngờ cho Sơn, nó kiếm tiền dễ dàng hơn và nhiều hơn từ dạo đó. Một điều trùng hợp giữa tôi và Sơn là tôi vì ham chơi, ham nhẩy đầm cho nên thi rớt tú tài cho nên năm đó tôi phải học lại lớp 12, còn Sơn không rõ vì lý do gì cho nên cũng phải học lại cùng lớp. Ban đầu hai đứa rủ nhau ghi danh học ở trường Việt-Anh mà tôi còn nhớ một buổi sáng sau khi mọi người đứng ở ngoài sân chào cờ, thầy Phỉ là Hiệu Trưởng đi "duyệt binh" trong hàng ngũ học sinh, chọn mấy tên cao ráo để cầm cờ, phù hiệu đại diện trường trong buổi diễn hành ngày kỷ niệm lễ Hùng-Vương. Xui một điều là thầy HT "chấm" tôi với điểm cao ráo, bắt tôi phải cắt cái đầu tóc dài mới "được" vinh dự đi diễn hành - lúc đó chẳng phải tôi vì khoái làm hippy gì ráo, mà đã chán ăn chơi, chán đua đòi một cuộc sống thác loạn, không tương lai ở SG - nhưng tôi không thích ai bảo mình phải làm thế này, theo kiểu nọ. Tôi cười ruồi hỏi ngược lại:

- Nếu tôi không cắt tóc thì sao?

- Thì cậu không được chọn để đi diễn hành.

- Vậy hả. Tôi cũng chẳng thích đi diễn hành.

- Cũng không được. Cậu phải cắt cái mái tóc dị hợm đó tôi mới cho vào lớp.

- Xin lỗi thầy, tôi sẽ kiếm trường khác.

Thế là tôi bước ra khỏi trường ngay hôm đó, mà Sơn cũng ba gai không kém, nó cũng có mái tóc dài gần bằng tôi cho nên hai thằng tỉnh bơ sách cặp bước ra khỏi sân trường, không đợi thầy HT đuổi hay cãi cọ chi cho tốn thêm nước miếng. Những tháng sau đó, trong khi tôi còn la cà học thử ở hai trường khác - trường TH Bồ Đề và trường bán công Quang-Trung mà tôi thấy cả hai đều dở tệ. Khi gần đến tháng chót phải ghi danh học ở một trường để được hợp lệ cho kịp kỳ thi Tú tài IBM năm 74, tôi theo Sơn "đầu quân" vào trường VH của thầy CBA, mà tôi chỉ vào lớp trong những ngày "lành tháng tốt", thường thì cúp cua vào thư-viện gần nhà thờ con gà đọc sách, hay lang thang trên đồi cù ngồi dưới gốc thông để ngẫm chuyện đời. Ban đầu, Sơn tưởng tôi là dân mồ côi, không gia đình hay cha mẹ, đi giang hồ rồi ghé thích và ở lại ĐL vì nó chưa hề nghe tôi nhắc chuyện về SG hay đi đâu thăm gia đình. Có nhiều hôm hai thằng nghèo mốc đít, đói meo không tiền ăn sáng. Đôi khi cả nhà nó và tôi ăn cơm trộn khoai cho no, rau thì món sà lách xoong vừa nấu canh, vừa xào tỏi với ớt ăn dài dài. Hôm nào hên bán được nhiều thì có vài miếng gà kho gừng mặn chát, ăn cho uống nước nhiều vào để căng bụng, đỡ tốn. Hoặc có hôm ăn ổi còn xanh mét trừ cơm, bị táo bón cả mấy ngày sau. Có lần tôi bán cái áo veston của thời còn ăn chơi, tuy áo may đã hơn hai năm nhưng vẫn còn rất "chiến", rất mốt cho một thanh-niên trẻ ở ĐL; với số tiền bán được cái áo, tôi với Sơn ghé vào tiệm phở Phi-Thuyền gọi mỗi thằng ăn hai tô phở lớn y như là hai tên tù thâm niên vừa ra khỏi ngục quá thèm phở! Còn dư chút tiền, đủ cho hai thằng mấy hôm sau vào nhâm nhi ly cà phê sữa đờ-mi ở quán Domino đường Phan Bội Châu. Đâu ngờ sau thỉnh thoảng chạnh nghĩ, đó lại là những ngày "thần tiên" nhất trong cuộc đời lãng du của mình.

Một hôm, tôi rủ nó về SG thăm nhà ở đường Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng), đối diện nhà nghị-sĩ kiêm chủ nhà băng Nguyễn Tấn Đời. Buổi sáng thức dậy ở lầu ba, trên sân thượng là cái "giang san" phòng ngủ riêng của tôi, người làm đã bưng đồ ăn sáng và cà phê để sẵn, Sơn nhìn tôi lắc đầu bảo "Mày thật! rõ là thằng khùng!". Từ đó trở đi, khi trở lại ĐL để tiếp tục học, tôi bảo gia đình thường xuyên gửi tiền để tôi đóng góp, giúp đỡ gia đình Sơn - ngoài những công việc phụ nó cưa chữ, chà nhám, sơn phết đánh bóng và đem đi giao hàng cho cách sạp ở ngoài chợ. Mùa thi tú tài năm đó, cả hai thằng đều may mắn thi đậu, mà nó đậu cao hơn tôi nhờ học siêng hơn. Tôi còn nhớ là hai môn thi cuối cùng là môn toán trắc nghiệm và môn Pháp văn; dù làm chưa hết bài nhưng sau khi tính nhẩm cho những môn khác cộng lại, tôi chắc mình đã đủ điểm nên nộp bài ra về. Hôm đưa mẹ tôi đi xem kết quả ở SG, thí sinh nào đạt được tổng cộng trên 160 thì sẽ đủ điểm để đậu. Tôi vừa đủ khít khao 162 điểm, mẹ tôi dò bảng tên đọc mà muốn xỉu ngay tại chỗ - không biết vì mừng hay vì bị tôi chơi một cơn ú tim! Dù sao đi chăng nữa, cái thằng "quý tử" hai năm ở nhà thi không đậu, nay la cà ở phương xa, học lơ tơ mơ thế lại mà được, mẹ tôi mừng hết lớn, nhất là thấy thằng con đã trở về nhà và "tự dưng" lại chăm chỉ chuyện học hành.

Thêm một chuyện nữa về thằng bạn. Sơn có cái tật là thích tán gái, và có lẽ để che dấu cái mặc cảm "thiếu chiều cao, thừa bề ngang", bạ ai nó cũng ve vãn tán tỉnh. Nghĩa là già không bỏ, nhỏ không chê...Trên con đường đến trường VH, hai đứa thường hay gặp một cô bé "má đỏ môi hồng" rất dễ thương mang phù hiệu của trường BTX. Tôi thích chỉ lẳng lặng đi theo sau để ngắm, tưởng tượng rồi mơ mộng để làm thơ giải trí tinh thần. Sơn thì gặp một thiếu nữ tuổi chừng 15, 16 xinh như mộng nên hắn ta khoái bét tĩ, mê như điếu đổ. Cô bé biết hai thằng Bắc kỳ dê xồm, mắc dịch thỉnh thoảng như cái đuôi phía sau mỗi sáng, cho nên có lúc hai chân em đi lính quýnh, trông thật tội nghiệp. Tôi về làm bài thơ và cho thằng bạn đọc chơi.

Nhỏ cười con mắt có đuôi chân đi hài đỏ, dáng người thanh thanh nhỏ đi nón là nghiêng vành anh theo chân nhỏ, nhỏ đành ngơ sao thôi về dệt mộng chiêm bao rằng mai đón nhỏ, cười chào làm quen...

Sơn đọc bài thơ nghe chịu quá, bảo để nó ngày mai đi phía sau và đọc thơ cho cô bé nghe. Tôi ừ ào ok và để xem cô bé sẽ phản ứng như thế nào. Ai ngờ sau khi nghe thằng mắc dịch ngâm khẽ bài thơ, cô bé quay lại nhìn hai thằng cười và khoe nguyên hàm răng...sún. Tôi ráng nín cười để cô bé khỏi đau lòng, mắc cở - nhưng thằng bạn tôi lại đau khổ gấp bội phần, vì hàm răng người đẹp như mơ đã làm hắn vỡ mộng ba sinh ngay từ giây phút đó.

SVT


Về đầu trang

BAO GIỜ MÂY THÔI BAY

Trần Văn Sanh

Sau hơn bốn mươi năm tôi mới gặp lại Quân, thật tình cờ như lần đầu trong đời tôi gặp chàng. Dĩ nhiên Quân thay đổi nhiều, nhưng không thể nào tôi quên được cái khuôn mặt, ánh mắt hiền hòa nhưng tinh nghịch và nụ cười hay mỉm chi thật quyến rũ của chàng. Hình ảnh Quân thỉnh thoảng vẫn ẩn hiện trong giấc mơ đầy những luyến tiếc.

Tôi cũng thay đổi, nhưng không biết trên phương diện thể xác, có phải vì đàn bà thường đổi thay nhiều hơn đàn ông, hay là trong tâm hồn của Quân, hình ảnh tôi đã lu mờ - đã không còn hiện hữu từ ngày chàng bỗng dưng chợt biến mất trong cuộc đời tôi sau ngày Giáng-Sinh năm đó. Quân đã không nhận ra tôi khi chàng đang đứng đợi ai ở một khu chợ Việt sầm uất ở phố Bolsa, ngay cả lúc tôi ngần ngừ bước gần đến bên cạnh:

- Xin lỗi, có phải ông đây là Quân?

Quân hơi bất ngờ trước câu hỏi của người xa lạ. Vầng trán khẽ nheo lại và sau cặp kính cận hai lớp, ánh mắt chàng dường như đang suy nghĩ, lục lọi những ngăn tủ trí nhớ mà có lẽ đã chật hẹp đầy những dĩ vãng.

- Vâng, tôi là Quân, nhung thưa bà...à, cô là ai, tôi xin lỗi?

- Loan đây, Loan ngày xưa ở đường Sương Nguyệt Ánh, gần trường TH tư-thục Nguyễn Bá Tòng, anh không nhận ra em à?

Trong giây lát, tôi thấy ánh mắt Quân lóe lên chút vui mừng, rồi chàng khẽ đưa tay vỗ nhẹ lên bờ vai của tôi, bằng một giọng nhẹ nhàng nhưng thật đầm ấm:

- Thật là bất ngờ, nhưng đã hơn...bốn mươi năm rồi còn gì! giờ nhớ lại tôi thấy Loan vẫn thế, dáng nét vẫn không khác gì xưa mấy. Loan ở đâu và đang làm gì ở đây?

- Dạ, Loan ở gần đây, hôm nay đưa chị Tâm mua sắm vài món hàng trước khi chị ấy về lại Boston tuần sau...

- À! thế ra chị Tâm cũng ở Mỹ à, chị ấy vẫn khỏe chứ?

- Dạ, chị ấy vẫn khỏe, thỉnh thoảng chị cũng hay nhắc về anh...

Quân cười:

- Chắc chị ấy đã thắc mắc không biết cái tên chết tiệt ấy bây giờ lây lất, sống chết ra sao, phải thế không?

Tôi mỉm cười với câu tự thú nhận, diễu cợt của Quân:

- Đúng thế!

Quân nhìn tôi im lặng, rồi sau một khoảng khắc tưởng chừng thời gian bỗng như ngưng đọng, giọng chàng cất lên gói ghém một chút gì ân hận:

- Tôi thật có lỗi, đã ra đi không một lời từ giã....

§§§ Thưở đó, tôi là con gái của một nhà thầu-khoán nổi tiếng giầu có ở Sàigon, của cái thời khi con số quân đội đồng-minh đổ bộ vào Việt-Nam đến mức cực thịnh, do đó họ cần nhiều cao ốc, nhiều văn phòng cho thuê đủ loại - từ cho nhân viên đến chung-cư dành cho lính ngoại-quốc. Ba tôi trước nhờ tốt nghiệp với bằng cấp Kiến-Trúc Sư từ Pháp về, sau là nhờ có tài ngoại giao, quen biết rộng cho nên ba hầu hết trúng được những vụ thầu xây cất lớn từ vĩ tuyến 17 xuống đến mãi tận Năm Căn, Cà Mau. Chính vì sự thành công này đã thường đưa ba tôi đi xa và vắng nhà, nhiều khi đến cả mấy tháng, và mẹ tôi lại hay mê bài Tứ Sắc, mỗi khi ba tôi đi làm xa và ở nhà một mình ra vào cũng buồn nên mẹ tôi đến nhà bạn chơi bài đến tối mịt tối mờ mới về nhà. Thành ra anh chị em chúng tôi khi lớn lên và vắng bóng người lớn, chẳng mấy chốc dễ bị lôi cuốn vào cơn bão "Hippy" của tuổi trẻ thưỏ đó. Cũng may tôi chỉ chạy theo phong trào Hippy qua thời-trang và âm nhạc, nhất là loại Rock - nhạc Anh lẫn Pháp; ăn diện cùng chơi nhạc mà không tham dự những cái "bum" - party hàng tuần thì có chi mà thú vị! Khi gặp Quân, tôi mới vừa hơn 16 tuổi - nhưng tôi đã không gặp Quân qua những môi trường, hoàn cảnh ăn chơi này.

Đó là một buổi chiều cuối tuần, sau khi hơn mấy tháng không gặp Đức, người em họ thân thiết đã từng giới thiệu và đưa tôi đi sắm áo quần, giầy dép thời trang Yé-yé mà hắn thường luôn theo dõi và sưu tầm qua những tờ báo ngoại quốc như Salut les Copains, Elle, Vogue... Đức bất chợt lù lù xuất hiện ở nhà tôi với cái đầu trọc lóc, biến đi đâu mất mái tóc dài gần chấm vai thật là "mốt" thời đó mà Hải thường hay chải chuốt, hãnh diện với đám bạn. Đức giới thiệu một gã thanh-niên, cao lòng khòng hơn hơn Đức cả cái đầu, áo quần trông cũng không gì gọi là mốt cho lắm, khuôn mặt trông hiền lành nhưng không hiểu sao tôi lại hơi khớp với ánh mắt nhìn có vẻ như tinh quái của hắn.

- Đây là Quân, bạn của em cùng ở nội-trú, và đây là "Loan mắt nhung" mà Đức đã từng nói...

Tôi đấm lên vai tên em họ một cái vì hắn đã tiết lộ cái biệt hiệu mà mấy công tử nhà giầu đã gán ghép đặt cho tôi. Sau vài phút trò chuyện với Đức, hỏi nguyên do sự biệt tăm, biệt tích của hắn, hóa ra cu cậu từ lâu ham ăn chơi, luôn tiện quen biết Quân trong một đêm nhẩy đầm - rồi Quân một hôm rủ hắn vào nội trú ẩn náu giang hồ một thời gian. Mẹ của Đức biết thế, rất mừng và dĩ nhiên đồng ý cả hai tay, bèn vội gửi gấm đứa con trai duy nhất của mình cho Quân, khi thấy Đức tự dưng hết muốn lêu lổng, phí uổng cuộc đời. Trước khi được vào trường, cả hai phải cắt bỏ mái tóc hippy cùng với những bộ áo quần lòe loẹt. Quân thì húi cua như lính trong quân trường trong khi đó Đức lại táo bạo hơn, cạo trọc hẳn cái đầu - như muốn biểu tượng cho cái sự muốn đổi đời của hắn. Quân lớn hơn Đức gần hai tuổi, nhưng trông có vẻ già dặn hơn tên em họ của tôi nhiều. Lần đầu tiên cuối tuần được ra khỏi nội-trú, Đức rủ bạn ghé đến thăm tôi. Từ đó tự dưng trở thành như một thông lệ, thỉnh thoảng mỗi cuối tuần, Đức và Quân như cặp bài trùng thường hay ghé chơi, có khi hẹn nhau ở nhà tôi mà đôi lúc tôi thấy Quân đến sớm, đứng gác chân lên chiếc xe Honda, hay ngồi chờ bạn ở bên ngoài biệt-thự, có lẽ Quân ngại không muốn đường đột tự ý vào một mình. Tôi không biết trong Quân có một sức hấp dẫn nào đó mà từ anh Tân - người anh cả của tôi - đến chị Tâm, nhỏ út Chi - thoáng chốc đã xem Quân như người đã từng lâu quên biết với gia- đình. Cả đến người quản-gia và chú Tân người tài xế cũng thế. Có lẽ tại bản tánh dễ thân thiện, cộng thêm Quân biết cách nói chuyện và hay làm người ta cười. Sau hơn một năm quen nhau, tôi dần dần đã khám phá ra cái bí quyết này của Quân, nhưng chẳng bao lâu sau chàng bỗng dưng biến mất trong đời tôi, ngay cả đến Đức sau này cũng chẳng biết Quân đã đi đâu, ở đâu.

Buổi tối hôm sau khi Quân gọi điện-thoại, hẹn gặp ở một quán cà phê Starbucks bên bờ biển gần khu tôi ở. Trên con đường lững thững đi bộ đến nơi hẹn, tôi có nhiều điều thắc mắc muốn hỏi chàng, nhưng không biết nên bắt đầu từ đâu. Hôm trước lúc gặp Quân ở khu chợ Tam-Hiệp, hai đứa chỉ vội hỏi thăm nhau vài câu rồi cái điện thoại di động của Quân và của tôi ngẫu nhiên lại reng cùng một lúc. Thế là tôi phải quay lại đón chị Tâm trong lúc nghe chàng nói ngắn gọn là cũng sẽ phải đón ai đó. Chúng tôi chỉ kịp trao nhau số điện thoại để sau này còn liên lạc. Nhờ đó mà tối nay tôi có dịp gặp lại Quân. Chàng mặc chiếc áo thun mầu xanh đậm cao cổ với chiếc quần jean bạc thếch, dáng dấp vẫn bơ đời như ngày xưa tôi đã từng biết về Quân. Khi tôi đến Quân đứng dậy kéo ghế mời ngồi, rồi chàng ân cần hỏi tôi muốn uống chút gì cho ấm bụng trong cái không gian đã bắt đầu chớm trở lạnh khi California đang dần vào cuối thu. Lúc Quân kéo chiếc ghế, tôi thoáng thấy ngón tay chàng không đeo một chếc nhẫn nào cả, ngón tay vẫn dài nhưng không còn gầy guộc như xưa, thưỏ quen nhau tôi thường hay thích cầm bàn tay Quân để ngắm nghía, vì nó trông thật thư-sinh, thật là nghệ-sĩ, trong lúc mấy tên theo tán tỉnh tôi có những bàn tay nếu không trắng bệch, mập phì bơ sữa thì cục mịch, thô ngắn.

- Thấy dáng Loan đi từ xa, trông rất thư thả và bình thản, nếu cuộc đời Loan được đúng như thế tôi cũng mừng.

Quân mở đầu với một câu như để muốn trấn an, đặt cho tôi vào một trạng thái yên bình. Nghe giọng chàng và câu nói ấy, tôi cảm thấy tự dưng nhẹ nhõm, chỉ sợ chàng hỏi thăm ngay về gia đình, về hoàn cảnh hiện tại của tôi. Nhưng trước sau gì Quân cũng sẽ biết, tại sao mình lại cảm thấy hồi hộp chi thế nhỉ? Tôi tự nhủ thầm trong đầu.

- Vậy chứ Quân bây giờ ra sao?

- Tôi đôi lúc cũng không biết mình như thế nào. Vui, buồn cứ thoảng chốc lẫn lộn, nhưng bây giờ thì cảm thấy được bình an sau khi vợ tôi đã mất.

- Ô! Loan xin thành thật xin chia buồn cùng Quân.

- Có chi đâu, ai rồi cũng phải trải qua, nhất là những người cùng lứa tuổi như chúng ta.

Ai cũng sẽ phải một lần tiễn đưa thân nhân, người mình yêu thương… - Ba của Loan mất cũng đã lâu, nhung mẹ Loan mới mất năm ngoái...

- Xin lỗi Loan nghe, thật là vô duyên khi không tự dưng tôi lại nhắc đến chuyện này trong khi ta còn nhiều chuyện để hỏi, để nói.

Tôi chộp vội ngay lấy cơ hội:

- Nói gì về Quân trong khoảng bốn mươi năm qua đi?

Quân nhìn tôi nheo mắt, vẫn nụ cười hóm hỉnh, tinh quái như ngày nào:

- Thế tôi nên bắt đầu từ lúc nào đây? từ cái hôm Noel năm đó nhé?

- Cái đó Loan xin để tùy anh đấy.

Sau khi Quân chợt nghe cô bán hàng gọi báo rằng ly xôcôla sữa nóng của tôi đã có sẵn, chàng đem lại rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện nhìn tôi trong lúc chậm rãi hớp từng ngụm tách cà phê của mình. Cái nhìn của chàng tuy hướng thẳng về phía tôi, nhưng trong cái nhìn ấy tôi thấy nó xa xăm, trôi về mãi tận những đoạn đời đã qua. Rồi chúng tôi trao đổi và nối lại với nhau những dĩ vãng. Trong buối tiệc Giáng-Sinh năm đó ở nhà tôi, sau khi từ chối lời mời của mấy tên con trai của ông tướng, bà lớn đem xế hộp đến đón tiếp tục đi dự tiệc ở những chỗ khác nữa, tôi với Quân lén ra khỏi bữa tiệc đang đông người vui, leo lên chiếc Honda của Quân để chàng đưa tôi đi lễ nửa đêm ở nhà thờ Đức-Bà. Cũng ngộ một điều là gia đình tôi đạo Phật và tôi trước đó cũng không mấy thiện cảm với con trai theo đạo Công Giáo cho lắm. Vậy mà với Quân, tôi lại ngoan ngoãn vâng lời chàng như con mèo con. Đi lễ xong, trước khi hai đứa trở về khu biệt thự để tiếp tục cuộc ăn chơi nhẩy đầm cho đến suốt sáng, chàng mở dưới yên xe, lấy ra một dĩa nhạc 45-tua "Don't Forget To Remember" mới thịnh hành của BeeGees mà tôi sau này vẫn nhớ mãi. Bảo đó là món quà Noel của chàng. Không biết đó có phải là lời nhắn nhủ cho tôi trước khi Quân đột nhiên biến mất sau đêm Noel.

“Oh, my heart won’t believe that you have left me, I keep telling myself that it’s true. I can get over anything you want my love. But I can’t get myself over you…”. Tôi không biết mình đã bao nhiêu lần nhỏ lệ mỗi khi chợt nghe hay thầm hát bản nhạc mà Quân tặng cho tôi, cho đến mãi những năm sau này tôi mới quen dần, thôi không còn khóc và trân trọng xem đó là những kỷ niệm quý giá, tuyệt đẹp nhất của khoảng trời của tuổi mới lớn, mới biết thế nào là tình yêu lần đầu. Khi hỏi Quân còn nhớ tên bản nhạc mà chàng tặng tôi đêm Noel năm xưa. Quân chau mày suy nghĩ dăm ba phút, chậm rãi chàng nhấp miệng uống một ngụm trước khi đặt tách cà phê xuống bàn, rồi cười nhẹ trả lời:

- Sao mà không nhớ, nhưng có lẽ sau khoảng thời gian đó, tôi đáng lẽ phải mua tặng Loan bài "How Can You Mend a Broken Heart" cũng của Beegees cho đủ bộ, có đúng không?

Tôi bật cười trước câu trả lời nửa đùa nửa thật, trộn lẫn cả thú vị của chàng.

- Bao năm rồi mà Quân vẫn thế, vẫn chẳng gì thay đổi.

- Có chứ. Bọn mình đã già đi thôi...

- Chuyện, ai mà chả thế, nhưng lúc vừa gặp lại Quân là chả mấy chốc Loan đã nhận ra ngay...

- À điều này chắc có lẽ cũng dễ hiểu, vì ngày xưa nhiều người bảo tôi như ông cụ non thì bây giờ già thêm chút nữa cũng khác gì là bao.

Trong ánh mắt ẩn chứa nụ cười tinh quái của Quân, tôi thấy dường như chàng vừa tự diễu cợt cho tôi quên đi sự so sánh về thời gian thường hay tàn phá nhan sắc của người đàn bà khiến chàng hôm tình cờ gặp lại đã chẳng nhận ra tôi, hoặc có thể tôi chỉ là một trong những cánh hoa đã thoảng bay ngang qua đời Quân thì làm sao chàng có thể nhớ mãi được.

Tối hôm đó, Quân kể lại rằng một sự kiện thật bất ngờ đã xấy ra hôm dạ tiệc đêm Giáng Sinh năm ấy, khi chàng một mình lìa đám đông ra đứng trên sân thượng ở nhà tôi, nhìn xuống bên kia đường thấy một người lính Mỹ tật nguyền, thương tích vì chiếntranh ở Việt-Nam, đang di chuyển lặng lẽ trong màn đêm trên chiếc sàn gỗ với bốn bánh thay cho ghế xe lăn. Hình ảnh ấy đã khiến Quân xúc động khi thấy một thanh niên xa lạ từ nước ngoài đến đã hy sinh một phần thân thể của mình cho một miền đất xa lạ lẫn xa xăm cả bao ngàn dậm, trong lúc Quân bảo chàng đã tự hỏi thế thì mình đang làm gì ở đây? Rồi sau giây phút suy nghĩ, chàng đã lẳng lặng ra về không một lời từ giã ai đến ngay với chính cả tôi - người bạn gái - nếu chưa muốn nói - là người yêu của chàng. Quân bảo sau đó là những tháng ngày vô định, nếu không muốn nói là vô cùng tuyệt vọng vì chẳng biết tương lai của mình sẽ đến đâu, về đâu và nhất là để làm gì. Trong những ngày rầy đây mai đó, Quân đã suy ngẫm rất nhiều về sự hiện hữu của mình rồi chàng tiếp tục bảo rằng có dịp chàng sẽ ghé thăm và kể chuyện đó cho tôi, nhưng Quân đã đổi ý khi chàng bỏ nhà ra đi rời Sàigòn, rời chốn xa hoa ăn chơi để lang thang đi khắp các tỉnh miền Trung, miền Nam.

- Loan biết không, khoảng thời gian đó tôi cũng không hề hay là chị ruột của mình đã đi lấy chồng, ngay đến nhà cũ cũng đã dọn đi chỗ khác mà mình cũng không biết!

- Ui chao! không ngờ Quân bụi đời ghê hỉ?

Tôi đi từ hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên nọ trong khi Quân vẫn bình thản kể lại quãng thời gian chàng đi tìm chân lý cuộc sống, cho sự hiện hữu của chính mình. Tôi đoán có lẽ đó là thời gian mà Quân đã bắt đầu quên tôi, và cũng có thể đã quên đi tất cả những người con gái chàng từng quen biết trước đó, vì chàng nói lòng chàng chẳng còn thấy rung động muốn yêu ai, hay nói đúng ra - muốn yêu tất cả nhưng trong tim chàng không có chỗ chứa cho bất cứ một ai riêng rẽ.

Chiều xuống thật nhanh khi mặt trời đã chìm sâu phía bên kia bờ Thái Bình Dương. Mầu tím pha lẫn với ánh nắng vàng đang dần lịm tắt khiến con đường chân trời bây giờ trở thành một mầu cam nhạt với cái mầu tim tím như bao trùm phảng phất trong không gian. Từ bên trong quán nhìn ra khung cửa, tôi nhìn cảnh phía trước và nhớ lại có những buổi chiều như thế trên bãi biển khi còn ở trại tị-nạn. Sau bữa cơm tối mấy chị em tôi thường rủ nhau ra bãi ngồi ngắm mặt trời lặn và bàn bạc, kể cho nhau nghe ước mộng mình sẽ làm những gì sau khi đặt chân lên nước Mỹ. Mọi thủ tục và giấy tờ đã hoàn tất, đã được phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn và chỉ còn chờ ngày ngày lên đường.

Tôi kể cho Quân nghe là dạo ấy tôi muốn nhắn tin trên những bảng thông cáo lớn của cộng đồng dân tị-nạn để tìm kiếm chàng, nhưng đến giây phút đó tôi sực nhớ ra rằng chính cái tên họ của Quân tôi cũng chẳng biết nốt. Chị Tâm lúc đó có lần bảo "Quân thật tệ, đi biệt mà chả nói với ai câu nào!". Tôi biết chị Tâm khi ấy có lẽ giận chàng cũng chẳng thua gì tôi. Mỗi lần Quân đến nhà chơi là mấy chị em tôi như vui nhộn hẳn lên. Nhiều khi, câu nói tưởng như thật của Quân hóa ra lại đùa, hay tưởng chàng đùa thì lại đâm ra thật. Phải chịu khó suy nghĩ giây phút sau mới hiểu, và sau khi đã quen lối nói chuyện như thế, mọi người lại cảm thấy thú vị. Ngay đến cả chị Tâm - tuy lớn hơn Quân chỉ hơn một, hai tuổi - cũng có lúc phải bật cười vì những câu chuyện nửa đùa, nửa thật của chàng. Tôi còn nhớ một lần hỏi Quân học ở đâu và tại sao thích cái lối thích nói chuyện nửa nạc nửa mỡ như thế, chàng chỉ mỉm cười rồi bí ẩn trả lời: "vì giống như cái Âm Dương, trong cái Âm chứa cái Dương và ngược lại; như lúc một người đang tĩnh lặng, nhắm mắt thì bên trong đầu lại xẩy ra nhiều ý tưởng luân chuyển; trong niềm vui vẫn luôn ẩn hiện những nỗi buồn; trong xum họp là đã chứa sẵn sự chia ly..." Quân lúc đó quả giống một triết gia, như một ông cụ non, khác hẳn cái con người buông thả, ăn chơi lúc chàng dìu tôi trong những điệu vũ vui nhộn, trẻ trung như Cha-cha-cha, Paso Doble hay tình tứ và lãng mạn với Tango, Waltz... Từ đó, tôi mới nhận ra tại sao Quân khác hẳn bọn con trai nhà giầu đã say mê mình như điếu đổ. Cũng đôi ba lần sau này, khi đã sang ở Mỹ, tôi quen hai người đàn ông có dáng dấp cao gầy và có khuôn mặt thân quen của chàng, nhưng rồi họ vẫn không phải là Quân như tôi đã mong tưởng, nhất là người chồng tôi vừa mới ly dị hơn hai năm trước.

Tôi đã say mê và yêu Quân bởi vì từ lúc có chàng đôi lúc tôi nghĩ - tựa như có một quyển tiểu thuyết, một cuốn truyện dài đầy bí ẩn. Cứ mỗi đoạn đời của chàng chứa đựng nhiều bất ngờ và thú vị khiến tôi không những không sớm mau chán, mà lại còn bị hấp dẫn, lôi cuốn đến nỗi nhiều hôm tôi đã mong đợi Quân ghé sang nhà chơi để được nghe chàng nói chuyện. Hơn bốn mươi năm sau cái cảm giác xưa vẫn còn sau cái buổi gặp nhau tối hôm ấy Ω Thế rồi cũng giống như năm xưa - Quân lại ra đi, nhưng lần này Quân đã có nói cho tôi biết trước là nay mai chàng sẽ quay trở về Việt-Nam, nơi chàng hiện đang sống đã hơn năm năm nay sau khi vợ chàng mất, và hy vọng thỉnh thoảng có dịp sẽ trở lại thăm con, thăm cháu vẫn còn rải rác ở vài tiểu bang, trong đó California nơi chàng hiện viếng thăm gia đình người con trai út. Quân bảo rằng nơi chàng dừng chân để nghỉ ngơi là một dòng tu kín ở miền Tây, ngoài ra chàng thường đi đến những làng nhỏ, thị xã nghèo nàn để làm những chuyện lặt vặt, chuyện bao đồng, chia sẻ những kiến thức mà Quân đã thu thập được trong bao năm qua, khi nào mỏi mệt và cảm thấy tạm đủ, Quân quay trở lại nơi tu viện để nghỉ ngơi và được trò chuyện cùng các thầy, các tu-sinh - một niềm vui của chàng như sau khi đã đột ngột từ giã cảnh phồn hoa, ăn chơi của Sàigòn hơn bốn thập niên về trước. Đêm trước khi chia tay, tôi bạo dạn hỏi Quân một cách làm như bâng qươ không ăn nhậu vào đâu - rằng chàng còn có ý định tiến thêm bước nữa, tìm người bạn lòng để đi hết cuộc đời còn lại. Quân nhìn sâu trong đôi mắt của tôi khiến tôi hơi ngượng ngập, né tránh, rồi chàng tâm sự kể:

- Thực ra, ngay sau khi lấy vợ - tôi mới nghiệm ra rằng khó có thể tìm được một thứ tình yêu hoàn toàn tuyệt đối như ý mình muốn, ngoại trừ tình yêu bất diệt của thượng-đế. Bởi thế có lẽ để tránh sự đau khổ, tôi đặt cái tình yêu cao quý nhất vào đấng Cứu Thế; phần tình yêu còn lại tôi dùng để chia sẻ cho mọi người, mà ai có yêu thương tôi bao nhiêu cũng được, có ghét bỏ cũng chẳng oán, chẳng than chứ không phải là không cần. Tôi chỉ không muốn mình phải lệ thuộc vào ai, chỉ biết yêu thương mà thôi, có lẽ Loan hiểu chứ?

- Nghe Quân nói giống như thể một linh mục không bằng.

- Hết còn là một ông cụ non, triết gia gàn bướng như hồi xưa phải không?

Quân cười, lập lại những câu mà cả nhà tôi thường hay chế nhạo chàng ngày trước. Tôi ngậm ngùi biết mình không thể theo bước chân chàng trong quãng đời còn lại, vì tôi nghĩ mình vẫn còn nặng nợ với con, với cháu cả nội lẫn ngoại để yêu thương, chăm sóc. Quân của tôi bây giờ có lẽ còn xa vời hơn người mà ngày xưa tôi nhung nhớ, đã thỉnh thoảng mường tượng đến. Tôi không hiểu là trong lòng Quân đã nguội lạnh, chẳng còn biết yêu ai tự bao giờ; bởi vì tuy trong ánh mắt nồng nàn nhìn tôi những khi trò chuyện, nhưng qua giọng nói của chàng khi nói về chuyện tình cảm và với cái linh tính của mình, hình như Quân vẫn cố giữ một khoảng cách nào đó để ngăn tôi không nên tiến gần. Chàng khiến tôi chợt nghĩ đến cuốn phim "Brother Sun, Sister Moon" mà tôi xem nó đã hơn hai, ba thập niên về trước; nói về một chàng trai con nhà khá giả, giầu có, sau khi trở về trong một cuộc thánh chiến, chàng thanh niên ấy cảm thấy xúc động mãnh liệt trong lòng khi tận mắt chứng kiến, thấy những cảnh tận cùng nghèo khó; cho đến một ngày chàng trai đã trút bỏ hết cả áo quần đang mặc - một cách như tuyên xưng rằng để trả lại cho đấng sinh thành ra mình, rồi lang thang vào rừng, vào núi tìm được một thánh đường bỏ hoang đã bị đổ nát, tàn phá bởi chiến tranh, chàng chọn ở lại và dần dà có những người cùng chung chí hướng gia nhập đến góp sức sửa sang để trú ngụ và tu luyện. Nơi đó sau này trở thành một dòng tu khổ hạnh tên là dòng Franciscans - hay còn được gọi là Saint Francis of Assisi.

Hôm tiễn Quân ra phi trường, trên đường đi chàng mở một đài radio thường chơi toàn những nhạc rock của thời 60s - vô tình họ chơi bản " I'll Never Find Another You " do ban The Seekers hát khiến tôi hình dung ngay lại những buổi chiều cuối tuần ở Sàigòn năm xưa, nhất là những hôm trời trở mùa vào thu, trong căn phòng vắng thiếu bóng dáng một hình bóng thân thương, tôi thích mở nghe bản nhạc này và nghe hoài không chán, rồi những tưởng rằng nếu gặp lại Quân, tôi sẽ mua tặng chàng bản nhạc để Quân hiểu rằng tôi muốn giữ lại chàng mãi cạnh bên mình, nhưng nay biết chàng giống như áng mây mãi vẫn bay. Hỏi rằng bao giờ mây sẽ thôi bay thì có lẽ, tôi đã già rồi mà tình cảm vẫn còn lãng mạn như ngày mới lớn, mà có phải là lỗi tại Quân đã đến rồi đi, hay tại tôi vẫn mãi yêu một áng mây trên bầu trời cao luôn ngoài tầm tay với.

SVT


Về đầu trang

BẮT CÁ BẰNG TAY

Trần Văn Sanh

Hồi còn ở miền bắc tiểu bang California, thành phố Berkeley gần cuối thập niên 70s - một hôm vài người bạn đến chơi, không rủ nhau đi câu cá mà lại đi vớt cá, bắt cá bằng tay. Lần đầu nghe nói đi bắt cá bằng tay, tánh hiếu kỳ của tôi lại nổi lên - thêm vào đó phải lái xe đi hơn cả tiếng đồng hồ, thế lại càng hợp với máu giang hồ - tôi hứng chí chẳng do dự bằng lòng đi liền. Sáng sớm tinh sương hôm sau, cả bọn bốn thằng đàn ông để vợ con ở nhà, đem theo bình thủy đựng cà phê pha sẵn và mấy ổ bánh mì thịt đem theo để ăn sáng, trong cốp xe đã được dọn dẹp sạch sẽ từ hôm trước để chất vào đó những xô đựng nước để đem cá về, dĩ nhiên kể cả hai, ba cái vợt để vớt cá khi ngoài bờ, xa tầm tay.

Sau hơn một tiếng rưỡi lái xe, cả bọn đến thành phố Suisun - và không nhớ rõ ai đã chỉ đường cho tên Minh, đã vậy hắn còn biết sắm thêm cuốn sổ để biết thủy triều lên xuống khoảng bao nhiêu và ngày nào, giờ nào. Chính vì thế mà hôm đó cả bọn phải đi thật sớm khi trời vừa hơn 4 giờ sáng, vẫn còn nhá nhem tối đi để kịp đến khi lúc nước biển bắt đầu rút.

Đến nơi thấy con nước vẫn còn hơi cao, tuy ánh sáng mặt trời đã bắt đầu ló dạng. Cả bốn người mỗi người lấy một ổ bánh mì, tay cầm ly cà phê nóng vừa ăn vừa trò chuyện trời trăng mây nước. Ai cũng đều có gia đình, đông nhất là anh Trường với 3 đứa con, Minh mới lấy vợ nên chưa rục rịch gì cả, riêng tôi và Hanh thì mỗi người chỉ một đứa. Ngoài tôi ra thì mọi người đều mới đến nước Mỹ hơn 1 năm cho nên ai nấy đều háo hức kể cho người khác nghe những giấc mơ, giấc mộng của mình ở trên cái quốc gia gọi là thiên đàng trần gian. Ăn tục nói phét chả được bao lâu thì đã nghe Minh vội la toáng lên:

- Thôi, thôi dẹp chuyện ăn uống, nước bắt đầu xuống rồi mấy cha nội!

- Mày muốn tụi tao làm cái gì nào? Anh Trường trả lời.

- Cởi quần dài ra xỏ quần xoọc vào, ai không mang theo thì kéo ống quần lên, ướt chút chả sao, hai người xuống chỗ nước cạn nhất, thấy con nào nổi lên lờ đờ thì dùng hai tay hốt vứt lên bờ...

Minh là người trẻ nhất và duy nhất đi bắt cá ở nơi này đã được mấy chuyến cho nên hắn rành ra phết, chỉ bảo ai nên phải làm những gì, còn Minh kéo tôi đi theo nó đến một khúc sông nước có vẻ còn hơi cao, bảo rằng chốc lát mấy con cá lớn còn nằm ở dưới đáy cũng sẽ lộ ra khi nước rút, vói không tới thì dùng cây vợt mang theo. Khi thủy triều theo sức hút của mặt trăng dâng lên từ đêm hôm trước, đem nước mặn từ cửa biển uốn theo con sông quanh co vào đến tận nguồn, đàn cá nước ngọt bị nước muối tràn vào khiến nó như người bị say men, bơi lừ đừ có khi phưỡn lên cả bụng chẳng thèm quẫy đuôi, hay bình thường đã lặn trốn khi có người đến gần chứ nói chi là đợi chạm đến. Bởi vậy tôi và hai tên đàn ông kia khoái chí, tay bắt cá thẩy lên bờ cho thằng Minh nhanh tay liền chộp và bỏ vào mấy xô nước để sẵn.

Hôm đó, cả bọn đem về hơn 40 cân Anh cá đủ loại, nhiều nhất là loại cá trê, sau đó là cá chép, con nào con nấy to gần bằng cỡ bắp chuối chân của dân di tản mới qua thời ấy (chứ mập ú như bây giờ thì ớn bỏ sừ!). Chia ra thì mỗi người hơn chục cân, chẳng là bao nhưng vui tận mạng vì nay đã biết chỗ đi bắt cá về làm chả bỏ tủ đá đông lạnh để dành ăn dần.

*** Mãi cho đến hơn mười năm sau, khi chương trình gia đình đoàn tụ ODP đã trải qua gần một thập-niên với buồn nhiều hơn vui, tôi thấy biết bao nhiêu gia đình ly tán, đổ vỡ khiến nó làm tôi chợt nhớ lại cái chuyến đi bắt cá bằng tay ở thành phố Suisun từ thập-niên trước. Những người từ Việt-Nam mới sang Mỹ tôi thấy cũng giống chẳng khác chi những đàn cá đang sống trong một vùng văn-hóa "nước ngọt" - mà nhiều thứ phải lệ thuộc, phải sống trong bao nhiêu sự bó buộc lễ nghĩa, tập tục (nhất là phía phụ nữ) - sang bên này như loài cá đã gặp một luồng vănhóa "nước mặn", nhiều tự do, nhiều cơ hội để làm giầu, nếp sống độc lập - họ không khác mấy những con cá đang bị say bởi một luồng sóng văn-hóa hoàn toàn mới lạ, cởi mở - bởi thế dễ bị "tóm", bị lôi cuốn vướng vào những cạm bẫy của tự do xa hoa, vật chất.

Thêm vào đó nữa là sự so sánh giữa bản thân - đa số tay trắng - với những người đến trước họ và đã thành công, có sự nghiệp và cuộc sống sung túc. Nhiều người mới sang phần thì ghen ty, với những người qua trước, phần bị chóa mắt với đồng tiền quá dễ kiếm đem so sánh với hồi còn ở VN, cho nên nhiều người - có khi cả hai vợ chồng - đã bỏ rơi con cái của họ để đi làm không những hai việc mà có khi cả 2, 3 việc làm - giờ phụ trội nào cũng làm, có khi ngủ ngoài xe ở bãi đậu của hãng, để khỏi phải mất công về nhà, sau một giấc ngắn thì lại chui vào sở khác làm tiếp. Nhiều gia đình tôi quen biết, tiếp xúc sau này, đa số con cái của họ nếu không trở thành hư hỏng, lao vòng tù tội thì ít nhất cũng đã sớm bỏ học, có con sớm, không bằng cấp và đi làm với đồng lương thấp, tối thiểu. Đối với tôi, đó là những hình ảnh, kinh nghiệm mà tôi đã từng chứng kiến, từng sống và trải qua trong thời chiến tranh. Những thằng bạn giầu, nghèo đủ cả - vì cha mẹ nếu không bận bịu chuyện tham nhũng, vơ vét tiền viện-trợ, hay những gia đình nghèo phải tất cả kiếm ăn từng ngày, con cái bị bỏ rơi như chó hoang, mèo hoang - cộng thêm vào đó là sống trong hoàn cảnh chiến-tranh nay sống mai chết - tuổi trẻ lúc đó còn hoang mang, hư hỏng hơn nhiều.

Có lẽ định mệnh đã khiến tôi sớm trở thành một "ông cụ non", lúc bấy giờ tôi đã thắc mắc rằng mấy đứa vì là con nhà nghèo cho nên thất chí, buông xuôi thì còn hiểu và thông cảm được - chứ tại sao mấy thằng con nhà giầu, loại con ông cháu cha, vung tiền, ăn chơi đốt tiền như nước hằng đêm, thế mà lại cũng chán đời, oán xã hội? Đến khi ngẫm lại chính trường hợp của mình và tìm một giải đáp chung cho mọi hoàn cảnh, tôi thấy bản nhạc "All You Need Is Love" của Beatles quả không sai chệch vào đâu. Mãi sau này khi tôi học về môn thần-học cũng bảo như thế: 10 điều răn trong phần Cựu-Ước mà Tân-Ước của kinh thánh sau này đã giải thích rằng, 10 điều răn cũ chung quy cũng tóm lại chỉ hai điều: thứ nhất là yêu thương và thờ phuợng thượng- đế, và thứ hai là biết yêu thương người khác như chính mình. Do đó sau này Chúa Jeus cũng chỉ nói về hai điều răn đó mà thôi, không còn phải gò bó, tuân theo những thủ tục, luật lệ rườm rà nào khác. Chính nhờ sự quan sát và suy ngẫm bao năm về chuyện này, tôi nhận thấy những đứa bé được bố mẹ - quan trọng nhất là có được tình yêu của người mẹ - có mẹ ở nhà và thương yêu che chở bảo bọc cho đến ít nhất là 2, 3 tuổi - khi bắt đầu vào vườn trẻ - ra đời, những đứa bé này có nhiều tự tin, dễ thành công và biết thương người hơn. Có một thằng nhỏ, con lai - mẹ nó gửi người vú trông nom ngay từ lúc lọt lòng và ít khi đến ôm nựng, chăm xóc nó. Lớn lên thằng nhỏ cả đời kiếm tìm cái tình thương mà nó đã chẳng có từ bé; lúc người yêu nó tuyên bố muốn chia tay và đem đứa con gái chưa đầy một tuổi đi xa. Trong một đêm Giáng-Sinh mọi người xum vầy ăn tiệc trong gia đình, thằng nhỏ một mình cô đơn trong một khách sạn đã để khẩu súng colt-45 vào miệng và bóp cò. Đây là một trong những chuyện đau thương trong đời mà tôi đã từng biết, từng chứng kiến. Nhờ đó mà sau này, tuy có bốn thằng con trai ở cái xứ sở nhiều cạm bẫy, vợ chồng tôi đã tránh được bài học của người đi trước.

Bởi thế tôi thường hay nói, tôi rất biết ơn và không phán xét bất cứ ai, thứ nhất vì sự phán xét về con người đó thuộc về của thượng đế, tôi chỉ quan sát, phân tích và học hỏi kinh nghiệm, sự việc từ người khác, và biết ơn họ đã cho tôi những bài học thật quý giá trong đời. Bởi thế, từ đó đang là một "ông cụ non" ít nói, tôi bỗng trở thành một triết gia quèn và hay nói nhiều! Ai xui tới chơi vặn "trúng đài", muốn bàn bạc bất cứ điều gì về cuộc đời, thì người này hôm đó coi như "tới số"!:)))) Đùa chơi thôi, chứ giống như mình chơi ping-pong, đánh đi mà không có ai đánh trả lại cũng chán chết. Tôi thích chia sẻ những gì mình biết, để có sự tranh cãi bàn luận, hơn thua không là vấn đề, cái thú là được người khác chỉ cái "lỗ hổng" trong sự biện luận của mình, để từ đó mới khá hơn - hay nói nôm na là tìm ra được cái chân lý hay hơn, làm cho đúng hơn.

Tiện đây xin cũng nói thêm chút ít, cái ngày mà "khúc ruột ngàn dậm" được phép cho trở về quê hương, giai đoạn của thập-niên đó cũng chẳng khác chi mấy với thập niên 60s - khi quân đội Hoa Kỳ bắt đầu đổ bộ vào VN với quân số hơn trăm ngàn, mà khi một số lượng ngoại-tệ khá lớn đem đến để tiêu sài ở một nước nghèo đói, tôi thấy những tiến triển thoái hóa của xã-hội VN từ đó cũng theo cùng một khuôn mẫu, nhưng nay với một tầm ảnh hưởng sâu đậm hơn trước thởi chiến-tranh, chung quy cũng chỉ vì từng lớp lãnh đạo xưa kia vốn đã thuộc hạng bần cố nông, cộng thêm lòng thù hận, tự ti tự ái cho sự thất học của mình.

SVT 2013


Về đầu trang

BÓNG ĐỔ ĐƯỜNG DÀI

Trần Văn Sanh


Sáng sớm tinh sương hôm qua, sau khi đứa em thả hai vợ chồng tôi ở tiệm bánh mì nổi tiếng Lee Sandwich để đón chuyến xe đò Hoàng từ San Jose xuống Quận Cam, thường gọi là Orange County, nói tắt là OC - ở miền Nam của tiểu-bang California. Tôi vào tiệm gọi cho ly cà-phê và lấy một gói xôi ngồi ăn trong lúc chờ đợi xe đến. Tuy thời gian và không gian khác hẳn với cách đây hơn ba mươi, bốn mươi lăm năm về trước, nhưng nó cũng đủ để làm tôi nao nao nhớ lại những giây phút chờ đợi chuyến xe đò đưa tôi đi đến những tỉnh nhỏ trên quê-hương. Đó là những chuyến xe đưa hành khách đi từ Sàigon đi Đà-Lạt, Nha-Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Mỹ-Tho, Cần-Thơ, Bến-Tre, v.v…cũng những giây phút ngồi chờ đợi như thế này, trong một quán cóc bên cạnh những bãi xe, gọi cho mình ly cà-phê và ăn một gói xôi hay dĩa bánh mì trứng. Thưở đó tôi còn hay hút thuốc lá - tuổi thanh thiếu-niên mà - thấy người lớn hút thuốc thì mình cũng bắt chước, nhưng may mắn thay, chả nhớ vì lý do gì mà thời gian ngắn sau, tôi đã bó cái thói quen đó. Những buổi sáng ngồi co ro trong cái lạnh của ban mai, ngồi uống ly cà-phê nóng và ăn sáng – nó vừa ấm cái bụng và làm giảm bớt cái nao nao trong lòng khi biết mình sẽ sắp sửa lên đường đi về một vùng đất xa lạ, ngay cả lúc biết mình sẽ được gặp lại cái quang cảnh và không khí đã quen thuộc ở nơi chốn mình sắp đến, như Đà-Lạt chẳng hạn.

Đi xe đò Hoàng không những là một sự tiện lợi cho những người chưa biết đường, hay lười lĩnh như tôi lần này - không muốn lái xe, nhất là khi đến những thành-phố từng nổi tiếng với bao nhiêu là xa-lộ chằng chịt, hay bị kẹt nghẽn lưu-thông như vùng Quận Cam chẳng hạn. Thêm vào đó, không biết ai khác nghĩ sao - chứ ngồi giữa đám người cùng mầu da và ngôn ngữ, được nghe những chuyện trên trời, dưới đất - chả khác gì như những ngày tôi đã từng nghe những “bà gìa trầu” đi xe đò về quê, than phiền hay khoe khoang về những thành qủa của bao người con từng bỏ mảnh vườn, thưỏ ruộng để lên tỉnh làm ăn, sinh sống… Như thường lệ, khi anh phụ-tá leo lên xe và phân phát cho mỗi người một chai nước lọc để uống dọc đường, cái thói đùa cợt trong tôi vẫn chưa chừa, vừa nhận chai nước tôi hỏi:

- Anh ơi, cho đổi lấy chai bia được không?

- Chỉ có tài-xế mới được uống bia để lấy can đảm lái xe … Anh phụ tá có lẽ qúa quen thuộc với những câu chọc ghẹo, than phiền cho nên đáp ứng tỉnh bơ.

Lúc phát ổ bánh mì cũng thế, tôi làm bộ lấy làm ngán ngẫm: “Bánh mì thường qúa rồi, cho tôi tô phở đi!”. Vừa mới bị đòi hỏi một chai bia, hắn cũng mau mắn đáp lại, bảo rằng nồi nước phở đang nấu - chờ …hơi lâu. Rồi đến lúc anh ta trở lại để thâu tiền cũng thế, lúc đến băng ghế chỗ tôi ngồi, vừa đưa tiền tôi vờ kỳ kèo: “ Chốc nữa nếu cho nghe nhạc vàng, nhạc “Ngụy” thì được, chứ bắt tôi nghe cải-lương hay Hồ Quảng thì phải bớt tui $5 đồng nghen!”. Anh chàng bây giờ qúa quen nên chỉ cười hề hề, vài người ngồi xung quanh cũng vui vẻ hùa theo, cười theo câu nói đùa của tôi khiến cho không khí đỡ trầm lặng tẻ nhạt, vì hành khách ban đầu thường hay xầm xì, to nhỏ với nhau, ít khi trao đổi với người lạ, ngoại trừ khi có chuyện lạ gì xẩy ra trên chuyến đi. Nói về chuyện lạ, mà kể cũng lạ thật – cách đây độ ba năm – hai vợ chồng tôi cũng đón chuyến xe đò Hoàng – sau khi viếng thăm gia-đình ở San Jose - xuống OC thăm bà con và bạn hữu ở đây, tôi gặp anh chàng ca-sĩ A.K., người có giọng hát thật “đa sầu, đa cảm” trước thời 75, cho nên tôi đã đặt cho cái biệt-hiệu là AK75 để mọi người khỏi chú ý khi hai vợ chồng tôi nói về anh ta. Lần này vô tình không hẹn mà cũng gặp lại anh chàng AK75 này, trước khi leo lên xe, tôi chào anh và khen: “Mấy năm gặp lại thấy anh vẫn thế, chả mấy gì thay đổi”. Câu nói làm anh chàng vui mừng hay sao mà cám ơn tôi rối rít.

Sau khi xe rời bến và ra khỏi ngoại-ô thành phố, người tài-xế cho mọi người xem cuốn băng nhạc Paris By Night 101, với chủ đề là mừng Xuân Tân Mão 2011. Một bài hát qúa quen thuộc từ bao nhiêu thập-niên mà trước đây tôi chỉ nghe tai này rồi lọt qua tai khác, chẳng mấy chú ý:

Mong đầu năm, cuối năm gặp may gia đình luôn hạnh phúc xum vầy… Giờ nghe đến đoạn này tôi bỗng dưng tự nhủ thầm “Thảo nào, chúc Tết chỉ đầu năm, cuối năm gặp may cho nên trong năm xúi quẩy hoài!”. Mà xui thật, mới chơi được vài bài thì cái đầu máy DVD bị hỏng cho nên mọi người không còn gì để tiêu-khiển, giải trí. Cho nên khi anh tài-xế dùng microphone báo cáo, xin lỗi hành khách về sự trục trặc kỹ-thuật, tôi lại nôỉ lên cái máu tửng:

- Sẵn có cái microphone, góp ý anh tài nên hát vài bài karaoke cho bà con nghe chơi?.

- Ý kiến hay lắm đó!

- Oh Yeah!...

Có lẽ tôi nói hơi nhỏ hay là anh tài-xế muốn làm bộ bận chăm chú lái xe cho nên chơi cái màn lờ đi, làm như không nghe, giữa tiếng cười khúc khích của vài hành-khách với cái đề nghị nghịch ngợm, thật ngẳng vừa rồi.

Cái xui không chỉ ngưng ở đó, khi vừa đến bến ở bãi đậu xe của chợ ABC khu Westminster, tôi lại gặp một “trục trặc vì lý do kỹ thuật” nghề-nghiệp cho nên không thể ghé thăm bạn hữu và vài tay nhiếp-ảnh ở đây, để cùng nhau đi “uống cà-phê ở quán” như đã tưng bừng hứa hẹn.

Nhất là sau khi được biết rằng sẽ có một cuộc triển-lãm của hơn hai mươi nữ nhiếp-ảnh-gia, mà trong đó có hai cái tên Thanh-Thuỷ, Mai Keleman là hai “gà nhà”, quen thuộc của nhóm VDAphoto. Hy vọng sau khi chấm dứt cái hợp-đồng làm việc với MS, tôi sẽ “giải nghệ” sớm, lúc đó sẽ tha hồ ôm cái máy ảnh đi cùng bạn bè khắp nơi cho thỏa chí tang bồng. Đời qúa ngắn để đi làm công mãi cho thiên-hạ trong khi cuộc đời mình tựa như cái bóng bên đường dưới ánh nắng ban mai – thoáng chốc sẽ phai mờ, biến mất. Cái ý tưởng này thoáng qua khi tôi nhìn thấy cái bóng của mình đổ dài trên mặt đường trong lúc chờ đợi chuyến xe khởi hành, tôi nghĩ đến cái thân phận con người, con đường dài xuống OC và quãng đời còn lại để rồi thốt lên hai câu triết-lý rất ư là vô duyên, thật huề vốn: “Ối! Đời là C’est la vie, tình là faire l'amour”... ủa hình như mình dịch sai thì phải! Thôi kệ, miễn là nghe thấy nó "hưng phấn” thì cũng chả chết thằng tây nào...

SVT


Về đầu trang

BUỔI CHIỀU

Trần Văn Sanh


Cô nhỏ ngồi một mình như thế cũng khá lâu, bó gối nhìn những con còng gió chạy lăng quăng, hay dùng ngón tay vẽ nghịch ngợm trên mặt cát mịn. Rồi nhìn từng con sóng nhỏ, như vô tình, ùa vào xoá tan những dấu vết vô nghĩa, và để lại sự phẳng lặng, thanh thản cho một ngày nhàn rỗi của cô nhỏ. Chiều dần xuống sau dẫy núi. Nắng chỉ còn là mầu vàng vọt, trải dài trên bãi biển của một chiều vắng người. Những chiếc ghế bố và dù che nắng, đang được đám người làm trong những khách sạn dọc bờ biển, xếp lại thành từng dẫy thật ngăn nắp. Tiếng trò chuyện, cười đùa của họ, lẫn với tiếng ghế gỗ xập lại nghe lách cách, vang vọng trong gió biển. Cô nhỏ với tay lấy đôi dép ở dưới chân. Đứng dậy và vén lại mái tóc. Như thường lệ, khi công việc thu dọn của những khách-sạn sắp xong là dấu hiệu đã đến giờ cô nhỏ phải về. Trễ một chập nữa sẽ có tiếng của chị bếp hay của bà ngoại vang vọng từ phía sau hiên nhà "Thu ơi, về rửa tay ăn cơm con." Chiều miền biển trời xập tối cũng khá nhanh. Cô nhỏ xách đôi dép, thong thả đi về hướng căn nhà nằm giữa đám khách-sạn ở ven bờ. Thói quen mỗi ngày của cô nhỏ dường như chỉ có thế. Sau buổi tan học chiều về, cô nhỏ thay chiếc áo dài bằng cái quần jean và chiếc ao thun cao cổ, hoặc cái sơ-mi và khoác bên ngoài chiếc áo dạ mỏng. "Chèn ơi! mặc đồ chi mà giống con trai vậy con!". Bà ngoại thường hay mắng yêu đứa cháu gái nhỏ yêu dấu của bà, và cười xuề xoà khi cô nhỏ xà vào lòng, hun lên đôi má rồi khoe bà chuyện học hành ở trường. Câu chuyện làm quà của cô nhỏ chỉ được chốc lát. Sau đó cô nhỏ xin phép bà ngoại để xuống bãi chơi, nhặt vỏ sò, vỏ ốc. Hoặc ngồi nhìn những sinh vật nhỏ bé tội nghiệp hoạt động trên bãi biển.

- "Em có thấy mấy con dã tràng này làm một việc vô tích sự không?" Cô nhỏ nhớ lại lời của gã thanh-niên nói về những con vật kiên nhẫn, cặm cụi xây đắp thành từng ụ cát bé tí xíu. Rồi chạy trốn khi sóng vào bờ, xoá lấp đi những gì vừa mới làm, mới tạo.

Sau đó, đám sinh vật ngây ngô đó lại tiếp tục công việc lại từ đầu. Nhưng những cơn sóng vẫn tiếp tục phủ nhận sự lao động của giống vật bé nhỏ dễ thương ấy. Cô nhỏ vẫn thường thấy mấy con dã tràng này, nhưng với sự nhận xét của gã thanh-niên, làm cô nhỏ chú ý hơn:

- "Sao chúng nó khờ thế ông nhỉ?" Cô nhỏ thắc mắc.

- "Vậy mà loài người còn ngu tệ hơn chúng nó nữa cơ!" Gã thanh-niên mỉm cười, nụ cười hiền lành, hơi khó hiểu.

- "Trong cuộc đời, những tai hoạ và cuối cùng là cái chết cũng giống như sóng biển. Nó sẽ đến, phải đến. Và đến một cách không ngờ. Chúng ta biết vậy, vẫn hiểu thế. Vậy mà lại còn gây thêm khổ đau vào đó, như chiến tranh chẳng hạn." Gã thanh-niên nói một hơi như sợ ai ngắt lời. Cô nhỏ không hiểu nhiều về gã. Cả đến cái tên của gã, cho đến bây giờ, khi đã xa nhau, cô nhỏ cũng không biết nốt. Cô chỉ biết rằng cách đây một hai tháng. Gã thỉnh thoảng cuối tuần ghé ra Vũng-Tầu, thuê một căn phòng nhỏ ở khách-sạn kế bên nhà. "Để hưởng gió trời lành mạnh. Để thấy cái bao la của biển, của vũ-trụ, và sự nhỏ bé bất lực của chính mình. "Gã nói vậy. Những lời nói như hàm chứa một tâm sự buồn phiền, chịu đựng. Cô nhỏ tình cờ để ý đến gã từ cái hôm buổi chiều, ngồi học trong căn phòng nhỏ trên lầu.

Nhìn xuống bãi, thấy gã một mình, hút thuốc ngồi trông ra biển. Cả ba, bốn buổi chiều liên tiếp như vậy. Dáng cao, gầy của gã ngồi đó làm cô nhỏ bỗng tò mò. Gã nửa có vẻ là dân sinh-viên, nửa là một công-chức. Vì với mái tóc hơi dài hợp với chữ điền của gã, vả lại "làm gì có thứ lính tráng lè phè đến thế!" Cô nhỏ tự nghĩ. Thoạt đầu, cô nhỏ tưởng gã đương thất tình nên bỏ ra đây chơi cho khuây khoả. Độ vài tuần sau, khi cô nhỏ bất chợt gặp gã đi lễ ở nhà thờ chính toà trong thị-xã, và gã đã gợi chuyện làm quen khi gặp lại cô nhỏ, cũng buổi chiều hôm đó, đi dạo nhặt vỏ ốc phía ghềnh đá ở cuối bãi. Gã nói gã là ký-giả, mệt mỏi với những chuyến công tác xa, muốn tìm một nơi yên tĩnh, ngơi nghỉ. Gã có lối nói chuyện rất cởi mở, vui tính – tuy đôi lúc có vẻ như xa vắng – hay bàn về thơ phú. Những bài thơ gã thường ngâm cô nhỏ không được biết đến. Cô nhỏ chỉ biết dăm bài thơ của Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan, hay của Nguyễn Công Trứ … mà cô nhỏ học ở trường có thế thôi.

"Ngoài hai mươi tuổi yêu mười bẩy tim tím ban chiều, tim tím mai" * Gã hỏi cô nhỏ có thích đọc thơ văn. Gã hỏi, nhưng dường như đã không để ý câu trả lời của cô nhỏ. Gã nhìn xa xăm tận ngoài khơi. Làm như câu thơ gợi nhớ cho gã một kỷ niệm nào đó. Đôi mắt gã như chùng xuống, phảng phất buồn. Cô nhỏ không thấy mầu tím, chỉ thấy mầu nắng vàng loang loáng trên mặt sóng, trên vầng trán cao rộng của gã. "Rồi nhỏ sẽ thấy khi nào nhỏ biết yêu." Gã chuyển lối xưng hô khi biết người con gái mới mười sáu tuổi. "Tôi ấy à?" gã trả lời cô nhỏ. "Dường như tôi biết yêu sớm lắm. Chừng mười sáu, mười bẩy gì đó. Yêu sớm chỉ khổ thôi. Chớ có vội nghe nhỏ ". Lối nói chuyện của gã, thỉnh thoảng, như là người anh cả nói với cô em út. Cô nhỏ ngượng ngùng khi nhớ đến mấy đứa bạn trêu chọc "nhỏ Thu có kép già bay ơi!". Cô nhỏ chống chế mãi, lũ bạn vẫn không tin. Riêng cô nhỏ, cô thích được nói chuyện với gã thanh-niên lạ lùng này. Gã không có thái độ rụt rè, lúng túng, hoặc hỏi những câu chẳng ăn nhậu vào đâu, như mấy tên con trai thường chận đầu hỏi chuyện với cô nhỏ. Thoạt đầu cô nhỏ còn e thẹn, mắc cở. Riết rồi cô nhỏ thấy con trai cùng tuổi mình hay có những vụng về như nhau. Và sẵn có máu đùa nghịch, cô nhỏ trở thành bạo dạn, thỉnh thoảng trêu chọc lại, khiến vài tên con trai ấp úng được câu trước, câu sau rồi vội vàng biến mất. "Gieo gió gặt bão, mày rồi sẽ ế chồng cho coi Thu à!" Mấy con bạn của cô nhỏ vẫn mắng mỏ, doạ như vậy.

*** Sáng chủ-nhật, sau khi đi lễ nhà thờ về, cô nhỏ lên lầu, thay đồ và ở luôn trên căn phòng. Không xuống bãi đi thơ thẩn như mọi khi. Hơn tháng nay, gã thanh-niên nọ cũng chẳng ra chơi. Trong lúc ở nhà thờ, cô nhỏ có ý tìm. Nhưng bóng dáng gã như ngoài khơi biển động, xa khuất mờ mịt. Không hiểu sao, cô nhỏ tìm thấy sự êm đềm, nhẹ nhàng qua lối nói chuyện, hỏi thăm ôn tồn, từ tốn của gã. Sống một mình quanh quẩn với bà ngoại và chị bếp, cô nhỏ không có những giây phút tró chuyện đầm ấm của một người khác phái. Mồ côi cha mẹ sau ngày tết Mậu Thân.

Cô nhỏ rời bỏ Gia-Định và ra ở với bà ngoại cũng đã gần bẩy năm. Tình thương của bà ngoại đối với đứa cháu gái duy nhất thật bao la, vì cô nhỏ có đôi mắt giống mẹ, to, hiền lành. "Má mà hiền như cục đất, vậy mà trời không có mắt để cháu bà phải mồ côi! "Bà ngoại thoảng vẫn thường than với cô nhỏ như thế. "Chỉ vì hai cái danh từ chủ-nghĩa mà bao nhiêu oan khiên đã xẩy ra trên cái đất nước nhỏ bé tang thương này!". Cô nhỏ nhớ đến lời của gã thanh-niên. Gã chỉ tay về phía bên kia bờ đại dương. "Ở bên đó, người ta đang sống và làm giầu cũng nhờ hai cái chủ-nghĩa phi nhân, phi lý ". Cô nhỏ không hiểu những gì gã nói đến. Chỉ mang máng ý thức rằng có lẽ, những điều gã nói là nguyên nhân đã gây ra sự bất hạnh cho cô nhỏ. Gã không mồ côi, nhưng lối sống cô đơn của gã làm cô nhỏ cảm thấy thân, gần gũi. Dạo này tin tức chiến sự mỗi ngày một nhiều, một căng thẳng. Cô nhỏ thấy bà ngoại của mình lo âu. Ở trường thầy cô cũng lo âu. Thế là đã mất Pleiku. Ban mê Thuộc cũng không còn. Đường về Nha-Trang đã bị cắt đứt. Tin tức từ đài phát-thanh loan báo từng giờ. Có thể gã sẽ chẳng còn trở lại. Cô nhỏ linh tính như vậy. Hôm cuối, trước khi về, tự nhiên gã trở nên trầm lặng. Trong cái trầm lặng ấy, dường như gã muốn nói lên một điều gì. Thay vào đó, gã hát cho cô nhỏ, giọng ấm và dịu dàng:

"Từ khi trăng là nguyệt, đèn thắp sáng trong tôi. Từ khi em là nguyệt, nghe trong tim bối rối …" (**). Cô nhỏ như muốn khóc. Chiều hôm ấy, nắng mầu tím buồn lạ thường. Tiếng sóng biển rì rào như lời dỗ dành ngọt ngào. Hàng dừa gió thổi, lá rũ lao xao như thì thầm. Cô nhỏ quay đầu nhìn lại những dấu chân của hai người. Đại dương bỗng trở nên bao la, mênh mông. Cô nhỏ cảm thấy mình bé bỏng, tê dại. Như vỏ ốc nằm trơ vơ dưới cát. Trong giây phút, dấu chân in sẽ tan theo bọt sóng. Gã sẽ như con chim biển, tung cánh bay khuất về phía chân núi. Xa mãi tận cuối trời. Lúc ra về, gã cầm tay, nhìn sâu vào đáy mắt cô nhỏ. Bàn tay gầy ngón dài, xạm nắng của gã ấm áp, xiết nhẹ nhàng:

- Mai tôi phải về. Không biết có còn được trở lại. Dù sao, cũng xin cám ơn nhỏ. Tôi mới có cái mới có, mai vẫn còn là mới có. Mốt nọ qua đi sẽ là kỷ-niệm, một kỷ-niệm tôi sẽ mang theo và sẽ không quên nhỏ với phố biển này " Gã chỉ nói bấy nhiêu, rồi quay gót bước đi.

*** Trong lúc ngồi chờ ở văn phòng tìm việc, đợi cho đến phiên mình được gọi vào phỏng vấn. Thu giở tờ báo Việt ngữ nàng đem theo để đọc giết thì giờ. Thất nghiệp đã gần một tháng, hôm nay là ngày đầu Thu ló ra khỏi nhà, thực sự đi kiếm việc. Hai tuần lễ đầu, sau khi hãng bị đóng cửa vì phá sản, Thu coi như đó là dịp để nàng được "nghỉ hè" một cách bất đắc dĩ. Làm việc đã hơn bốn năm, chưa bao giờ nàng được khoảng thời gian nghỉ ngơi, rảnh rỗi nhiều đến như thế. Hồi tưởng lại, nàng cũng ngạc nhiên, thắc mắc là tại sao mình lại có thể làm việc một cách "hồ hỡi" đến như vậy. Ngày làm tám tiếng, chưa kể giờ phụ trội mỗi ngày, và nhiều khi cả cuối tuần. Hoạ hoằn lắm, nàng mới xin nghỉ một, hai ngày vì những bệnh cảm cúm lặt vặt. Hoặc những hôm được thư nhà, Thu như người bị ốm nặng. Tin vui thì ít, buồn lại nhiều. "Ngoại dạo này mắt kém hẳn đi. Không còn nhận ra hình của cô gởi về nữa. Vẫn nhắc và cầu xin trời phật phù hộ cô luôn.

Thư của chị Tư, người bếp giúp việc trung-thành cho bà ngoại từ ngày Thu còn bé, mới đây đã gởi cho nàng hay. Như trăm ngàn lá thư khác mà Thu vẫn được nghe người quen trong sở kể lại. Thư nào cũng đầy sự áp bức, thống khổ, nhẫn nhục. Ngày gởi nàng cho gia đình một chủ thuyền quen biết. Thu khóc hết nước mắt, không chịu đi. Nhưng bà ngoại của nàng đã cương quyết: "Đời con còn dài, con cần phải sống. Ngoại già rồi, mồ mả ông bà, con cái còn ở đây, ngoại ở lại để chống mắt xem chúng nó làm được gì ngoại!". Qua đây chẳng bao lâu, Thu được thư của chị Tư, cho hay rằng bọn ba mươi tố cáo bà ngoại là mẹ của sĩ-quan nguỵ, mặc dù ngày xưa chồng đã theo Việt Minh chống Pháp, ngoại vẫn bị tịch thu hộ khẩu, đuổi chị Tư về quê, không cho phép bà có người giúp đỡ săn sóc. "Để diệt trừ đầu óc tư-sản, phong kiến …". Không còn hộ khẩu, bà ngoại của nàng phải bán căn nhà, theo chị Tư về quê của chị ở tận Vĩnh Long, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo. Nương tựa lẫn vào nhau. Bây giờ, nguồn lợi tức của hai người là những thùng quà do Thu gởi về. Vì chị Tư dẫu có buôn bán cũng chẳng đủ nuôi một người, huống gì còn phải lo thêm bà ngoại và mấy đứa con dại mồ côi cha của chị. Thu đã không bỏ một cơ hội nào mỗi khi được hỏi làm thêm giờ phụ trội. Để có tiền gởi dư thêm chút đỉnh cho chị Tư, đã thay mặt nàng chăm sóc bà ngoại ; dặn chị gắng giúp đỡ bà con lốí xóm miếng cơm, viên thuốc cho những ai cần đến. Riêng nàng, Thu làm không biết mệt. Ngày hai buổi, sáng đi chiều về, nàng sống như cái bóng trong căn phòng nhỏ cô đơn ở giữa cảnh nhộn nhịp gần khu đại-học Long Beach. Hai mươi bốn tuổi. Một phần tư thế-kỷ. Nếu đem so sánh giữa hai khoảng thời gian thì thời gian chả khác là bao, nhưng Thu cảm thấy nàng như già đi trước tuổi. Cuộc sống không còn mang một ý nghỉa gì đối với nàng. Mỗi ngày, Thu mỗi thấy cuộc đời đầy sự bất hạnh, phi lý. Tuổi ấu thơ của nàng, vì là con một nên Thu không có những kỷ-niệm đùa nghịch với anh chị em như các đứa bạn khác cùng trang lứa. Thu lại thiếu thốn cả tình thương gia đình khi cha mẹ nàng mất sớm. Ở với bà ngoại chẳng được bao lâu, chưa bám víu lâu dài với cái yêu thương cuối cùng của nàng. Rồi phải chia lìa, ly tán. Trên con đường ly-hương, những gì trong trắng, quí giá nhất của đời người con gái cũng đã bị cướp mất một cách phũ phàng bởi bọn giặc biển Thái man rợ. Giữa cảnh trời nước mênh mông, bao la vô tận. Nàng tủi nhục và cảm thấy thân phận con người thật hèn mọn. Sự vô tình hay thử thách của đấng tối cao đã vượt khỏi sức chịu đựng của nàng. Lúc ấy, Thu chỉ còn nghĩ đến cái chết. Nhưng mọi người trên chuyến tầu đã khuyên lơn, can gián. Không phải chỉ riêng nàng chịu sự bất hạnh. Một người cha, vì quá phẫn uất trước cảnh đứa con gái của mình bị đánh đập, vùi dập một cách tàn bạo. Xông vào can thiệp để lãnh những nhát búa chí tử và bị vất xuống biển. Đám đàn ông, thanh-niên còn lại đứng khép nép, yếu hèn không một phản ứng. Mấy năm sống dưới thiên-đường chủ-nghĩa đã biến đổi con người của họ trở thành tiêu-cực, vị kỷ. Qua đến vùng trời tự do, họ hội nhập đời sống mới một cách dễ dàng. Quên ngay những gì đã và đang xẩy ra trên mảnh đất đau thương mà họ phải lìa xa. Nhiều khi Thu thắc mắc, phải chi nếu nàng còn ở lại? Cuộc đời nàng sẽ đi về đâu. Và bây giờ, trên xứ người, nó sẽ đưa nàng về hướng nào? Thu cảm thấy hình như nàng đã không có sự lựa chọn. Định mệnh nàng như đã được ai xếp đặt, chỉ định từ kiếp nào. Những lúc tưởng rằng nàng làm chủ lấy cuộc đời mình, nhưng thực ra hình như nàng chỉ được tự do trong cái phạm vi nhỏ bé nào đó đã được cho phép. Như diễn-viên đôi lúc đã "cương" vì lỡ quên vở tuồng, mà đoạn kết đã được soạn sẵn. Thu sống như để chờ đợi, chờ đợi cho tấn tuồng của đời nàng sẽ được tiếp diễn không biết bao giờ mới được kết thúc.

** Thu không ngờ rằng quả đất tròn và quá nhỏ để có thể cho nàng gặp lại gã. Hôm ngồi chờ đợi ở sở tìm việc, đang nghĩ ngợi miên man. Thu chợt giật mình khi nghe tên mình được gọi. Giọng phát âm hoàn toàn Việt Nam, nghe rất quen thuộc. Và người gọi tên nàng cũng ngạc nhiên không kém khi thấy Thu tiến đến gần:

-Ủa! té ra cô … Gã bỏ lửng cuối câu. Có lẽ định gọi nàng là "cô nhỏ" mà ngày xưa gã vẫn hay dùng. Bây giờ cô nhỏ của gã đã là một thiếu nữ. Hoàn cảnh cũng xa lạ khiến gã hơi khựng lại. Đối với Thu, tất cả những gì tưởng chừng như đã vùi sâu trong quá khứ, đã chết tự ngàn đời, bỗng sống động như một buổi nắng hè dậy trễ, mở cánh cửa sổ để nắng lùa vào trong căn phòng vẫn từng trống vắng. khép kín, âm u. Thu tưởng như mình đang bước vào cái nắng chan hoà, ấm áp mà nàng đã quên bẵng đi từ bao năm. Thu thấy lòng mình giao động lẫn chút vui mừng. Nàng đang ngập ngừng, lúng túng thì gã đã lịch sự mời vào bàn giấy làm việc của gã và tự giới thiệu:

-À quên, xin lỗi cô Thu, tôi là Nguyễn Ngọc Đông. Cô cứ gọi tên Đông cúng cơm của tôi là đủ.

Không ngờ gặp lại nhau ở đây. Thế mới biết trái đất này quả chật hẹp cô Thu nhỉ!

Lối nói chuyện của gã vẫn vậy. Vẫn có vẻ như một chút gì thân mật, dịu dàng đối với nàng. Hình ảnh những buổi chiều êm đềm ngày xưa như tuần tự chiếu lại trong trí nhớ. Gã là cả một bầu trời kỷ-niệm tưởng như đã mất của Thu. Cái thế giới của tuổi dậy thì và những xao xuyến thầm kín đầu đời đã không còn, nhưng khoảng thời gian dịu ngọt ấy vẫn ẩn chìm, tồn tại trong trí não nàng. Khoảng cách ngày xưa giữa Thu và gã như gần lại. Đàn ông đến một tuổi nào đó, hình như họ thôi già. Tám, chín năm rồi mà gã vẫn không thấy gì là thay đổi. Áo quần tuy không còn vẻ lãng tử như ngày trước, nhưng gã vẫn có vẻ gầy. "Ở cái xứ của ăn dư thừa mà. cô Thu xem, tôi chỉ lên được năm, sáu cân từ ngày sang Mỹ đến giờ! có lẽ tại trong máu có quá nhiều nước mắm thành ra vẫn chưa quen được đồ ăn ở đây ". Gã đùa.

Ngày hôm đó, vấn đề tìm việc làm của Thu bỗng trở thành phụ thuộc. Nếu không muốn nói là chút nữa cả hai đã lãng khuấy, quên lửng. Bao nhiêu kỷ-niệm đã được chia sẻ. Thời gian tám năm cũng đủ để có nhiều sự thay đổi cho hai người có dịp được tìm hiểu. Những lần gặp gỡ kế tiếp, sau giờ tan sở, gã thường đưa nàng đến ăn ở một vài hàng quán Việt Nam mà Thu chưa hề ghé chân. Thế giới ngày trước của nàng chỉ vỏn vẹn từ sở về nhà, cuối tuần thỉnh thoảng từ nhà đến chợ, mua vài món Á Đông lặt vặt. Năm thì mười hoạ, nàng ghé thương-xá mua một vài món cần thiết. Đời sống mà mấy người trong sở gọi là đời sống của kẻ ẩn tu, không màng. Bây giờ kẻ "ẩn tu" đã xuống núi, bắt đầu hội nhập vào mùa xuân đang đua nở, vào đầu mùa hè của cái nắng Cali còn dịu dàng. Gã một lần bảo: "Trông Thu cứ như cán ngố về thành. Thế từ hồi sang đây đã làm những gì? đi những đâu?" Gã hỏi như đùa nghịch, trêu chọc. Dường như gã là khách quen của mấy tiệm. Nhiều người trong quán biết gã, thỉnh thoảng gặp họ vỗ vai, trò chuyện thân mật. Thu hỏi:

-Bộ anh Đông không có ai nấu ăn cho hay sao mà rành mấy tiệm này quá vậy?

Gã cười, giơ mấy ngón tay:

- Này nhé. Vừa độc thân, vừa lười, vừa không biết nấu ăn. Lại chẳng có ma nào chịu mời mình.

Thế chẳng đủ tiêu chuẩn để đi ăn tiệm hở cô nhỏ?

Hai tiếng cô nhỏ gã tình cờ nhắc lại, tự dưng mang một thoáng hạnh phúc nào đó đến với Thu.

Hôm ấy, chưa bao giờ nàng được ăn một bữa cơm ngon đến vậy. Xong bữa chiều, gã lái xe đưa Thu đến con đường chạy dọc theo bờ biển. Có lúc gã ngừng lại, đậu xe ở bên đường và rủ nàng bách bộ xuống bãi. Gã kể, những ngày mới đến, hầu như chiều nào gã cũng đón xe buýt ra ngồi lặng hàng giờ, nhìn ra đại dương nhớ về phía bên kia là quê nhà, đất nước. Nhưng mỗi ngày, nỗi nhớ không còn là một động lực để cho gã hy vọng ngày trở về. Nhớ nhà, yêu nước mà không có hành động cụ thể thì sớm muộn, nỗi nhớ đó sẽ tàn lụn bởi những bận rộn mới, lo âu mới. Ban đầu cũng có những phong trào, đảng phái tổ chức đòi quyền tự do cho Việt Nam. Gã cũng đã tham gia. Nhưng vì quyền lợi, ganh tị và chia rẽ mà các đoàn thể từ từ rã ngũ. Gã cho rằng gã thuộc vào cái giới như gái lỡ thời. "Bây giờ ngày hai buổi cắp ô đi, về và chờ ngày … hưư trí. Hoạ may lúc đó có bà già nào cũng lỡ thời, lỡ vận chịu đèn rủ nhau vào viện… dưỡng lão cho đời đỡ cô tịch!" Thu không ngờ gã cũng thích hoạt động chính-trị. Nàng vẫn tưởng mẫu người như gã thuộc tuýp lãng mạn, nghệ sĩ hơn là một chính-trị gia. Thu hỏi gã vẫn có còn làm thơ, văn như ngày xưa. Gã nhìn nàng có vẻ ngạc nhiên:

- Thu còn nhớ ba cái chuyện lẩm cẩm đó hả. Tôi giờ thì chịu. Đã lâu lắm chẳng nghĩ đến thơ với thẩn. Đầu óc bây giờ không được như ngày xưa. Có lẽ đời sống không còn ý nghĩa nào nữa ngoài cái việc đi làm, để ăn, để ngủ và để chờ ngày … xuống lỗ!

Câu nói đùa nhưng giọng nói có vẻ một chút chán ngán, buông xuôi. Thu hiểu ý gã muốn nói. Vì đôi lúc nàng cũng có cái tâm trạng yếm thế như gã. Đang moi móc trí nhớ để tìm lại trong trướng hợp nào mới đây mà nàng cũng có cái ý tưởng như vậy. Tiếng gã hỏi đưa nàng trở về với thực tại:

- Vậy chứ Thu còn nhớ bài thơ nào không đọc cho tôi nghe?

Nàng hơi ngập ngừng, nhưng thấy nét mặt gã có vẻ như khẩn khoản, thành thực. Nàng nhắc lại hai câu thơ liên-hệ đến cái mầu tím của buổi chiều mà gã đã gieo vào cái trí óc ngây thơ của ngày nàng mới lớn. Làm sao Thu có thể quên được những rung động, nhung nhớ đầu đời của nàng. Những buổi chiều, những mẫu chuyện ngày xưa êm đềm còn ghi mãi trong đầu. Nhiều lúc Thu tưởng như mới vừa xẩy ra ngay hôm qua, tuần trước… "Có những cái bây giờ là hiện tại, mai chỉ là mới qua. Tôi mới có cái mới có, mai vẫn còn là mới có. Mốt nọ xa nhau sẽ là kỷ-niệm …". Thu hình dung lại cái khuôn mặt và cái nhìn của gã khi gã nói câu đó. Nàng nhớ là sau đó nàng đã không dám nhìn thẳng vào đôi mắt trầm ngâm đen ấy. Lắm lúc nàng nghĩ bụng rằng tại sao mình lại phải khổ tâm với một kẻ lữ hành, một chuyến xe xa lạ ngang qua nhà như gã. Gã có vẻ xúc động khi nghe Thu nhắc lại chuyện cũ. Chừng như suy nghĩ điều gì, gã ngồi lặng yên không nói. Một chập sau, gã mới thong thả quay lại nhìn, cầm lấy bàn tay nhỏ bé của Thu. Mân mê những ngón tay đang rung động nhẹ nhàng, rồi bằng một giọng từ tốn, êm ái gã nói:

- Có lẽ tôi đã làm Thu ngày xưa bận tâm lắm phải không?

Thu trả lời, bảo: "Anh ngày xưa sao mà ác độc. Đi biệt không đến một chữ hỏi thăm!".

Vẫn cầm lấy tay nàng, gã phân trần ngày đó, đối với gã, Thu như một ngôi thánh-đường nhỏ bé, là những gì thánh-thiện cao quí mà con người như gã không có quyền lại gần. Nói chi được ngự- trị trong cái vương cung, ngà ngọc ấy. Sau này, trong những năm xa cách, gã thỉnh thoảng vẫn nhớ đến nàng. Hình dáng, nụ cười của nàng như khắc sâu trong tâm khảm gã.

- Vả lại, thời gian đó tôi đang chán nản trốn tránh cuộc đời, trốn tránh sự thật. Lúc nhớ đến Thu thì đất nước đã mất, tôi cũng chẳng biết địa chỉ… Trong lúc gã như đang thôi miên trở về với quá khứ. Thu ngồi lặng nhìn ra biển buồn bã. Thánh đường, cung ngọc của gã đã chìm sâu ngoài ấy, tất cả chỉ còn lại những đổ vỡ, đau đớn trong lòng nàng. Thu băn khoăn không biết rằng mình có can đảm để nói lên sự thật. Lịêu gã có sự chịu đựng như những con dã tràng, kiên nhẫn làm lại những gì sóng gió đã cuốn trôi mất? Rồi hai người sẽ như thế nào? bao nhiêu câu hỏi như nhẩy múa trong đầu nàng. Câu trả lời nằm mãi tận cuối trời, cuối đời người. Trước mắt nàng bây giờ, Thu thấy chỉ còn là mầu tim tím của một buổi chiều sắp tàn.

* thơ Cung Tích Biền
** Trịnh Công Sơn

SVT 1988


Về đầu trang

Bữa Cơm Với Một Gia Đình VHDL

Trần Văn Sanh


TẠP GHI TỪ SAN JOSE


Mấy hôm cơm nước với người nhà hoài đâm nhẵn mặt, nên mừng húm được nghe anh Sơn chị Cung rủ đến ăn một bữa cơm gia đình, cũng chẳng gì gọi là "fancy" cầu kỳ như "nem Công, chả Phượng", nhưng được uống đến 2 chai Ken, lai rai với anh Sơn vài cái chân gà, cánh gà luộc; cơm có món cá Hồi kho nhừ, cùng với món mắm và rau thơm. Nhưng kỳ gặp mặt lần này có lẽ thân mật, gần gũi và vui hơn lần trước, tuy vắng mặt bóng dáng thiền-sư mà chị Cung bảo rằng "chàng" bây giờ đang ngao du sơn thủy ở Việt-Nam. Thảo nào, hôm mới xuống gọi nhưng không thấy trả lời, tưởng chàng lên non để khẩy đàn cho sư-bà Chu Chỉ Nhược nghe, cóc cần đến lão sư-ca cà tửng này. Vừa ăn cơm vừa được hàn huyên nói chuyện với anh Sơn, mà tôi nghĩ đó là điều thú vị nhất, khoái khẩu hơn cả những món nhậu, vì tôi thích được trao đổi, đối thoại, đào sâu về bất cứ đề tài nào, nhưng chung quy cũng chỉ loanh quanh ba cái chuyện nhân sinh quan về tôn giáo, chính-trị. Một trong những đề tài được bàn luận sôi nổi nhất là chuyện tại sao giới đồng tính bây giờ đông tợn! và không những thế, họ lại còn đòi hỏi đến mức độ vô lý, phi lý. Theo sự nghiên cứu và theo dõi của tôi qua bao nhiêu năm nay, sự việc giới đồng tính ngày càng đông có lẽ liên quan đến điều gọi là nạn "nhân mãn", mà theo một thiểu số người thuộc loại "đỉnh cao trí tuệ" thứ thiệt 100%, cách đây hơn 40 năm - đã cho rằng thế giới với gần 4 tỷ người (hiện nay con số khá chính xác có lẽ vượt qua hơn 7 tỷ) là quá đông, chỉ cần luôn giữ khoảng 500 ngàn người là đủ .

Trước tiên, thế chiến ( I & II) cũng như những cuộc chiến kéo dài sau đó: từ VN, Đại Hàn, Nam Dương, Phi Châu, đến Trung Đông... mà con số tử vong cũng chẳng thấm vào đâu so với con số sinh sôi nẩy nở, và sau đó - nhờ khoa-học & y khoa tân tiến giúp con người được sống lâu hơn. Bởi thế nạn "nhân mãn" ngày càng tăng, cộng với sự thiếu hiểu biết mà con người đã phí phạm tài nguyên thiên nhiên một cách trầm trọng.

Có lẽ chính vì điểm này, cho nên người ta đã dùng đến một chiến lược "muôn hình vạn trạng" và nếu dịch theo đúng định nghĩa, ta có thể dùng đến 2 chữ "Asymmetric warfare"
https://en.wikipedia.org/wiki/Asymmetric_warfare

mà theo đó, đây là một kiểu chiến tranh toàn diện, khi tất cả mọi phương diện, phương tiện đều được sử dụng (không nhất thiết phải dùng đến quân đội) một cách trực tiếp hay gián tiếp để đạt được mục đích tối hậu; và vũ khí cũng không cần phải là bom đạn; mà là chất độc hóa học, bệnh dịch, ngay cả đến thời tiết, thức ăn, tuyên truyền v.v... tất cả cũng có thể là vũ khí dùng trong cuộc chiến "chống nạn nhân mãn".

Trong khoảng thời gian hậu Thế Chiến II, khởi đầu - căn bệnh Ung Thư đã hiếm khi xẩy ra, nhưng cũng từ dạo đó, số người vướng phải căn bệnh "nan y" này bỗng dưng tăng nhanh dần đều, và con số tử vong vì nó cũng ngày càng gia tăng. Tương tự như thế, khi nhiều chất hóa học, thực phẩm mới được khám phá và biến chế, số người bệnh tật và đồng tính tăng nhanh dần đều, đến nỗi bây giờ ra đường chưa chắc bạn có thể cương quyết và bảo đảm rằng đây là đàn ông hoặc đàn bà chính hiệu 100% con nai vàng.

Khi người ta muốn tiêu diệt một giống bọ, hay giống sinh vật nào phá hoại mùa màng, lây bệnh tật cho con người thì một trong những biện pháp hiệu quả nhất là (a) làm cho giống cái không có trứng để đẻ; hoặc (b) giống đực không có tinh trùng (hoặc không đủ để cấy vào trứng), dần dà, giống sinh vật này cũng sẽ bị tuyệt chủng, tuyệt giống, (c) đổi giống cả hai, như diệt bỏ chất Dương, tăng chất ÂM chogiống đực; diệt chất Âm và tăng chất Dương cho giống cái (trở thành lưỡng tính).

Nói đến đây, có lẽ bạn cũng mơ hồ ngầm hiểu rằng, muốn biến đổi cơ thể của con người, chỉ có 3 cách chính: (a) giả dạng qua hình thức chích ngừa - vaccin, (b) đổi giống các loại đồ ăn, trái cây, thức uống, (c) phun chất hóa học trong không khí để con người hít thở vào.

Xin nói rõ trước là - KHÔNG phải tất cả những việc chích ngừa đều tai hại cho con người, nhưng sau khi đã được chứng minh 95% loại chích ngừa trước đây có hiệu quả và giúp ích bảo vệ sức khỏe lẫn tánh mạng của mình, thì khi được "giáo dục", quảng bá loại thuốc mới nhất, tốt nhất sẽ càng dễ làm cho thiên hạ tin tưởng và dễ chấp nhận hơn.

Dĩ nhiên, chả ai dại gì cố ý cho liều lượng quá độ trong việc "chích ngừa" khiến gây ra con số lớn tử vong hoặc vướng căn bệnh nan y xẩy ngay lập tức, nhưng gần đây cũng có tin tức về nhiều vụ nạn nhân bị chết hay tật nguyền sau khi họ đã được chích ngừa miễn phí nhiều nhất ở các nước nhược tiểu. Giống như nếu mình uống vitamin mỗi ngày, hy vọng sức khỏe nếu không tăng lên thì ít ra cũng không bị suy giảm.

Do đó, khi người ta cho những chất hóa học vào thực phẩm, nước uống dùng hàng ngày, với một số lượng tuy rất ít nhưng nếu đưa những thứ đó vào cơ thể con người thì lâu ngày chầy tháng, thể nào cũng thay đổi không nhiều thì ít.

Gần đây, mặc dù báo chí và truyền thông lớn tầm cỡ thế giới không hề đề cập hay chỉ nói sơ, qua loa, đăng với một tít rất nhỏ, trà trộn trong những bản tin không đầu không đít, nhưng qua những phương tiện truyền thông ngoại ngạch (Alternative News Media) thì vô số những tin tức nói về những thức ăn đồ uống đã làm thay đổi gen (gene) của con người, khiến nhiều người bị bệnh tật - nhất là những bệnh nan y như thứ bệnh Tự Kỷ (austims), Ung thư, tâm thần, bại liệt, v,v... Một làng Ở Châu Phi, và bên Ấn Độ đã lùng giết những nhân viên Y Tế thiện nguyện, trợ cấp bởi nhà tỷ phú Bill Gates, vì hơn cả trăm trẻ con của họ bỗng dưng ngã ra chết hoặc trở thành tật nguyền, bại liệt sau khi được đoàn người Y Tế Thế Giới này đến để chích ngừa cho trẻ con của họ.

Bill Gates: Dùng chích ngừa để giảm bớt nạn nhân mãn.
http://nsnbc.me/2013/05/08/bill-gates-polio-vaccine-program-caused-47500-cases-of-paralysis-death/
http://indiaopines.com/bill-melinda-gates-foundation-guilty-india-vaccine-fraud-garvi/
http://www.engdahl.oilgeopolitics.net/Swine_Flu/Gates_Vaccines/gates_vaccines.html

Dân Trung Quốc đặt câu hỏi về chích ngừa liên quan đến chuyện diệt chủng:
http://www.naturalnews.com/053467_vaccine_scandal_China_genocide.html

Úc Đại Lợi Xử Lý những gia đình nghèo phản đối việc Chích Ngừa:

Australia targets low-income families for vaccine damage by punishing vaccine objectors with stiff financial losses:
http://www.thecommonsenseshow.com/2016/03/25/19532/

Ngay chính con trai của tài tử Robert_De_Niro bị chứng bịnh Tự Kỷ (autism) sau khi được chích ngừa, nên đã làm một phim tài liệu, muốn vạch trần sự thật về sự kiện này, nhưng cuối cùng cũng bị ra lệnh phải rút lui, ngậm miệng:
http://www.naturalnews.com/053447_Robert_De_Niro_Tribeca_Film_Festival_VAXXED_documentary.html
https://www.youtube.com/watch?v=tvcdh7KlgPI&feature=youtu.be
ahttp://www.vaxxedthemovie.com/
http://www.naturalnews.com/053289_GcMAF_holistic_doctors_mysterious_deaths.html
http://www.naturalnews.com/053439_CDC_documents_MMR_vaccines_autism.html

Và không cần phải viện dẫn đâu xa xôi, cộng đồng người Việt ở vùng OC mới đây cũng đã phát hiện ra rằng nhiều người quen và gia đình của họ, đều có trẻ con - đa số là con trai - đang bị chứng bệnh này mà chẳng hiểu nguồn gốc, nguyên do từ đâu đến. Trong gia đình bên vợ và bạn bè của tôi cũng đã có 2 người con trai bị chứng bệnh này. Thế là thế nào ?

Cách đây cũng không lâu, khoảng chừng mùa hè năm 1995, một bác sĩ Việt kiều từ bên Đức sang Mỹ thăm gia đình, ở chơi hết mùa hè; luôn tiện nhờ tôi đỡ đầu cho việc anh xin được rửa tội vào đạo Công Giáo. Tôi có hỏi anh một câu, rằng anh nghĩ sao về chuyện cho phép hai người đồng tính lấy nhau. "Tại sao không?". Anh ấy trả lời, rồi còn tiếp tục giải thích rằng về phương diện vật lý và di truyền, nếu dồn ép, đè nén họ phải dấu kín giống tính của họ, cứ để họ tiếp tục lấy vợ, lấy chồng - thì những thế hệ sau tiếp tục sinh ra những giống tính không bình thường đó. Cứ mặc kệ để họ ăn ở chung với nhau, sau khi họ mất đi thì coi như những hạt mầm đó sẽ không còn có cơ hội để lưu lại, tồn tại. Rồi anh hỏi ngược lại tôi một câu, vì lúc đó tôi được nhà thờ giảng dậy giáo lý và chút thần học về Thịên Chúa giáo, là "đồng tính luyến ái có phải là một cái tội?".

Tôi trả lời rằng thí dụ khi một người mới sinh ra đời đã mang cái giống đồng tính thì điều này không phải là lỗi của họ, vì đó đã được gọi là một thứ "tật bẩm sinh", mà cả cha mẹ lẫn con cái chắc chắc đều không muốn. Nhưng cũng đừng vì thế mà đòi hỏi, yêu sách quá đáng, hay cứ đổ thừa đó là tại ông trời, hay thượng đế.

Tôi không muốn đề cập sâu xa về phía Phật Giáo qua chuyện này, vì đó là một đề tài cũng khá dài dòng, nhiều khúc mắc không kém, nhưng nếu nghĩ đến tột cùng, tận cùng thì bất kể là tôn giáo nào, những người có giòng máu, bản chất đồng tính này cũng phải nên thừa nhận một chân lý tối hậu - không thể nào sai lầm - rằng, nhân loại vẫn được tồn tại cho đến hôm nay và mãi mãi trong tương lai là nhờ hai giống: Đực & Cái; Nam và Nữ; Đàn Ông, Đàn Bà. Nếu thế giới chỉ toàn là giống đồng tính, hay ngày càng nhiều loại người này thì sớm muộn, giống người sẽ bị tận diệt.

Chính vì điểm này, người đồng tính cần nên hiểu rằng - trên phương diện tâm linh - họ cũng giống như một món đồ đã được đóng dấu - tựa như món hàng để riêng cho việc bán "giảm giá". Một loại người có "tì vết", không toàn hảo (theo phương diện sinh lý) như bất cứ người bình thường nào khác.

Rất tiếc rằng ngày nay, câu "được đằng chân, lân lên đằng đầu", hay chẳng biết thế nào là đủ - đã áp dụng cho giới đồng tính bây giờ - vì sau hơn bao nhiêu ngàn năm sống ẩn náu trong bóng tối, không dám tiết lộ cho ai biết - sau khi được luật pháp nhìn nhận và cho phép "bình đẳng", họ vẫn chưa chịu ngưng ở đó, thay vì xưa đã xấu hổ phải dấu kín, nay họ còn kiêu hãnh (proud), vinh dự mình là người đồng tính ! đã vậy mà lại còn đòi hỏi người khác phải tuân theo ý muốn của mình, như vụ kiện một cặp đồng tính lấy nhau, muốn một chủ tiệm làm cái bánh cưới cho họ nhưng bị từ chối vì llý do tín ngưỡng, cặp đồng tính này kiện ra tòa và thắng cuộc, nếu chủ tiệm bánh không chịu làm thì sẽ bị phạt hơn chục ngàn đô la mỗi ngày!

Quả là một thế giới đảo điên không hơn, không kém ! Đấy là chưa nói về tin đồn rằng nhóm người "đỉnh cao trí tuệ" đã có kế hoạch - xây sẵn những hầm trú ẩn sâu dưới rặng núi cao, họ có thể sống ở dưới lòng đất cả năm trời, chỉ lên mặt đất sau khi một cuộc chiến tranh nguyên tử đã xóa sổ 3/4 nhân loại - giống như câu sấm truyền "10 phần chết 7 còn 3, đến khi vua ra thì chết 2 còn 1" thường truyền tụng ở VN cách đây hơn cả trăm năm. Thực hay hư thì vẫn còn "hạ hồi phân giải", nhưng trong mấy năm gần đây, chẳng thiếu gì những tin tức chiến sự, tranh dành, khủng bố khắp nơi, nếu không có chuyện gì to lớn xẩy ra thì đó mới là phép lạ !

Đang phân vân không biết Lăng Trần thiền sư giờ này đang ở động hoa vàng hoa đó nào bên VN . Sáng hôm nay thấy email của hắn đã xí xọn bảo rằng:

Bác ở Tương Giang đầu
Em ở Tương Giang vĩ
Thế thì đoảng vô ngần
Lấy ai làm trò khỉ.

nên tôi phải tung chưởng chơi lại liền:

Thiền sư đi cóc nói
thảo nào gọi khan lời
tính rủ ra quán cóc
ngồi ngắm thiên hạ chơi...

Vắng hắn, sáng nay tự pha ly cà phê ngồi uống một mình, gõ máy dăm ba chữ, giờ thì thay áo quần đến thăm bố mẹ. Nhìn ông cụ mà lòng cảm thấy buồn dào dạt cho thân phận người, lại càng cảm thông hơn nữa cho mấy chị em họ Chử. Âu đó cũng là những bài học cho con người, giống như nếu ở Việt-Nam được hoàn toàn tự do, thanh bình, vui sướng thì chả mấy ai dại liều mình vượt biên đi tìm thiên đàng hạ giới.

Nghĩa là phải thấm sự khổ đau rồi con người mới hiểu thế nào là "thiên đàng", có trải qua rôì mới chẳng muốn đầu thai lại làm người làm quái gì. Điều này chính Chúa Jesus cũng đã nói "cái gì của Caesar hãy trả lại cho Caesar, cái gì của thượng đế hãy trả lại cho thượng đế" (Matthew 22:21) , hiểu theo cái ý nghĩa là thân xác thì trả lại cho cát bụi, linh hồn sẽ trở về với thượng đế (đừng nên trở lại làm người, giống như Phật giáo - đừng luyến tiếc những gì ở cõi ta bà này).

Vấn "nạn" chính còn lại là mình có nên trở thành tín đồ đạo Hồi Giáo hay chăng? vì nghe nói là sau khi chết sẽ được 72 trinh nữ chờ đợi mình ở thiên đàng, đàn ông nào nghe mà chả ham ! Vấn nạn kế tiếp là thằng nào muốn sớm lên thiên đàng trước? bởi vì lên trễ thì có còn trinh nữ nào chừa lại cho mình ? Chậc ! chậc! coi bộ cũng khó suy nghĩ chứ không giỡn !


Về đầu trang

Chuyến đi VN 2014 - Đà Lạt, Tái Hồi Kim-Trọng

Trần Văn Sanh

Không ngờ chuyến trở lại Đà Lạt - lần thứ II cùng trong một chuyến hồi hương - lại gặp nhiều chuyện vui và người cũ. Trong lúc Thúy-Hoa hội ngộ cùng với một người bạn học đã hơn 45 năm không gặp, còn tôi được gặp lại hai "nhóc tì"- cô bé hàng xóm và cô bạn học cùng lớp.

Không hiểu sao, lúc nhìn hình trên mạng tôi lại nhận không ra cô "nhóc tì" má hay ửng đỏ và nụ cười răng khểnh, nhưng lúc gặp lại nhau ở quán cà phê Rose thì tôi nhận ra Dung ngay, chẳng có "oong đơ" hay khác biệt gì cả - ngoại trừ cái nét già đi thì đương nhiên chả có thằng tây bà đầm nào mà tránh khỏi. Ngoài Dung ra thì nhờ xem hình ảnh trên diễn đàn, tôi cũng nhận ra ngay PMC - hình sao thì ngoài cũng y chang như vậy - có điều chàng nói chuyện rất điềm đạm và chững chạc (chuyện! cựu giám đốc ngân hàng mà lị!).

Trước giờ nghe Sơn đen tả hình, tả cảnh "người đẹp Sông Pha" mà lắm chàng trai VH một thời đã nghệch mặt, thờ thẫn; hôm gặp nhau ở quán được bạn Cường giới thiệu từng người, nay mới biết mình chính thức đuợc gặp mặt người có cái "huyền thoại" của thời trung-học. Không biết khi xưa XD đẹp cỡ nào, nhưng nghĩ lại mình hồi đó quả là may mắn vì nhờ tánh lơ tơ mơ, chứ không thì cũng dám không chừng cũng bị Sơn đen ghi tên vào sổ để kể lại bú xua chẳng "la mua" tí nào:) Tuy nói chuyện với "nhóc tì" Dung không được bao lâu, nhưng cũng đủ biết hoàn cảnh cũng chẳng khác chi như bao nhiêu người đã ở lại, được cái là Dung và gia đình cũng vẫn còn tồn tại sau bao biến cố của thời đại, nhất là trong trong cái thời gọi là bao cấp. Tôi vẫn tự thắc mắc rằng tại sao ngày xưa học chung lớp mà tôi mãi cứ tưởng là "nhóc tì" học dưới mình một lớp?

Có lẽ tại trong đầu óc vẫn còn mang cái ấn tượng một cô bé đứng thấp hơn mình cả cái đầu, lúc đó chắc học cỡ lớp 10 hay 11 là cùng. Ai dè nay mới biết mình thưỏ đó quả là "đại" lơ tơ mơ.

Thêm vào đó, khi đọc cái lưu bút của Dung, tôi gãi đầu gãi tai, thắc mắc cả mấy hôm, không biết mình đã "viết" những giòng chữ đó từ hồi nào? vì xưa nay chả hề viết vào một cuốn lưu bút nào, và cho ai. Chừng nghe Dung bảo đó là tuồng chữ của một người ranh mãnh, nhái chữ viết của tôi để chọc nhóc tì Dung. Thì ra vậy! Gớm, cái người nào ma mãnh đó, tôi gặp thì sẽ kí đầu cho một cái, khóc cũng cóc thèm dỗ:)

Cường kể chuyện là thầy An thỉnh thoảng đưa bài cho Cường kiểm duyệt và sửa lỗi chính tả trước khi tải lên mạng, bây giờ thì thầy gửi cả đống bài, hầu như giao phó hết cho chàng cựu "Giám Đốc Đếm Bạc" - cũng mất nhiều thì giờ hưu trí của chàng. Bởi thế, cóc dám đề nghị là chàng thử sửa bài cho nhà văn Duyên-Em (tự Sơn đen), vì chỉ sợ Cường sẽ chu mỏ bảo "U chầu u chầu! xúi chi rứa chuyện kinh thiên động địa, ác ôn này hỉ?" Dù sao đi chăng nữa, lúc Cường tình nguyện lái xe hơi đưa hai vợ chồng tôi trở về khách sạn, ngồi trong xe tôi cũng ngứa miệng - thọt lét người mang danh tiếng là "gạch-nối" cho cả nhóm VH ở Đà Lạt - chỉ chỗ trống ở trước mặt bảo "Sao taxi mà lại không có cái đồng hồ kilômét?bộ tính chém du khách Vịt kiều lơ tơ mơ như tớ phỏng?". Cũng may, chàng Cường chỉ cười toe.

Sáng sớm hôm sau, sau khi đi dạo chụp hình quanh bờ hồ, tôi chạnh nhớ câu "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo…", nên đã ngoắc tay gọi một người xe ôm, đưa tôi đến con đường Nguyễn Du, nơi nhà của thầy CBA một thời mình đã từng viếng thăm, vậy đó mà đã hơn 40 năm trôi qua.

(nhìn từ phía hướng đường Trần Quý Cáp) Con đường ngày xưa trong trí tưởng chỉ là một con đường nhỏ với hàng thông cao ngất, rậm rạp hai bên đường, nay đã được mở rộng thêm, chưa kể là có một nơi nghỉ dưỡng (resort) rất sang trọng mới mọc lên phía bên trái, cũng trên con đường Nguyễn Du từ phía bờ hồ đi vào. Lúc đứng trước cổng nhà của thầy CBA, thấy cửa khóa im lìm, căn nhà bên ngoài trông vẫn còn toàn vẹn, không đến nỗi hoang tàn, đổ nát như những căn biệt thự bỏ hoang, vô chủ khác.

Theo giá thị trường bất động sản ở Đà Lạt bây giờ thì mảnh đất này thôi cũng đủ trị giá cả chục tỷ bạc, tôi chỉ làm lạ là tại sao căn biệt thự của thầy vẫn còn trơ trơ cùng tuế nguyệt hơn 4 thập niên qua, và chợt nhớ vài câu thơ mình đã viết lên từ thưỏ trước, với cùng một tâm trạng:

bao năm lưu lạc xa đất nước chàng lên non tìm lại thầy xưa phong cảnh vẫn còn như thưở trước thầy đã yên mộ một chiều mưa.

Đà Lạt bây giờ mùa này đã thôi hết những cơn mưa dầm dề, hết còn những đêm dài se lạnh, nhưng trong buổi tối ngày đầu trở lại, một cơn bão từ miền Trung đã tạt ngang khiến đêm nghe gió rít và lạnh tê tái; hôm sau thì thời tiết hoàn toàn trở lại bình thường cho tôi thấy và nhớ đến cái nắng ấm áp của Đà Lạt giống như thuở mình mới lên cái thành phố núi đầy mộng mơ này cách đây đã hơn 40 năm. Hơn bốn mươi năm trôi qua cái vèo huống chi là chỉ hơn hai tháng tôi đã về đây. Thoáng chốc đã chỉ còn là đôi ba ngày trước khi tôi phải trở về với cái quê hương thứ hai của mình. Hôm nay là ngày để nghỉ ngơi, xem email và viết lách chút đỉnh; ngày mai phải lo giặt giũ áo quần, mua sắm thêm chút ít cho người nhà, người thân, rồi còn phải lo gói hàng, đóng thùng, làm dăm ba chuyện lỉnh kỉnh, lặt vặt, v.v...Gửi lại đây ít hàng để cám ơn bạn bè đã mở lòng đón tiếp, hẹn sẽ gặp lại các bạn dài dài ở VN, nhất là ở Đà Lạt, để có dịp cùng nhau kể lại những mẫu chuyện của tuổi học trò, một thời vàng son của bất cứ ai cho dù nó mới qua, đã qua hay sớm chóng qua; vì trong bạn - tôi đã tìm lại những mảnh đời vốn tưởng mình đã lơ là, đánh mất; và cũng như "nhóc tì" Dung - cho dù bây giờ đã là bà nội, bà ngoại của dăm ba đứa, trong tôi Dung cũng vẫn là cô bé có cái răng khểnh, má luôn luôn đỏ ửng - những kỷ niệm và hình ảnh xưa vẫn sống mãi mãi trong lòng của chúng ta, chẳng bao giờ thay đổi, chỉ dần nhạt nhòa trong trí tưởng khi đầu óc sẽ không còn được sáng suốt, tàn lụi dần theo thời gian. Bởi thế, còn nhớ được những gì của nhau, xin bạn hãy chia sẻ để chúng ta còn có hội để được cười, được khóc nếu có thể - trong nỗi vui sướng - khi ta được tìm lại chính mình qua bạn hữu, qua tình thân còn lại từ thưỏ xa xưa.

Thân

SVT (22/12/2014)


Về đầu trang

CHUYỆN VUI NGÀY TẾT

Trần Văn Sanh

Người ta hay nói "ra ngõ gặp gái là xui xẻo", đúng hay sai thì bạn hãy khoan nóng máu, "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" cái đã. Tưởng tượng tết nhất, ngày mồng một mà ra đường gặp toàn đực rựa và khứa lão thì không còn gì chán bằng, thà quay trở về nhà trùm mền ngủ sướng hơn. Tôi mở màn như thế chẳng qua là vì năm tôi trên mười sáu tuổi, con bé Dung hàng xóm, cứ hễ thấy tôi ló đầu ra khỏi nhà là ả này bèn sán vào kiếm chuyện để hỏi. Bình thường mọi ngày, con bé này mặc áo dài mầu trắng nữ sinh đồng phục của trường Trưng-Vương, chiều tối thì chả thấy mặt mũi đâu - tôi đoán cô nàng sau buổi ở trường, hết lu bu phụ mẹ lo chuyện nấu nướng ở dưới bếp, sau đó thì chắc lại bị cấm cung trong phòng học. Mồng một Tết năm đó, vừa bước ra khỏi cửa để chuẩn bị đi thăm chúc tết gia đình ông chú, tôi đụng đầu ngay với con bé hàng xóm này. Xui xẻo hay không tôi chả biết, mà cũng cóc nhớ. Chỉ biết cô nàng sáng hôm đó đã diện lên cái áo dài lụa mầu hồng mới toanh, tóc không còn thắt bím như mọi ngày mà để dài buông xõa ngang vai. Trời ơi, đã vậy còn bầy đặt đánh lên chút môi son, phấn hồng - khiến tôi thấy Dung lúc ấy trông ngộ hết sức, đẹp không thể tưởng, nên đứng ngẩn tò te cho đến khi thằng em réo gọi đi ngay kẻo trễ. Đã thế cô nàng lại còn nhoẻn miệng, ném cho tôi một nụ cuời mà từ-ngữ chuyên dùng bây giờ thật là cực kỳ, vô cùng duyên dáng.

Bắt đầu từ giây phút đó, tôi không còn nhút nhát né tránh cái con bé hàng xóm nữa, mà ngược lại tôi thỉnh thoảng rình xem Dung đi học về lúc nào, ra ngõ đứng chờ rồi có cớ cùng đi bộ về nhà,nhưng sau đó được dăm ba tuần lễ - nhìn cái áo dài nữ sinh và mái tóc cột bím hai bên hàng ngày, tôi lại thấy nhàm chán, bèn trở lại thói cũ - trốn biệt.

Đó là cái kinh nghiệm của tôi về cái lời nguyền gọi là "ra ngõ gặp gái", mà cũng may là người ta cho cái phạm vi xa xa một chút, tuốt ở ngoài ngõ - chứ bảo rằng "sáng dậy gặp gái...." thì mấy ông chồng đêm 30 bắt buộc phải ngủ phòng riêng, chứ mở mắt ra thấy ngay cái bản mặt của vợ mình nằm bên cạnh thì chẳng lẽ...xui cả năm. Mà xui cả năm đã nhằm nhò gì khi mình lỡ lấy phải một người để cho xui cả đời thì sao! Nhưng nói đi thì cũng nên phải nói lại cho bình đẳng, cho công bằng. Không ai mua một món đồ quý giá với một số tiền rẻ như bèo - mà chuyện mua bán ngoài đời thì "hên xui" là chuyện bình thường - chứ vớ phải một người vợ xấu tính, xấu nết thì đó là cái "lộc", cái phúc mà khi mình chỉ có bấy nhiêu thì phải chịu thôi. Chứ tiền ít mà muốn hít đồ thơm thì thôi đi, đừng có mà mơ.

Hồi còn nhỏ mỗi lần tết đến là lòng cảm thấy "sướng rên mé đìu hiu" - mà cho đến bây giờ, tôi cũng cóc biết cái câu "sướng rên mé đìu hiu" nghĩa đích thực nó là gì, chỉ thấy nghe vui tai, thấy nggồ ngộ nên cứ "vô tư" dùng. Chả chết thằng tây nào, mà có chết vài thằng tây thực dân thì đã sao? Phải thú nhận rằng con nít thích ba ngày Tết chung quy cũng chỉ vì được tiền lì xì, được mặc quần áo đẹp mới và được ăn uống thoải mái - quanh đi quẩn lại cũng chỉ có thế thôi.

Tết năm tôi vừa hơn 17 tuổi thì cái niềm vui chờ đợi được tiền lì xì của bố mẹ đã chẳng còn gì gọi là hào hứng, hấp dẫn; bởi vì một phần thì đó là điều đương nhiên, phần thì phải lẽo đẽo đi cùng với cả nhà thăm họ hàng, chú bác - cho dù mình vẫn còn được tiền lì xì của mấy cô, mấy chú - nhưng tôi nghĩ mình cũng đã "người nhớn" (cả nhà vẫn thường gọi là "ông cụ non" cơ mà), vả lại chả còn gì gọi là hứng với thú. Nói như thế không phải là tôi không cần tiền lì xì, chỉ vì nó chả thấm vào đâu so với tiền túi tôi thu thập được nhờ chạy áp phe mua bán hàng hóa từ chợ PX của quân đội Mỹ, nhưng tôi có cái tật dễ mau chán khi phải lập đi, lập lại những gì mình đã từng trải qua, đã biết mà không học hỏi thêm được một điều gì mới lạ. Tôi còn nhớ cái Tết năm đó thay vì tháp tùng bố mẹ đi chúc tết họ hàng, tôi viện cớ bị chóng mặt và có triệu chứng bị cảm nên trùm mền nằm ở nhà. Đợi cả nhà đi khỏi, tôi cắt vài khoănh bánh tét ra chiên, bầy ra dĩa củ kiệu và vài con tôm khô. Thấy một chai rượu bố tôi đã khui, nếm thử thấy nó có vị ngọt và nồng giống như loại rượu mận hay dùng trong thánh lễ trong nhà thờ; tôi ngồi ở phòng khách vừa ăn bánh tét chiên với tôm khô củ kiệu, vừa nhấm nháp chút rượu sao mà thật là quá đã. Đó là bữa nhậu đầu tiên trong đời của tôi (và được trải qua cảnh "cho chó ăn chè" trong hai ngày liên tiếp vì một mình mà nốc hết hơn nửa chai rượu) và có lẽ cũng là cái cột mốc đánh dấu cho sự kết thúc cái gọi là "tuổi học trò", mặc dù sau đó tôi vẫn còn phải cắp sách đến trường cả chục năm sau, nhưng không hiểu sao lúc đó tôi cứ ví tâm hồn mình tựa như một "Phù Đổng Thiên Vương" là sau cái tết năm đó, tôi bỗng dưng cảm thấy lòng mình như vươn lớn hẳn lên, già dặn hơn so với những người bạn cùng lứa tuổi. Chẳng qua cũng chỉ vì mới trước đó, một đứa em gái của thằng bạn, đã tự tử xuýt chết vì thấy tôi có vẻ thờ ơ với với cô nàng, mà cũng may là thằng bạn hiểu tôi chỉ coi nàng như cô em gái không hơn, không kém. Gọi là bạn, nhưng anh chàng lớn hơn tôi hai tuổi, SV năm thứ hai ở ĐH Khoa-Học và bắt đầu tập tành ăn chơi, gặp tôi trong một buổi dạ vũ thấy coi bộ hợp rơ nên làm quen rồi trở thành bạn. Cô em gái của Tiến năm đó mới chừng hơn 16, cái tuổi đầy thơ mộng và lãng mạn, không hiểu lại chịu đèn tôi ở cái điểm gì. Người ngợm, tóc để dài ăn mặc theo kiểu hippy, mặt thì lầm lì ít nói - chỉ ăn chơi, nhẩy nhót chứ chả chịu lo chuyện học hành gì cả. Thế mới quái dị.

Cái Tết năm 18 tuổi, ngày mùng Hai tôi lái xe đến nhà một thằng bạn để rủ nó đi chơi, xem ci né. Trước Tết hơn cả tháng, nó phải năn nỉ ỷ ôi mãi bà già mới chịu cho tiền sắm một bộ vest tông để diện mấy ngày đầu năm. Lúc tôi đến thì cu cậu còn nằm lỳ ở trên lầu, cóc chịu xuống.

Biết chuyện chẳng lành, tôi xin phép ông bà già để lên lầu gặp thằng bạn. Đình thấy tôi nên mừng rơn, mở nhạc cho tôi nghe xong thì nó phóng xuống nhà lấy nước uống. Chập sau, tôi nghe tiếng hai mẹ con cãi vã ở dưới:

- Ai khùng? má khùng mới đúng! Cho tiền sắm áo quần rồi không cho người ta diện lên sợ mau cũ, mau rách....

- Đầu năm mà mày nói ai khùng hả thằng khốn?

- Ừa thì má nói tui khùng, nhưng tui thấy hổng phải tui.

Rồi nó xuất hiện với bộ mặt hầm hầm, vặn máy để nhạc lớn hơn, át đi cái tiếng bà già nó đang càu nhàu, chửi rủa bên dưới. Đình xua tay như muốn đính chính cho cái chuyện hai mẹ con cãi vả là hôm qua nó diện bộ đồ vest mới sắm đi thăm và chúc Tết bà con, vừa về đến nhà Đình bị bà già bắt phải cởi ra - sợ nó mặc nhiều, nhất là đi chơi với chúng bạn sẽ mau dơ, rồi phải giặt nhiều mau tã. Hai mẹ con chỉ có thế mà càu nhàu với nhau cho đến hôm nay. Chập sau lúc bản nhạc "Giết Người trong Mộng" với giọng ca của Thái Thanh cất lên thì "mặt trận phía đông" đã không còn yên tĩnh, vì thằng Đình mở nhạc thật lớn khi người ca sĩ lên cao giọng ở đoạn "Giết người đi, giết người đi, giết người trong mộng đã bội thề. Giết người đi, giết người quên tình nghĩa phu thê...giết người như loài bướm đong đưa....Làm sao giết được người trong mộng..." Ở dưới nhà bà già nó gào to:

- Ối giời ơi, ngày tết ngày nhất mà nó còn đòi giết người với chém người đây này!

mày có tắt ngay đi không hả thằng khốn!

Tôi vội chạy đến tắt máy và lôi nó lẻn ra phía sau nhà chuồn đi êm thấm. Nguyên ngày mùng hai và mùng ba, thằng Đình tá túc ở nhà tôi, ban ngày hai đứa đi mua mấy ổ bánh mì rồi chui vào những rạp hát rẻ tiền như rạp Đại Đồng trên đường Lê Văn Duyệt ở khu Bàn Cờ, là loại rạp bình dân, chiếu toàn phim cũ mhưng muốn mua vé vào bất cứ lúc nào, ngồi xem bao lâu cũng được.

Hai thằng vào xem để giết thì giờ và để ngủ chỗ có quạt mát. Chơi sang và xôm hơn thì chui vào rạp Văn-Hoa ở Tân Định, gần Cầu Bông, rạp này có máy lạnh với giàn âm thanh không thua gì rạp Rex, Eden hay rạp Đại Nam ở đường Trần Hưng Đạo. Tối đến, tôi với Đình ra ngồi la cà quán cà phê trên đường Tự Do hay Lê Lợi, nhìn ông đi qua, bà đi lại - nhất là ngắm những tà áo dài tha thướt đẹp tuy rằng họ đã có đôi có cặp. Sau hai ngày đi xem cine chán chê, tôi thả thằng Đình trả nó về nhà rồi dông xe chạy mất. Dại gì ở lại để bà già nó dũa cho hói đầu, xui cả năm sao?

Mấy chục năm sau, ngoại trừ cái tết năm 75 - tôi chẳng có chút gì gọi là kỷ niệm vui buồn về những ngày đầu năm để mà đáng nhớ. Theo tử-vi thì năm nay là năm tuổi của những ai mang tuổi Mùi, nhưng lại đem may mắn đến cho những ai tuổi Hợi và tuổi Mẹo/Mão. Nhà nào càng đông người thì ít nhiều cũng không tránh khỏi cái gọi là "Tam Hợp", "Tứ Hành Xung". Có lẽ trời thương cho nên gia đình tôi tuy cả thẩy có sáu người, nhưng toàn là "Tam Hợp" - chẳng hạn như Tỵ, Dậu Sửu - hay Hợi, Mão, Mùi - mà chẳng ai kỵ rơ lẫn nhau. Chả bù trong gia đình anh chị em của tôi, bố mẹ có tám người con - vị chi là 10 tổng cộng, và chỉ có đứa em trai tuổi Thân và cô em gái tuổi Dần. Tôi và hai đứa này thường hay khắc khẩu, đố kỵ mà chỉ khi nào tụi nó va đầu vào tường rồi mới chịu tin những gì tôi nói là đúng. Tết Ất Mùi này chưa chi đã đem đến cái tin vui mà tôi mới nhận được một lá thư ngày hôm qua, là cơ quan Xã Hội vừa báo cho biết nếu tôi muốn và ghi danh, thì tôi sẽ được trợ cấp tiền điện thoại, mua vé xe buýt dành riêng cho người già. Thiệt là mừng hết lớn!

SVT 02/19/2015


Về đầu trang

CÒN MỘT CHÚT HƯƠNG

Trần Văn Sanh

Tháng mười hoa Cúc Quỳ rộ nở. Trên suốt con đường từ Đàlạt xuống Đơn-Dương, những đoá Cúc-Quỳ tươi tắn, vàng rực dưới ánh nắng ban mai như chào đón ngày Đăng mới đến cái tỉnh lỵ nhỏ bé nằm bên dưới dập Đơn-Dương có cái thác nước tên Yên-Ương thật trữ tình. Ngày chàng đến, hai người con gái sinh đôi của người bạn gốc Thượng ra đón chàng ở bến xe. Gọi là bạn, chứ ông ta đáng tuổi chú, bác của Đăng. Quen nhau trong một buổi họp mặt văn nghệ-sĩ thân hữu ở thành-phố Sàigòn, mọi người thân mật gọi nhau anh, em cho thân thiết. Nếu chính ông không tự tiết lộ, Đăng cũng không ngờ ông bạn này gốc người Thượng. Sau khi giới thiệu với mọi người ông là thẩm-phán của toà án Đàlạt trong giây phút giao đầu của buổi tiệc – lúc mỗi người tự nói chút ít về mình và sự hạnh-ngộ nào đã đưa họ đến chốn này – Đăng tình cờ được ngồi gần sát bên ông trò chuyện. Bẵng đi thời gian gần một năm sau, khi Đăng tình cờ ghé lên Đàlạt chơi, trong một buổi sáng tinh sương lang thang bên đồi Cù suy nghĩ vẩn vơ. Vì mái tóc hơi dài và dáng dấp cao gầy - chàng bị một nhóm công-an, cảnh-sát đang huy động chiến dịch Bài Trừ Ma-Tuý bắt đem bỏ vào Trung Tâm Cải-Huấn ngay thị-xã để tạm giam chờ ngày ra toà, mặc dù Đăng nói chàng chỉ là du-khách và họ lục xoát cái túi balô nhỏ đeo bên người của chàng không có chút tang vật, chỉ một cuốn tập thơ, sổ viết tay và cái máy ảnh chàng luôn luôn mang theo bên người. Sau hai ngày sống trong cảnh lao tù, ăn cơm tấm với muối mè trong trại giam, Đăng được đem ra toà xử. Đứng trước phiên toà, trong lúc chờ vị chánh-án đọc bản hồ sơ, lý lịch của mình, Đăng cảm thấy sự tự do của con người ở một đất nước chậm tiến, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh thật là mong manh, trừu tượng, và đôi khi không chút giá trị - thật khó để giải nghĩa. Chừng lúc đọc xong bản cáo trạng và duyệt xét phần tang chứng của sở Cảnh-sát, vị chánh án đọc tên bị can, ngẩng đầu lên nhìn về phía chàng, hơi ngẩn người đôi phút rồi tuyên bố . Một nụ cười hóm hỉnh làm Đăng hơi bỡ ngỡ, chập sau chàng nhận ra ngay cái khuôn mặt quen thuộc mình đã gặp cách đấy không lâu:

- Không một mảnh tang chứng, chỉ vỏn vẹn quyển tập thơ vậy mà các anh lại tình nghi sử dụng ma-tuý, giam giữ người ta một cách trái phép. Thả đương-sự ngay lập tức.

Nói xong, vị chánh-án đập chiếc búa gỗ lên án thư, đợi cho người cảnh-sát tháo mở chiếc còng sắt trên tay Đăng xong đâu đó và ngoắc ngoắc một ngón tay, bảo chàng tiến lại gần nói nhỏ:

- Ở đây không có phóng khoáng, cởi mở như Saigòn đâu. Cậu còn để mái tóc dài như thế sẽ gặp nhiều phiền toái lắm.

Đăng gật đầu dồng ý nhưng chàng cũng không khỏi cái tánh nghịch ngợm, đùa giỡn, nheo mắt và trả lời thật khẽ:

- Thế chánh-án có thể cấp cái giấy phép để “mái tóc thề” cho Đăng được không?

Vị chánh-án mà Đăng đã gặp trước đó, ông tên Năng, nhìn chàng mà lắc đầu, nụ cười nhân hậu trong ánh mắt. Viết vội lên giấy cái địa chỉ của ông, bảo rằng cuối tuần ghé xuống nhà ông chơi để bù lại hai ngày “ăn chay” bất đắc dĩ của chàng. Trên đường đi, trong lúc Đăng chỉ biết rằng mình sẽ gặp người nhà của ông Năng ra đón, nào ngờ ông cho hai cô con gái sinh đôi tuổi trăng tròn ra đón chàng. Hai chị em như hai đoá hoa rừng giống nhau như tạc. Trông hai thiếu-nữ khép nép trong chiếc sà-rông dệt tay bằng tơ lụa, ấp úng ngỏ lời chào, lúc gọi chàng bằng “chú”, lúc gọi bằng “anh” thật ngượng nghịu, lọng ngọng … Đăng cười thầm, chàng đoán có lẽ hai cô bé tưởng ra đón bạn của bố chắc hẳn sẽ là người đứng tuổi lắm, già lắm. Thế là huề. Đăng thầm nghĩ nhưng chàng không nói. Chỉ tủm tỉm cười, hỏi tên hai người.

- Dạ em … ý quên, cháu tên Torong- MaiSương.

- Còn cháu tên Torong- Mai Linh.

Không biết ai là chị, ai là em, Đăng thấy cô nàng tên Torong- Mai Linh giới thiệu tên mình xong, đưa cùi chỏ huých nhẹ vào hông Torong-MaiSương, lườm mắt bảo nhỏ “Con khỉ! ăn nói xưng hô lộn xộn…!!!”. Torong-Mai Sương tính lên giọng cãi, nhưng Đăng khẽ tằng hắng giọng, tự giới thiệu mình:

- Tôi tên Đăng, hai cô muốn gọi sao cũng được, miễn đừng cho tôi cái chức “ông” là đủ.

- Gọi bằng “bác” được không hở chú Đăng? Torong-Mai Sương hỏi với một vẻ tinh quái.

- Cô này láu ghê nhỉ? chắc là người sinh sau phải không?

- Úi cha! sao chú đoán hay quá vậy! Mai-Sương chỉ ra sau có mấy phút thôi, tại bà mụ chọn lôi chân chị Mai-Linh ra trước đó chứ.

Trên đường đi, Đăng cười giải thích:

- Theo sách tâm-lý-học, họ nói người con thứ nhì đa số đều hoạt bát, nghịch ngợm và tò mò hơn người con đầu. Tôi dựa vào đó để đoán có thế thôi.

- Thế còn cháu? Mai-Linh chợt hỏi.

- Cũng theo sách vở, người con cả thường thường sống về nội-tâm, ít nói và xâu sắc, nhất là … lãng mạn hơn. Đăng trả lời.

-… và hay mít ướt nữa đó chú!

Mai-Sương vừa nói xong là bị cái đánh vai, quẹt nhẹ của Mai-Linh cộng với cái lườm hăm doạ bén như dao sắt làm cô bé vội vàng im thin thín, chỉ bặm môi ráng nín cười. Đăng cũng thấy vui lây với cái hồn nhiên của hai chị em sinh đôi tuỗi tròn trăng này. Cả hai mang một nét đẹp vừa liêu-trai, vừa thuỳ mị như hai đoá phong-lan trong rừng vừa chớm nở. Chàng vừa đi, vừa nghe thoang thoảng đâu đó một mùi hương thật ngọt, quyến rũ toả ra từ hai mái tóc thật dài, hoang-sơ đi bên cạnh. Chiều hôm đó, trước bữa cơm, ông Năng đem một cụm hoa lan vừa hái từ trong rừng, khoe với Đăng bảo rằng đây là một loài lan rất hiếm có trong rừng mà truyền thuyết của người Tầu đặt tên nó là Túy-Ông Lan, vì nó thường hay sống gần những bụi dâu rừng mọc dại, khi những trái dâu chín mùi rơi rụng không ai hái, lâu ngày xác dâu rừng tan vữa, lên men trở thành như chất rượu thấm xuống đất nuôi dưỡng những rễ hoa lan này, để khi trăng rằm nó toả ra một mùi hương thật ngọt ngào, thật mê hoặc và hương thơm của nó – ông Năng dùng chữ sau khi đã như xin lỗi – thấm vào tận đến quần lót, áo lót của người ở gần nó, về nhà cởi ra vẫn còn thoang thoảng mùi hương. Đặc biệt là thỉnh thoảng nó có những cánh hoa mầu đen tuyền như mầu chiếc vải nhung lộng lẫy. Chính vì cái điểm này đã bắt mắt ông Năng hồi tháng trước, khi ông tình cờ gặp một người Thượng trong buôn đem ra bán ngoài chợ. ông Năng mua lại với giá năm ngàn, một cái giá thật đắt ngay cả với những người sành chơi hoa Lan, vì trong lúc một bụi lan thường chỉ bán vỏn vẹn một, hai trăm bạc - tương đương cho một vài ly café, vài gói xôi ăn sáng. Ông kể có lần tỉnh-trưởng Nguyễn Hợp Đoàn, nghe nói ông mua được loài hoa hiếm có này muốn mua lại với giá gấp mười lần ông Năng đã trả, nhưng vì tò mò muốn nghiệm thử cái huyền thoại của loại Tuý-Ông-Lan này, ông từ chối không bán, để cách hai ba ngày pha một vài giọt rượu cần với nước mưa, tưới lên bụi hoa cho khỏi khô, đợi thử ngày tròn trăng sau mùa Trung-Thu xem nó có nở như lời đồn. Nhân gặp lại Đăng ngoài phiên toà, ông muốn chia sẻ cái thú-vị uống trà, thưởng thức cái lạ lùng của loài hoa lan hiếm quý này, ông luôn tiện rủ chàng đến để nghe lại vài bài thơ chàng đã làm hôm nọ trong bữa tiệc. Trong lúc chờ người giúp việc sửa soạn cơm nước, làm thịt con nai rừng ông mới săn ngày hôm trước, ông Năng bảo hai cô con gái đưa chàng ghé thăm cái thác Uyên-Ương ở gần nhà, đi bộ chỉ mất chừng mươi, mười lăm phút. Còn ông xin cáo lỗi, phải đọc lại một vài văn-kiện cần thiết cho tuần tới, hẹn sẽ gặp lại Đăng trò chuyện nhiều hơn trong bữa cơm chiều. Hai chị em sinh đôi từ khi đưa chàng ở bến xe về nhà, thay phiên nhau lúc ra vào bưng nước, đem trái cây ra mời khách – nhất là cô em Mai Sương – xong lẩn vào bên trong cười rúc rích, thì thầm như chòng ghẹo nhau sau khung cửa.

Trong lúc đưa chàng đi bộ đến thác, Đăng nhận thấy Mai Linh có vẻ ít nói, e thẹn, đi cách xa, còn Mai Sương theo sát bên cạnh chàng hỏi han đủ thứ chuyện. Cô nàng hỏi nhiều câu có lúc thật ngây thơ, có lúc thật táo bạo:

- Cho phép cháu hỏi điều này nhá. Chú Đăng có vợ chưa hở?

- Thú thật với hai cô, tôi đã chục vợ với một tiểu đoàn con nít, bây giờ đang muốn tìm chỗ trốn nợ đây!

Mai Sương cũng không vừa:

- Chú xạo! tính chọc cháu phải không?

Đăng cười:

- Ừ, đùa chơi thôi.Thật ra tôi chỉ hơn hai cô chừng bốn, năm tuổi là cùng. Không đáng được gọi bằng chú, nói chi là đã có vợ.

- Vậy chứ, chú có bồ chưa? Mai Sương hỏi liền miệng.

- Ê! Sương hỏi gì kỳ cục vậy! Xin lỗi chú Đăng nhé, con nhỏ này tánh lanh chanh lắm chú ơi. Chú không nhất thiết cần phải trả lời nó.

- Không sao đâu Mai Linh, tôi cũng chưa có ai cả. Đi đây, đi đó hoài thì làm sao quen biết ai được.

- Bộ chú là lính sao mà đi hoài vậy?

- Lính gì mà cho phép để tóc dài như thế này? Đăng hỏi như để trả lời.

- Có chứ chú, Mai Sương thấy những người lính tiểu-đoàn 302 Địa Phương Quân ở đây để tóc còn dài, trông “ngầu” hơn chú nhiều.

Đăng chống nạnh, làm bộ quắc mắt:

- Mai Sương thấy tôi như thế này “ngầu” đủ chưa?

Lần này Mai Linh mới cười khanh khách, lên tiếng:

- Chú Đăng này tếu thật.

- Xời ơi! Trông chú có vẻ thư-sinh, nghệ-sĩ thấy mồ. Chú có phồng mang, trợn má cũng chả làm con nít sợ nói chi là tụi cháu. Nghe bố nói chú biết làm thơ phải không?

- Ai mà chả làm thơ được, chỉ cần đòi hỏi tâm hồn có chút lãng mạn là đủ.

- Vậy chú ngâm thử một bài thơ của chú cho tụi cháu nghe đi?

Đăng làm bộ tằng hắng, lấy giọng thật thấp, ngâm hai câu thơ vừa thoáng qua trong đầu:

Hôm qua bỗng thấy thèm me Nay thấy nồi chè sực hết năm ly… và chàng nheo mắt nhìn hai chị em sinh đôi, cười hỏi:

- Sao, hai cô thấy bài thơ như thế nào?

Hai chị em đứng ôm vai nhau cười rúc rích:

- Trời ơi, chú vui ghê, mà lại dấu nghề nữa! bố cháu rủ chú về nhà chơi là phải biết. Thôi không thèm hỏi tới chú nữa … Tuy nói thế, thỉnh thoảng Mai Sương vẫn chất vấn, hỏi han Đăng đủ vài thứ chuyện. Quanh quẩn cũng chỉ muốn biết gì về con người của chàng. Đăng thấy mình không có điều gì phải dấu diếm nên cũng thành thật trả lời, nhưng hình như cả hai có vẻ đều không tin một người như chàng mà vẫn chưa có bạn gái, chưa người yêu nên vẫn nhét vào đâu đó một đôi câu hỏi như dọ ý. Lúc đến thác Uyên-Ương, Mai-Linh bấy giờ mới bạo dạn hơn một chút, đưa tay chỉ và giải thích cho Đăng thấy từ trên đỉnh thác – không biết vì nhân tạo hay thiên-nhiên, dòng nước chẩy soi mòn chia thành hai nhánh chẩy từ trên xuống theo cánh cung và gặp nhau ở cuối đường tạo thành hình như một trái tim, đổ tuôn xuống con suối phía bên dưới. Thấy phong cảnh thiênnhiên và hai người mẫu ăn mặc tuy thật đơn sơ nhưng xinh xắn đã có sẵn. Chàng lôi máy ảnh rồi bảo hai chị em đứng dựa vai nhau bên cạnh bụi hoa Cúc-Quỳ vàng rực để chàng chụp vài tấm hình làm kỷ-niệm. Sau đó mọi người sách giầy dép, để chân không đi dọc ngược theo con suối cạn, leo lên ngọn đồi thoai thoải nhìn xuống thung lũng phía dưới là một hồ nước trông bao la, rộng lớn tạo nên bởi cái đập chận nước ở cuối thung lũng. Trong lúc Mai Linh và Mai Sương thích đi thơ thẩn hái những đoá hoa rừng mọc dại để đem về nhà cắm trưng bầy, Đăng nghỉ chân ngồi nhìn xuống cả một thung lũng đồi nước mênh mông ở phía dưới. Cảnh vật cũng tựa như cái thung lũng Tình-Yêu nhưng hồ ở đây lớn gấp hơn nhiều lần. Cái thác tên Uyên-Ương và hình ảnh duyên dáng, vừa mặn mòi vừa hoang sơ của hai chị em người Thượng nhìn thật gần qua ống kính khi nẫy bỗng làm Đăng cảm hứng, muốn nghĩ đến một hai câu thơ nào đó để ghi nhận lại những rung động nhẹ nhàng đang miên man, lâng lâng dào dạt trôi chẩy trong lòng, trong tâm hồn chàng. Vài phút sau, Đăng nhỏm người lôi cuốn tập thơ chép tay từ cái balô, lấy bút hý hoáy vội vàng, sợ dòng thơ của mình như mau bị trôi lạc, mất vào trí nhớ:

Đây thác Uyên-Ương, đây giáng kiều bên hồ nước lặng, vẳng tiếng tiêu nhìn hoa tươi nở lòng thầm hỏi mai này xa cách có nhớ nhiều?

Chàng chép xong rồi ngồi lặng yên, nhẩm trong đầu cái ý thơ thật dịu dàng, lãng mạn vừa xẩy đến trong một buổi chiều nắng vương nhẹ trên đồi. Nắng bây giờ đã thôi gắt, chỉ còn là cái nắng thật nhẹ cùng với tiếng sáo của ai đó, có lẽ vọng lên từ con thuyền tre nhỏ bé xa tuốt tận bên kia hồ, văng vẳng đâu đây như muốn ru ngủ thiên nhiên, ru hồn kẻ lãng du chưa một lần ghé đến, có lúc Đăng chợt tưởng nghĩ sự hiện diện của chàng giữa hai đoá hoa sinh đôi dường như là một chuyện liêu-trai, hoang đường. Vừa mỉm cười cho cái đầu óc quá nhiều sự tưởng-tượng của mình, Đăng chợt giật mình khi nghe tiếng reo mừng, như thú vị của Mai Sương bên cạnh:

- À há! bắt gặp chú làm thơ mà lại dấu tụi cháu hén!

Mải suy tư, Đăng không để ý Mai Sương đã lẻn đứng sau lưng chàng từ hồi nào. Cô nàng xà xuống bãi cỏ, cạnh chỗ chàng ngồi – làm duyên, cười cầu tài - có lẽ định hỏi han, xin chàng cho phép được xem cuốn tập thơ. Mai Linh ở đâu đó cũng vừa trờ tới, thấy người em sinh đôi đang nhìn cuốn tập thơ của Đăng cũng đoán ngay được ý định của em gái, định nạt nộ cái tánh xỗ sàng của em mình, nhưng Đăng đã vói lấy và đưa tận tay Mai Sương dặn dò:

- Đây, nhưng hứa là dọc xong đừng cười nhé cô bé?

- Ai cười hở mười cái răng, cháu thề rồi đó.

Mai Sương nhoẻn miệng nở nụ cười tươi tắn như thầm cảm ơn chàng, rồi cẩn thận dùng hai ngón tay mở từng trang, đọc chăm chú, thì thầm. Mai Linh nhìn em mình mà lắc đầu:

- Chú Đăng dễ với Mai Sương quá, nó sẽ làm nũng hoài cho chú coi!

- Không sao. Mấy khi tôi ghé đây… - Mai Linh ơi! chú làm thơ tình tứ quá, quả như lời bố nói!

Mai Sương vừa đọc xong bài chàng mới làm và reo giọng đầy nhiệt thành, vẫy vẫy ra dấu bảo Mai Linh ngồi bên cạnh, chìa cuốn tập thơ của chàng cho chị xem cùng. Đăng nhìn hai mái tóc kề sát bên nhau, thích thú đọc những vần thơ tạp nhạp chàng viết trong những tháng ngày nhàn rỗi. Chàng bỗng nhớ đến bài “Sơn Nữ Ca” mà mới ngày nào nghe chàng phi-công, kiêm ca-sĩ có giọng thật ấm và truyền cảm của Sĩ-Phú hát trong một buổi văn-nghệ ca tụng cái vẻ đẹp, chuyện tình lãng mạn của người con gái miền thượng-du, đồi núi “ … một đêm trong rừng vắng, có cô sơn-nữ miệng cười xinh xinh, ngắm anh lữ-khách rồi lòng bâng khuâng…”. Đăng nghĩ thầm, giá mà chàng có giọng hát như Sĩ-Phú có lẽ chàng cũng sẽ hát tặng hai chị em song sinh, lưu lại trong lòng họ một chút gì gọi là kỷ-niệm, về cái buổi tình cờ chàng ghé thăm gia-đình của ông Năng. Nhưng Đăng cũng sợ biết đâu chàng sẽ vô tình gây cảm lụy cho cái tâm hồn trong sáng, đơn sơ của hai chị em này. Đăng đứng dựa một cây thông, nhặt những viên sỏi ném xuống hồ, thấy lòng chàng thoang thoảng, toả rộng một nỗi cô đơn nhẹ nhàng, buồn mênh mang như con sóng lan rộng từ viên đá chạm xuống trên mặt hồ. Đăng nhận thấy có lẽ chàng dễ nhậy cảm, yêu thích những vẻ đẹp thiên nhiên của thượng-đế đã ban cho loài người. Vì tham lam yêu nhiều, yêu hết tất cả nên hình như chàng vẫn chưa muốn thuộc về bất cứ ai. Chỉ muốn thấy mọi người được vui hưởng hạnh phúc – nhưng cuộc đời nào đã đơn giản đến thế, Đăng dư biết. Ngay chính cả hiện tại, nếu chàng tỏ vẻ ưa thích, tán tỉnh một người thì đồng thời sẽ gây muộn phiền không ít cho người nọ. Đăng thấy dường như chàng hay gặp một cái khoảng cách nào không tên thường đứng giữa sự liên-hệ mật thiết giữa chàng và những người con gái chàng từng quen biết.

- Chú đang nghĩ ngợi hay mơ mộng gì đó?

Đăng quay lại nhìn thấy Mai Linh lặng lẽ đứng bên cạnh, hỏi vẻ ngập ngừng. Chàng chỉ tay về cuối chân trời xa tít, phía những dẫy đồi núi trùng trùng, điệp điệp chạy dài nơi phương nam và nói như chỉ để đối thoại với chính mình:

- Tôi đang nghĩ về cái đường thẳng ở phía đó. Con đường phân chia giữa trời và đất, nghe người xưa nói chúng ta đi nhưng sẽ chẳng bao giờ đến được gặp cái đường thẳng ở cuối chân trời ấy.

- Ý da! chú nói gì mà nghe có vẻ triết lý quá vậy. Mai Linh mới học đến lớp mười à. Sang năm nữa mới học triết. Coi bộ môn này khó lắm hở chú?

- Không khó đâu, nhất là đối với kẻ sống nhiều về nội tâm như Mai Linh. Câu nói của tôi hồi nẫy chỉ với mục đích làm lạc hướng, đổi đề tài có thế thôi. Thế hai chị em học trường nào?

- Dạ, tụi cháu học trường Bùi Thị Xuân – ĐàLạt.

- Xa thế cơ à. Vậy mỗi ngày hai cô đi học bằng gì?

- Dạ không, tụi cháu ở trên phố chung với bố, cuối tuần bố thích về đây đi săn, đi câu cá nghỉ xả hơi.

- Thú ghê nhỉ, phải chi tôi có được một cái trang trại như gia đình của hai cô… - Chắc không đó chú, Mai Linh thấy chú có vẻ thích đi đây đó hơn là chôn chân ở một chỗ, nhất là một chỗ hoang-vu, buồn tẻ như ở đây.

Đăng cười, nhưng chàng cũng gật đầu đồng ý với cái nhận xét vừa rồi của Mai Linh:

- Con người mỗi tuổi đều có một cái lối sống, sở thích riêng. Biết đâu sau này Mai Linh, hoặc tôi lại tìm được một người vừa ý và cả hai sẽ chán cảnh xô bồ của thành phố và sẽ chọn nơi giống như thế này để xây mái tranh, tổ ấm cho mình.

- Đợi đến ngày ấy xa quá, chú không biết chứ phong tục của bản xứ là con gái Thượng lấy chồng sớm lắm chú ạ.

Giọng Mai Linh có vẻ đượm buồn ở cuối câu. Đăng ái ngại không biết nói gì hơn, chàng nhìn đồng hồ thấy nẫy giờ đi dạo thế cũng đủ. Mai Linh thật bén nhậy, thoáng thấy cử chỉ của chàng nên cũng cất bước, lững thững đến cạnh MaiSương, cô nàng còn đang ngồi mải mê, nghiền ngẫm cuốn tập thơ viết tay của Đăng. Biết hai người có vẻ muốn trở về, Mai Sương xếp tập thơ, đứng dậy trao trả lại cho Đăng và nói:

- Bố có nói trước rồi mà cháu vẫn không ngờ chú lãng mạn, nghệ-sĩ ghê! Bao giờ in ra sách nhớ gởi cho cháu một quyển chú Đăng nhé?

Đăng lắc đầu:

- Coi bộ cái đó còn khuya lắm. Ai mà thèm. In ra cho chú dùng để dọa ma à!

- Xời ơi, cháu đây cù lần mà còn phải thích nữa là … Mai Sương vừa nói, cái miệng vừa trề, tuy không dùng môi son nhưng vẫn lộ vẻ mầu hồng mọng mị, trông thật xinh, ngộ nghĩnh, làm Đăng nghĩ bụng chỉ muốn đưa tay bẹo má cô nàng, và thầm nhủ “gớm, chẳng biết bao nhiêu con trai ĐàLạt đã điếng hồn, ngẩn ngơ với cái gọi là cù lần của cô nương này? “. Con đường về, Đăng có cảm tưởng hình như bỗng dưng ngắn hẳn đi, khi chàng hỏi thăm sơ qua về gia đình của hai người, Mai Sương vẫn hoạt bát, dành trả lời nhiều hơn trong lúc Mai Linh đi bên cạnh, chàng để ý thỉnh thoảng thấy nàng thở dài, lặng lẽ. Chả mâý chốc ba người đã về đến nhà. Ông Năng ra đón với ly rượu cần nhà nấu đem ra mời chàng để khai-vị, chuẩn bị cho buổi cơm chiều gồm món nai rừng và vài thứ rau, củ hái từ trong vườn.

Hôm đó, không biết có phải vì hai ngày nằm tù bị “ăn chay” một cách bất đắc dĩ, hay vì những món ăn thổ-sản độc đáo, hoặc có lẽ vì vài ly rượu mà có lúc ông Năng hay từ bàn tay của Mai Linh đổ thêm vào ly của chàng. Chàng ăn thật ngon miệng, uống rượu cần lòng thấy lâng lâng, ngầy ngật và thỉnh thoảng còn làm một vài câu thơ đối khẩu với ông Năng. Tối đến, ông rủ chàng ra vườn ngồi uống trà đợi trăng lên và chờ cụm hoa Tuý-Ông Lan nở nhưng Đăng xin phép được cáo lui, viện cớ chàng sáng mai sớm phải về Saigòn trình diện sở nhận công tác mới, có lẽ lại một chuyến phóng sự, đi xa đôi ba tuần. Ông Năng giọng hơi tiếc rẻ nhưng cũng thông cảm tiễn chàng ra đến cửa, và dặn hai chị em đưa chàng trở lại bến xe. Đăng ngại ngùng, bảo chàng có lẽ cũng đã nhớ đường, tuy vậy ông Năng cũng nhất quyết, sợ rằng trời tuy sáng trăng, nhưng nếu không rành những con đường làng thì dễ bị lạc như chơi, và hai cô con gái của ông coi vậy chứ biết chút võ thuật nên ông nói chàng cứ yên lòng. Nghe vậy, trên đường đi bộ ra

Đăng hỏi đùa gợi chuyện:

- Hai cô biết võ vậy chứ, có còn sợ ma không đấy?

Mai Sương vẫn nhanh nhẩu dành trả lời:

- Xời ơi, ma xó tụi em còn không sợ chứ nói chi là ma thường, thế chú có sợ không?

Đăng ngày trước có ở Ban Mê Thuật và chàng cũng nghe kể, biết sơ sơ về chuyện ma xó người Mường, người Thượng hay “nuôi” để trông nhà. Chàng cười, khen hai chị em một cách như gián tiếp:

- Sợ ghê lắm! đi giữa hai cô tôi e rằng mấy con ma đàn ông họ ghen tức, tối nay về sẽ nhát tôi một trận cho mà xem.

Hai chị em nghe chàng nói thế nhìn nhau cười rúc rích, rồi không biết vì chợt nghe tiếng chim Cú vang vọng trên ngọn cây hay vì bóng tối, cả Mai Sương và Mai Linh đi gần lại với Đăng hơn một chút, gần khiến chàng có thể ngửi được thoang thoảng đâu đây trên mái tóc một mùi hoa Lan thơm ngát thật dịu vợi. Trăng bây giờ đã cao ngang ngọn cây, trăng sáng vòi vọi, soi hằn lên khuôn mặt thanh tao, quyến rũ của hai người con gái miền núi. Nhìn cái đẹp đơn sơ, trong sáng đó, Đăng chợt nghĩ đến những ngày phiêu du cô đơn sắp đến, chàng nghe lòng dâng lên nhẹ nhàng một nỗi buồn vui, lẫn với cái hạnh phúc mong manh chàng mới được hưởng trong một ngày ghé đến cái thị-xã Đơn Dương nhỏ bé này. Thấy hai chị em yên lặng đi bên cạnh, chàng hát khẽ bài hát của Phạm Duy một cách như để cảm ơn, để thì thầm trò chuyện với hai đoá hoa rừng sánh bước cạnh bên mình:

“Phố núi cao, phố núi đầy sương, phố núi cây xanh, trời thấp thật buồn.Anh khách lạ đi lên đi xuống, may mà có em, đời còn dễ thương. Xin cảm ơn thành phố có em, xin cảm ơn một mái tóc mềm. Mai xa lắc, bên đồn biên giới còn một chút gì để nhớ để quên…” Trên đường về, Đăng nghĩ đến cái hình ảnh hai thiếu nữ dưới ánh trăng thanh và ngọn đèn đường vàng vọt, đứng vẫy tay chào nơi bến xe. Chàng nghe tim mình nhói lên, thổn thức với cái oan nghiệt của đời người. Tình yêu là một thứ không thể nhìn thấy, không thể cầm lấy hoặc đo lường. Không có nó, cuộc đời quả là vô vị, chả còn gì đáng để sống. Nhưng sự xuất hiện bất ngờ, đột ngột của nó cũng làm cho con người choáng váng, vật vã và đau khổ. Oái oăm hơn nữa là ông trời không cho tất cả mọi người yêu chỉ một lần, chỉ một người. Đăng hy vọng Mai Linh và Mai Sương sẽ giữ mãi cái hình ảnh đẹp của một buổi chiều bên thác Uyên-Ương. Một chút kỷ-niệm của thưở mới lớn, trong trắng và dịu dàng. Riêng chàng, Đăng biết đó sẽ là cái đề tài để cho chàng thỉnh thoảng thầm nhớ trong những tháng ngày sắp tới. Một cuộc tình lãng mạn trong trí tưởng như những cuộc tình đã trôi qua trong đời sống lang bạt, bồng bềnh của chàng. Trong lúc ngả đầu dựa vào thành ghế xe để suy tưởng, nuối tiếc cho những giây phút êm đềm vừa trôi qua, Đăng chợt thoáng ngửi thấy đâu đây trên bờ vai áo, còn phảng phất một chút hương của loài hoa lan mà Mai Linh hoặc Mai Sương thường cài trên mái tóc, có lẽ ban chiều hoặc lúc nẫy đã đi gần bên chàng, dựa vào và để quyện lại cái mùi hương ngọt ngào, quyến rũ như nhắc nhở sự hiện hữu của hai người thiếu-nữ miền sơn cước. Đăng nhắm mắt chìm đắm thả hồn trong giây lát, tưởng nhớ những phút giây thật êm đềm của một buổi chiều đã trôi qua trong đời chàng, và cứ thế, chuyến xe vẫn lầm lũi lao mình trong bóng đêm, đưa chàng mỗi lúc một gần về căn phòng trọ vắng lạnh, buồn tênh đang chờ đợi chàng nơi thành phố mà có lẽ giờ này sương mù đã bắt đầu rơi xuống.

SVT, Jan. 1989


Về đầu trang

ĐÀ LẠT - Cảnh cũ Người Xưa

Trần Văn Sanh

Sáng hôm thứ ba, sau khi ghé thăm nhà Dung - giờ thì mải bận rộn trông đàn cháu, trên đuờng về, tôi vòng xe ghé ngang qua con đường Phạm Hồng Thái, dừng chân nơi con đường xưa một thời đã từng lê la, cuốc bộ mòn gót giầy từ căn nhà gỗ nghèo nàn của Hoàng Như Sơn để đến trường Việt-Anh, rồi sau đó là Văn-Học.

Phía bên trái, nơi những ống cống đang chờ đợi để được lấp đặt đâu đó, ngay nơi này xưa là cả một vườn cây Hồng luôn đầy nặng trĩu những trái to tròn, mơn mởn. Tôi nhớ hoài mỗi buổi sáng, khi trái vẫn còn xanh non trên cành, hai thằng đi bộ ngang qua khu nhà vườn, Sơn rỉ tai, nói nhỏ rằng để hôm nào trăng sáng, hai đứa sẽ vác cây với cái móc ra hái trộm vài trái về ăn chơi. Rồi cái đêm rằm sáng trăng cũng tới; cả hai chờ đợi gần 11 giờ tối mới tà tà sách đồ nghề với cái bao để đựng, hí ha hý hửng rằng sớm muộn gì cũng sẽ được cắn những trái Hồng dòn rụm chấm muối ớt. Ai dè buổi sáng hay trưa hôm đó, nhà vườn đã bán cho thương lái, họ hái trụi lũi trước giờ hai thằng tan học ra về. Thế là một buổi tối công toi và những ngày mơ ước, mà cứ mỗi lần nghĩ lại, hai thằng lại phá ra cười vì không ngờ mình vẫn còn sao ngây ngô quá cỡ thợ mộc.

Khoảng trời xanh cũ vẫn còn đó mà người năm cũ giờ nơi đâu?

chiều nay đứng giữa trời lộng gió se lạnh hồn ta thoáng chút sầu.

SVT Hơn 42 năm sau, giây phút này đứng nhìn những ô ruộng trồng rau sà lách-xoong, tôi bùi ngùi nhớ lại thưỏ hàn vi chung sống với gia đình Sơn. Mới đầu tôi thuê căn phòng ở cư xá Nha Địa Dư, ngay bên cạnh chỗ mấy chị em Dung ở - tôi thường hay rủ Sơn đến ở cùng để trò chuyện trong lúc tôi ngồi vẽ, rồi khuya nó lười về nhà nên hay ngủ lại qua đêm. Sau cảm thấy hơi phí, vì số tiền thuê hàng tháng tôi có thể đến ở với gia đình Sơn, đóng góp phần tiền thuê nhà ấy vào hai bữa ăn chung; với lại cho cả hai có dịp tha hồ mà trò chuyện (này, mấy mợ đừng có tưởng là đàn ông con trai ít nói, không nhiều chuyện đâu đấy nhá!).

Ngày đó bố mẹ Sơn cũng có 2, 3 ô đất để trồng rau như thế này, mà cũng chỉ đủ để sống qua ngày. Nhiều hôm không đủ tiền mua rau, mua thịt, mẹ của Sơn ra vườn hái rau, chế biến thành 3 món: rau sà lách-xoong trộn dầu dấm với muối, tiêu, tỏi; món thứ nhì là sà láchxoong nấu canh, và món cuối cũng là sà lách-xoong xào với tỏi, ớt. Vậy mà gặp bụng đói cũng hết sạch nồi cơm. Hôm nào có chút tiền còm thì mua thêm 2, 3 con cá hấp về chiên; sang hơn nữa thì vài lạng thịt bò xào ăn với rau sà lách-xoong, món canh thì có thêm vài con tôm khô cũng đã gọi là chiến lắm rồi. Chưa cần phải đợi sau cái biến cố 30/04/75, ngày đó thỉnh thoảng không đủ tiền đong gạo, tôi và gia đình Sơn đã phải mua khoai nấu trộn với cơm ăn với tóp mỡ và muối tiêu, mà ngon nhất là phần cơm cháy, ăn thật bùi và ngon lành.

Tôi với nó phải oảnh tù tì xem đưa nào đuợc miếng cơm cháy còn lại.

Bởi vậy, lúc theo tôi xuống Sàigòn - về thăm nhà trong mùa lễ Giáng Sinh - khi biết tôi gốc công tử bột, có nhà cao cửa rộng, sáng có người làm bưng thức ăn lên tận phòng; tánh chơi ngông nên bỏ nhà đi giang hồ sống kiếp nghèo hèn bữa no, bữa đói như kẻ không gia cư, không gia đình thân thuộc; nó chỉ biết nhìn tôi, rồi lắc đầu rồi đánh một câu: "Địt mẹ! tao chịu thua mày luôn!". Vậy đó mà cái thằng bạn khỉ gió đã sớm bỏ cuộc chơi, để tôi hôm nay một mình trở lại chốn xưa mà ngậm ngùi nhớ thương thằng bạn nhiều tài năng, nhưng lận đận suốt cuộc đời. Nhóm VHĐL mà có Sơn tham dự những buổi họp mặt, bảo đảm sẽ có những trận cười nghiêng ngửa vì tài ăn nói và tánh tình rất nghệ sĩ của nó.

Trở lại chuyện gặp lại "bà ngoại" Dung, bây giờ dung nhan chỉ có già dặn theo thời gian, nhưng nét mặt vẫn y nguyên như ngày nào. Năm ngoái, sau hơn 41 năm không gặp, mà từ xa tôi vẫn còn nhận ra Dung, xưa vẫn thường hay sánh vai đi chơi chung với một "nhóc tì" nữa tên Thành, người hay đi bộ chung với Dung, còn không thì thường bên cạnh Dung lại có một "nhóc tì" nữa là Tứ-Anh. Nghe Dung kể lại là bây giờ về hưu, Thành lại đâm ra thích cầm máy ảnh, chừng mà gặp lại, chắc cũng sẽ có nhiều đề tài để tôi dễ "đàm thọi".

Tôi cũng không ngờ Dung bây giờ lại mát tay, thích trồng hoa, đủ loại hoa Lan - và trong nhà có một chậu hoa tên hoa Vũ Nữ, và tình cờ phu nhân nhà mình lại nhìn thấy rõ ràng cánh hoa giống y như chiếc váy đầm của vũ nữ đã được xòe ra, như bay lượn theo điệu valse.

Dũng là chồng của Dung cũng đã ngạc nhiên, phải thốt lên "Chị là người đầu tiên nhìn và nhận ra điều thú vị này của cánh hoa".

Riêng tôi, đây là lần đầu tiên được thấy loài hoa này, và với ánh sáng ẩn mình trong bóng tối của cánh cửa sổ, tôi thấy cái đẹp của mầu sắc, cộng với ánh sáng ấm cúng của góc phòng nên chụp đại lấy một tấm, gửi lại đây cho mọi người xem.

Luôn tiện, được Dung cho xem cuốn lưu bút ngày xưa, thấy nhan sắc của chàng PMC - dĩ nhiên nay phải già hơn đi thôi - nhưng vẫn không mấy thay đổi. Tôi nhận ra tuồng chữ viết tay, giống như của mình ngày ấy, đó là lối chữ viết rất ưa chuộng và thịnh hành thời bấy giờ, phóng khoáng và lãng mạn. Thịnh hành đến nỗi là ngay cả "nhóc tì" Tứ-Anh đã khéo tay, giả mạo làm như tôi đã ghi xuống vài hàng cho Dung trong cuốn lưu bút. Đúng là, nhất quỷ nhì ma, thứ ba chắc chỉ có Tứ-Anh.:) Câu cuối cùng này sẽ là cái tựa đề cho bài viết sắp tới, viết về chuyện tôi gặp lại nhóm VHĐL ở quán cà phê Nhật Nguyệt, dưới sự "chỉ đạo" và quản lý của cựu đồng chí giám đốc ngân hàng PMC. Bạn thấy chưa, mới về Đà Lạt chỉ 1 tuần, vậy mà ngôn ngữ của tôi sắp sửa bị hũ hóa rồi. Gớm, nghĩ mà đâm ra phát hãi....:)

SVT

08/07/2015


Về đầu trang

ĐÀ LẠT - Chốn Tạm Dung

Trần Văn Sanh

Sáng đầu tiên thức dậy trong một căn hộ ở khu Yersin, nhìn xuống con đường từ Đại-Học Sư Phạm rẽ đến ngã ba, phía bên trái xưa là cánh rừng thông mà người dân ở đây bảo, dưới thời cựu hoàng Bảo Đại nơi này còn có cọp, không ai dám băng ngang rừng một mình; nay là sân vận động chung của thành phố và cả Tỉnh Lâm Đồng; vật đổi sao dời, một sự đổi thay, tiến hóa tất nhiên - tôi bỗng cảm thấy mình dường như cũng biến đổi, đang rẽ sang một ngã ba khác của cuộc đời.

Tuần trước, đi xem một căn hộ dùm cho người em, và nhờ bỏ công khảo cứu, truy tìm những luật lệ về đất đai, quyền sử dụng nhà cửa, cho nên tôi mới tạm gọi là am hiểu sơ về luật bồi thường, định cư cho những hộ gia đình bị giải tỏa; những định luật mới về mua bán bất động sản dành cho Việt kiều, v.v...nghĩa là cả một rừng luật, và đó là chưa kể 1001 "lệ" - cộng lại cả hai mới đúng cái ý nghĩa danh từ "Luật Lệ", áp dụng cho mọi thời, mọi nơi, mọi chuyện.

Phòng Khách

Nhà Bếp

Kể ra, một căn hộ có sẵn những tiện nghi đầy đủ - có phòng tiếp khách, 2 phòng ngủ, 2 phòng tắm/toilet, và 1 phòng để giặt & phơi đồ, sau khi được "hóa giá" và kể cả tiền sang nhượng - không tới 1 tỷ đồng ($50K USD), cũng vừa túi tiền cho những người trong 401k có trên $100 ngàn đô la, về đây ở khỏi phải thuê mướn khách sạn. Tha hồ nấu nướng theo ý muốn, kể cả món Thịt Cầy !

Đừng tưởng tôi chi nói đùa không đấy nhá ! dân Bắc kỳ dường như họ đang "thi công", đổ xô nhau vào hai cái xứ "Đà" - Đà Lạt & Đà Nẵng - để mua sắm nhà đất, trong đó kể cả những căn hộ sang trọng, loại "đẳng cấp".

Dân Bắc vào thì dĩ nhiên món cầy tơ chắc chắn hẳn phải bám theo chân đám di cư hậu-75 này.

Khu căn hộ Yersin được xây dựng lên sau khi đã "xóa sổ", nhổ gốc gia cư của một số gia đình ở đâu đó; mà sau khi xây xong - chính phủ cho phép từng hộ gia đình đã bị nhà nước giải tỏa - được vào ở với hồng ân mỗi tháng là phải trả tiền thuê cho chính phủ (trên dưới 1 triệu đồng mỗi tháng tùy diện tích của từng căn hộ). Sau một khoảng thời gian - mà chỉ có giữa ông trời và nhà nước biết - nhà nước sẽ hồ hỡi thông báo cho từng hộ gia đình, là họ sẽ phải trả chính phủ bao nhiêu thì sẽ được cái "sổ Hồng", đến khi đó họ mới chinh thức được làm chủ căn hộ - thôi không còn cái diễm phúc được trả tiền thuê hàng tháng. Sướng nhé !

Tóm lại, nếu bạn có cái nhà trên một khu đất được chính phủ chọn để giải tỏa vì mục đích chung của thành phố/Huyện/Tỉnh...mà theo trị giá thị trường lúc bấy giờ (thí dụ) là vài trăm triệu (chứ vài tỷ thì đau như...thiến! ). Bạn được hân hạnh mời vào ở trong một căn hộ đã được chỉ định sẵn, và còn "được" quyền trả tiền thuê hàng tháng cho nhà nước.

Thứ nhất, nếu bạn cóc muốn sống trong cái "hộp" bít bùng như căn hộ (như nhiều người từng sống quen dưới một mái nhà, có chỗ để bán cóc, bán soài, cà phê, thuốc lá...bán cái gì cũng được, miễn là có đồng ra, đồng vô - mua được lon gạo, nửa lít nước mắm...) thế vẫn còn hơn ở ru rú trong căn hộ, chả làm ăn gì được cả. Đã thế, nhỡ cúp điện mà phải cuốc bộ lên đến lầu 5,6,7... Rồi nào là hàng xóm ồn ào, an ninh trật tự, v.v...Nghĩ đến cũng đã khiếp vía cho khối người (già).

Thứ hai, dùng cái thí dụ ở trên, nếu sau khi ở thuê được 5 năm (hợp đồng 60 tháng) mà mỗi tháng phải "cúng cô hồn" mất 1 triệu - coi như sau 5 năm là họ toi mất 60 triệu, chừng được nhà nước hồ hỡi cho phép mua lại căn hộ với giá từ $400 triệu đến $500 triệu. Té ra, họ bị mất đi miếng đất - lẫn căn nhà, cho dù là căn nhà chòi hay chăng - trị giá vài trăm triệu chẳng hạn; nay phải chi ra 60 triệu tiền thuê căn hộ, rồi còn phải bỏ thêm vài trăm triệu nữa để "được" mua lại cái căn hộ mình đếch muốn ở từ ngày đầu.

Thảo nào, theo tôi nghĩ, bất cứ công văn hay văn bằng luật pháp nào cũng bắt buộc phải có câu thần chú "CHXHCNVN - ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC" - có lẽ toa rập theo những câu "Nam Mô Bổn Sư thích Ca Mâu Ni..." hoặc "Ai tin vào Chúa sẽ được lên thiên đàng đời đời chẳng cùng. Amen". Ai bảo nhà nước là vô thần, không tin vào tín ngưỡng, kẻ đó mới đúng là ngu muội, cóc biết mẹ gì cả.

Bởi thế cho nên ai cũng muốn bán, thà rẻ mà "có còn hơn không, có còn hơn không" từ câu thơ bất hủ của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, được Phạm Duy tài hoa biến thành bản nhạc vàng để đời.Tôi được một cặp vợ chồng trẻ, chủ nhân "may mắn" của một căn hộ, mời ở lại ăn cơm, trò chuyện rồi chắc cảm kích chàng Vịt kìu hiền lành - hay bị tôi dụ khị như thế nào - thế là hai vợ chồng họ mời chúng tôi ở lại qua đêm, để cảm nghiệm cho biết rõ thêm về cái gọi là yên tĩnh, an ninh và dân tình quanh đây.

Ngay từ lúc lái xe đến khu chung cư này, tôi đã bị một người Bảo-Vệ chặn lại, hỏi tôi muốn gặp ai, mà nếu không biết rõ danh tánh chủ nhà và không được thông báo từ trước, chưa chắc tôi đã được đậu xe ở đó, huống gì là vào phòng thang máy! Ban đêm thì quả thật, xung quanh đều êm như tờ; không có chuyện hang xóm mở hát karaoke ồn ào, "kém văn hóa"; ai cũng biết mặt, gặp chào nhau vui vẻ (nhưng bảo đảm, trước sau, sớm muộn gì cũng có ngày gặp người "dở quẻ" - C'est La Vie - đời là thế ! Thiên đàng hạ giới chỉ là sản phẩm của tưởng tượng !)

Hôm sau, dùng bữa ăn sáng xong - hai vợ chồng đi bộ quanh hàng xóm, gọi là "thăm dân cho biết sự tình" - thấy vẫn còn nhiều mảnh đất trống, đa số khoảng chừng 10mm2 (5x20), đăng biển "đất bán" um xùm. Ngộ cái là cứ cách vài căn nhà lại có một quán cà phê, mỗi quán chỉ lèo tèo dăm ba người, mỗi ly chừng độ 10 ngàn đồng, nghĩa là một ngày bán được hơn chục ly cà phê thì gia đình cũng có thêm ít ra là đĩa rau, dĩa cá. Xôm tụ hơn hết là những quán bán Bún, bán Phở, v.v...mà chưa tới 10 giờ là đã bán hết sạch, ai ra trễ thì ráng mà nhịn nđến ngày mai. Sống ở đây gần 3 tháng, tôi đã quen dần với lối sống, thời khóa biểu ở đây - sau 11 giờ là cứ việc tàn tàn đi chơi , ăn uống đâu đó, chớ dại mà chui vào công sở để rồi lại lủi thủi ra về, chờ đến sau 1 giờ mới được vác xác trở lại. Kế tiếp là hễ nơi nào có món ăn ngon, mình đến trễ là coi như...tiêu ! Dân ở đây tuy ham tiền nhưng cũng ham...lười; không hồ hỡi, làm quần quật như dân Mỹ. Bán hết nồi phở - dẹp ! chiều hoặc mai nấu bán tiếp. Khi nào hết nồi cơm, nồi bún là dẹp, đóng cửa tiệm luôn, chả cần phải đợi đến 8, 9 giờ tối hay khuya lắc khuya lơ. Chả ai buôn bán 24/24 như xứ cờ Hoa. Làm thế thì còn thì giờ chó đâu để đếm tiền, đã thế càng làm càng phải đóng thêm thuế má. Khùng điên cả lũ !

Tháng mười khi hoa Dã Quỳ - có người gọi là Cúc Quỳ - rộ nở thì trời Đà lạt sẽ hết những cơn mưa phùn, kéo dài và lạnh. Năm nay vì thường hay có trận bão nhỏ đi ngang, cho nên trời Đà Lạt "sáng nắng chiều mưa" bất chợt. Mấy hôm lái xe chạy tứ tung, nhất là vì mặc áo không đủ ấm cho nên hôm nọ tôi bị cảm lạnh, nằm trùm mền ngủ ly bì nguyên cả ngày chả ăn uống gì trừ tô cháo sáng hôm sau. Không thuốc men gì cả ngoài chuyện nhờ vợ "beat the wind" (cạo gió) rồi đi ngủ, để cho cơ thể nghỉ ngơi, không phải lo vấn đề tiêu hóa, chỉ dùng sinh lực có sẵn để chống lại bệnh tật. Tôi không thích mình phải bị lệ thuộc vào bất cứ thuốc men nào, nhất là thuốc tây, luôn đi kèm theo đủ loại dị ứng - cho những loại bệnh mà cơ thể mình tự nó đã có sức đề kháng.

Sau hơn một ngày nằm ngủ say sưa, sáng hôm sau tôi đã vác cái ba lô, cưỡi lên con ngựa sắt lên đường chạy rông, buổi chiều còn bị mắc mưa nữa chứ, vậy mà tôi thấy mình chả sao cả, có lẽ con vi khuẩn "cảm lạnh" đã bị hóa giải, thuần thục bởi cơ thể tuy đã và đang bị lão hóa một cách vô tội vạ.

Cõi đời này vốn đã là chốn tạm bợ, chứ chả riêng gì "Đà Lạt - Chốn Tạm Dung". Sở dĩ tôi nêu đặt tên cho cái tựa chỉ vì hơn 40 năm về trước, trong lúc phiêu lưu dừng chân ở thành phố mờ sương này, tôi đã nghiệm ra cái phù du, chẳng thật của kiếp người. Một người, trong một đám triết gia nặng máu khùng của thời đại, ai cũng trên dưới 30, trừ một tên nhóc tì như tôi, hắn cười cười đánh rắm một cái, rồi tuyên bố : "Cái này cũng ảo tuốt !". Có nhiều giấc mơ, thật kinh hoàng, khiếp sợ khiến ta phải choàng tỉnh dậy, và mừng thầm vì biết đó chỉ là một cơn mơ, một ác mộng có thế thôi. Người ta chỉ chú ý hay thích thú ngồi nghĩ lại giấc mơ ấy nếu có thể. Mai này, khi tôi chợt bừng tỉnh dậy trong một thế giới nào đó, có lẽ tôi cũng sẽ có cái cảm giác giống như thế. Hóa ra cuộc đời này cũng chỉ là một cơn mộng chẳng lành - không hơn, không kém.

Bởi vậy, ai đang "ước mơ" hoặc mơ ước về một điều gì thì cứ việc tha hồ làm, vì tận cùng, đây chẳng qua cũng chỉ là một giấc mơ thôi; nhưng - vì giấc mơ thường hay ngắn ngủi, chẳng biết bao giờ mình sẽ bất ngờ "choàng tỉnh" dậy, cho nên hãy làm ngay, đừng có lơ tơ mơ, chần chừ, chọn những giấc mộng quá ngắn, quá tầm thường. Chẳng hạn như đứng trước rạp Hòa Bình, chả biết mình nên vào xem phim "Sơn Đẹp Trai" hay "Tiên Nữ Không Kiêng Cũ", phim nào cũng chỉ giúp mua vui được một, hai giờ; một thứ ảo lồng trong ảo tưởng, ai đã từng xem bộ phim "The Matrix", hẳn sẽ hiểu rõ cái cảm tưởng này.

Guốc-bai Đà Lạt, Hế Nô Sàigòn.
Oct 12, 2015 SVT


Về đầu trang

ĐÀ LẠT - Chuyện Tình của BBH & MQ

Trần Văn Sanh

Tối hôm thứ tư, PMC gọi, bảo sẽ mời cả bọn đi ăn sáng, hẹn nhau 8 giờ sáng ở quán cà phê Nhật Nguyệt - trên con đường Trần Lê. Ngay hôm sau, tôi quên khuấy mất là Cường đã dặn là sẽ có tiết mục "än sáng", phần còn gói xôi ngày hôm trước mua về chưa ăn kịp và sẵn đói bụng, nên tôi đã "vô tư" sực phàn hết gói xôi; đến nơi thấy mọi người hầu hết trước mặt đã có mỗi người một tô bún - nếu không phải là tô Mì Quảng thì lại là tô Bún Bò Huế - bốc khói nghi ngút.

Phải nói rằng có lẽ chỉ ở Đà Lạt, mà ngay chính dân tình ở đây, chẳng mấy ai biết câu "Chuyện Tình của BBH & MQ". Nghĩa là cứ bước vào một quán ăn nào có bán món Mì Quảng, đương nhiên và chắc chắn 99% là phải có món Bún Bò Huế đi cùng, cứ như là một cặp tình nhân đời đời đi đôi, mãi mãi gắn bó với nhau trên nhiều ngã đường của quê hương đất nước, nhưng nhiều nhất có lẽ chỉ ở Đà Lạt. Bảo đảm là khi đọc cái tựa đề của bài này, dám chắc nhiều người sẽ gãi đầu gãi tai, thắc mắc "mình ở Đà Lạt đã lâu (hay cả đời), sao chưa hề nghe nói gì về chuyện tình này cà?". Giờ thì biết tỏng ông cụ rồi chứ gì?

Kể dài dòng văn tự như thế cũng chỉ vì, tuy hôm đó đã dằn gói xôi trong bụng, nhưng thấy tô Mì Quảng trên bàn và mọi người mời mọc ăn chung cho vui, tôi đành gọi một tô nhỏ ăn thêm cho biết. Chẳng ngờ, một quán cà phê lại bán món Mì Quảng ngon hơn quán ở khu Xuân-An. Vậy là biết thêm một nơi bán Mì Quảng ăn ngon miệng để mai này quảng cáo, giới thiệu cho bạn bè, hôm nào nhỡ có thèm món BBH, chắc chắn sẽ đến quán này thử cho biết, xem có ngon hơn chỗ mình đã từng nếm mùi rồi.

Nếu dùng câu "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" thì không được chính xác cho lắm trong cái hoàn cảnh buổi họp mặt của VHĐL hôm ấy, vì theo phản ứng tự nhiên, không ai bảo ai - Thúy-Hoa, Thu Cúc, và Thu - ba người phụ nữ gom lại với nhau ở một góc để trò chuyện. Phe đàn ông, trong đó có cả "Cô" Thủy, tuy đến hơi trễ nhưng cũng góp mặt với nhóm bạn học cũ.

Tôi vì chưa quen thân với ai cả cho nên thỉnh thoảng chỉ góp vào vài câu, hỏi thăm về tình huống, cuộc sống ở Đà Lạt, nhiều nhất chắc có lẽ là với PMC, vì ngồi gần cạnh bên bạn, hỏi thăm chuyện làm sao để cướp...à không, mở một chương mục ngân-hàng ở Việt-Nam. Phần lớn, tôi nghe Thủy nói chuyện - mà chả biết ai đặt cho chàng cái biệt hiệu "Cô" Thủy, có lẽ tại cái tên "Thủy" nghe không được đực rựa gì cho lắm, cộng với một vài "truyền thuyết" nào đó khiến cho chàng ta bị bạn bè gán ghép cho cái biệt hiệu thật quái ác. Nhưng nói gì thì nói, không ai ngờ sau này Thủy lại cua được học trò của cô giáo - người yêu cũ, trẻ hơn chàng khá xa. Nhưng đời vốn chả ai được toàn hảo, được cái này thì mất cái kia, có vợ trẻ chắc Thủy cũng phải chiều nàng mệt nghỉ.

Câu chuyện đưa đẩy thế nào mà tôi nghe Sơn, Hưng, và Thủy hào hứng, sôi nổi kể chuyện những toa thuốc bí truyền của vua Minh Mạng, những thứ rượu thuốc đại bổ kiểu chồng uống vợ khen. Năm ngoái, trong một chuyến di lịch về miền Tây, ở trong một khách sạn tường vách xây không được kiên cố cho lắm. Một cặp vợ chồng dân Bắc kỳ mà có lẽ ông chồng được uống vài ly rượu loại "cường dương đại bổ". Tối đến nghe tiếng cô vợ cứ gào thét, rít lên câu: "Ối giời ơi! anh giết em, anh giết em", làm hàng xóm phòng bên cạnh mất cả ngủ. Nghe hai vợ chồng vật nhau trên giường huỳnh huỵch và cô vợ thì cứ sung sướng, gào "Ối giời ơi! anh giết em, anh giết em"....khiến ông du khách phòng đối diện cùng hành lang, có lẽ chịu không nổi đành phải hét tướng lên "Có câm mõm không, hay muốn ông giết hết chúng mày bây giờ! ". Chẳng biết có phải vì sợ câu hăm dọa hay tấn tuồng "anh giết em" cũng vừa được hạ màn, chấm dứt đúng lúc, cho nên sự yên tĩnh đã được trả lại mọi người ngay sau đó.

Trừ ông khách bị mất ngủ kia ra, tôi thắc mắc không biết lúc ấy sẽ có bao nhiêu người phụ nữ, người vợ mong muốn được những một màn "giết chóc ngọt ngào" như thế, nhưng sau nguyên một ngày bị anh hướng dẫn viên lùa theo đoàn người như lùa bò, lùa vịt - đi hết chỗ này đến chốn nọ - hai vợ chồng tôi mệt phờ câm, mấy phút sau khi cái vụ "anh giết em" chấm dứt, cả hai cũng đã vội ngáy ngủ khò.

Thủy - PMC - Trung Sau lưng PMC là Hưng & Thu Cúc đang "âm mưu'' bàn chuyện xây cất nhà cửa.

Trước khi cả bọn chia tay - hẹn nhau dịp khác, PMC quả là một người có tánh chăm sóc bạn bè đến nơi đến chốn, mà tôi nghĩ có lẽ nhờ cái đặc tánh tốt này, cộng với tài năng trong nghề nghiệp, đã đưa PMC lên chức Giám Đốc ngân-hàng nhà nước, đó không phải là một điều dễ làm. PMC gọi điện thoại cho cô trưởng phòng kế toán dưới quyền mình ngày trước, dặn cô nàng thấy ai tên TVS đến mượn tiền thì gọi báo công-an ngay lập tức! Đùa chơi thôi, chứ nghe chàng dặn dò cấp dưới cũ của mình, giúp bạn học cũ mở một trương mục, tôi thấy còn yên tâm hơn là một mình khơi khơi vào đưa mớ tiền gửi một nơi lạ hoắc.

Bề gì đi chăng nữa, nghe nói chàng PMC có căn biệt thự rộng hơn 300 m2, cùng lắm thì mình có chỗ đến cắm dùi ăn vạ, chả chết thằng tây nào cả. Xin cám ơn mọi người đã bỏ những giây phút đầm ấm với gia đình để đến gặp hai tên Vịt kiều lạ hoắc sau hơn 42 năm, nhất là đối với tôi, một tên học trò lơ tơ mơ, lười biếng ít đến trường, không quen biết ai mấy. Thôi thì trước lạ sau quen, bây giờ mà không quen thì sau này tôi có về đây cắm dùi, hoặc "lên non tìm động hoa vàng", mà thành phố này có chút xíu "đi dăm phút đã về chốn cũ", không quen ở riết rồi cũng thành quen.

Trưa hôm nay, định gọi điện thoại mời rủ hai vợ chồng Dzung-Dzung sáng mai lên nhà ga xe lửa, ghé tiệm phở Phi Thuyền làm tô phở cho ấm bụng, không ngờ chí mén gặp nhau. Dung gọi trước và rủ hai vợ chồng tôi đi ăn sáng ở khu Bùi Thị Xuân.

Chắc chắn sẽ có thêm chuyện để kể. Giờ thì đến lúc gà phải vô chuồng. Ở Đà Lạt này ăn dễ mà ngủ cũng dễ, không khéo chả mấy chốc mình lại "phát tướng" nhưng chưa chắc sẽ giầu to. Ở đó mà mơ với mộng!

SVT 09 Tháng 8, 2015


Về đầu trang

ĐÀ LẠT SAU CƠN MƯA

Trần Văn Sanh

Sau khi chụp tấm hình sáng nay - để mọi người xứ khác biết - không khí và thời tiết, tình hình cho tầu chạy ven biển... ở Đà Lạt. Đang ngồi viết chơi dăm ba hàng, chờ vợ chồng thằng em thức dậy, thì nắng đã lên làm nhớ bài hát Mưa Hồng của TCS:

Trời ươm nắng cho mây hồng Mây qua mau em nghiêng sầu Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm Mây âm thầm mang gió lên Người ngồi đó trông mưa nguồn Ôi yêu thương nghe đã buồn Ngoài kia lá như vẫn xanh Ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng ...

...

Người ngồi xuống xin mưa đầy Trên hai tay cơn đau dài Người nằm xuống nghe tiếng ru Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ.

TCS Tôi dậy sớm từ lúc hơn 4:30 sáng - vì tối hôm qua chưa 9 giờ tối mà đã đặt lưng nằm ngáy ngủ mất đất - cho nên (lại) đói bụng khi nghe câu cuối của bài hát - & nghĩ đến lời yêu cầu của HMS ăn dùm 1 tô Mỳ Quảng cho cô nàng - khi không bỗng trở thành thực tế:

"Nồi Mỳ Quảng có bao nhiêu mà ta chờ..." Thôi, chắc phải dựng đầu vợ chồng thằng em dậy, rủ tụi nó đi ăn sáng, không thì Đà Lạt lại "mây âm thầm mang gió lên", hết cha đi ngày tháng. Đã thế, Nhất-Anh còn nhắn, nhờ vác ô đi dùm dưới cơn mưa bụi, cứ thể như là "còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm". Sao toàn là những người muốn ké chuyến đi hồi hương Đà Lạt của mình, mà chả ai thèm in tiền đưa cho mình đồng xu nào. Rõ chán.:) SVT


Về đầu trang

ĐÀ LẠT - Ngôi Thánh Đường Kỷ Niệm

Trần Văn Sanh

Sáng Chủ-Nhật dậy thật sớm để đi dự lễ lúc 5:30 ở nhà thờ chính tòa, ở đây nôm na thường gọi là nhà thờ con gà - mà nhờ đó lần đầu tiên được trực tiếp nghe tiếng hát của ThuHương, giọng cao vút, trong sáng và thánh thót như bài thánh ca. Nếu chỉ cho nghe giọng hát, tôi dám chắc chẳng mấy ai sẽ ngờ rằng đó là giọng của một "Lão Bà Bà" tuổi 6X - mà có lẽ giọng của Ngọc-Sương - chị em song sinh của Thu-Hương - cũng y hệt như thế, vì tôi đã từng nghe qua những bản nhạc do Ngọc-Sương thâu gửi trước đây cho bạn bè.

Khung cảnh bên trong nhà thờ, nhìn chung không mấy gì thay đổi, đổi thay chăng là lớp tường sơn vôi mà có lẽ nhà thờ nay nhờ tài chánh nhờ dồi dào hơn trước cho nên đã được sơn phết thường xuyên hơn, trông như vừa mới trang điểm để đón mùa Giáng Sinh năm trước; dàn âm thanh với những chiếc loa hiện đại gắn trên những cột nhà thờ, cùng với những màn ảnh, chiếu lên với nhiều bài thánh ca cho giáo dân đọc và theo dõi, khỏi phải sột soạt lục lạo, tìm kiếm với những quyển sách lễ được in ra theo từng mùa.

Tất cả xem như mới nhưng tâm hồn tôi lại phảng phất hình ảnh, kỷ niệm của ngày đầu tiên bước vào ngôi thánh đường này cách đây hơn 42 năm về truớc.

Đó là lần đầu tiên tôi muốn đi lễ ngày Chủ-Nhật, sau bao năm trời mải ngông cuồng, trong cơn lốc ăn chơi, hoang đàng đã tạm dẹp cả Chúa qua một bên huống chi là gia đình. Đôi lúc chạnh nhớ, tôi nghĩ có lẽ những lúc cô đơn nhất trong đời, không còn biết ai để trông nhờ, nương tựa trong phương diện tâm linh, cho nên tôi mới tìm về với Chúa. Vì mới lên Đà Lạt, tôi không biết nhà thờ ở đâu cho nên hỏi dì X., dì của người bạn đã rủ tôi lên chơi Đà Lạt, cũng là người cho tôi tạm trú trong khi đi tìm một chỗ để thuê phòng.

dốc Nhà Làng - hay còn gọi là dốc Nguyễn Biểu Nhà dì X. nằm dưới con dốc Nhà Làng, trong tấm hình trên thì cuối dốc quẹo trái và căn nhà đầu tiên phía bên phải. Từ đây đến nhà thờ chánh tòa (trên con đường Trần Phú) chỉ khoảng hơn một cây số đường chim bay, nhưng phải mất hơn 2 km đi lòng vòng lên đồi xuống dốc bằng cách lần mò theo con dốc Ngọc Lan, đi băng qua ấp Ánh Sáng để tới cầu Ông Đạo, rẽ phải rồi leo con dốc Lê Đại Hành để đi đến nhà thờ. Dì X. lúc đó thường hay bận với một cửa hàng ở duới chợ Đà Lạt cho nên đã nhờ người cháu gái tên M., là em họ của thằng bạn - đưa tôi đến nhà thờ. M. thuở đó đang học lớp đệ Tam trường Bùi Thị Xuân, nhưng sau đó nghe nói vì nhà đông em nên M. phải nghỉ học để phụ mẹ trông hàng bán áo len ở dưới chợ Đà Lạt.

dốc Nhà Làng, lối xuống con đường Phan Đình Phùng.

Trên đường đi, tôi chỉ hỏi M. về những chuyện lông bông, nhất là về chuyện đời sống ở Đà- Lạt như thế nào. Chẳng biết vì lý do gì mà sau hơn 3 năm trời trong chốn ăn chơi, quen nói năng ba bựa, thẳng thừng với con gái, tôi nhớ hôm đó khi không lại im lặng, ít nói - lại càng không thích lối tán tỉnh, chọc ghẹo như từng đối với con gái ở Sàigòn; tôi hỏi thăm qua loa gia thế M. và đôi lời phê bình về phong cảnh, không khí ở đây đã khiến tôi thật dễ chịu, mang cảm tưởng an thật an bình. Sau buổi đi lễ hôm đó về, tôi bị cơn say nắng nên trở ốm, bệnh nằm ngủ ly bì cả hơn hai ngày. Dì X. thấy tội nghiệp cho nên bảo M. nấu cho tôi nồi cháo trắng với hành lá, ăn với muối tiêu cho giải cảm. Cũng nhờ lòng tốt và sự chăm sóc của M., tôi cảm thấy mến người con gái Bắc này có dáng cao, gầy và nét mặt vừa lãng mạn, vừa bơ đời như nữ tài tử Julie Christie trong phim Dr. Zhivago. Đối với tôi, tình yêu lúc đó chỉ là thứ tình cảm trừu tượng, ảo giác chứ không thật, mà có lẽ sau những năm từng đi chơi, va chạm với những người con gái ăn chơi, buông thả, cho nên tôi đã một phần vội vơ đũa cả nắm, coi thường tất cả. Kỳ thực là trong tôi đã mong muốn một tình yêu chân thật, toàn hảo và bất diệt; thứ mà tôi cho là khó có thể tìm thấy ở loài người, trong nhân loại. Vâng, lúc bấy giờ tôi lắm bi quan, nhiều thái độ tiêu cực về cuộc đời nói chung và về con gái nói riêng.

Cuộc đời cũng khá ngộ nghĩnh, câu niệm chú "theo tình tình phớt, phớt tình tình theo" mà cả con trai lẫn con gái trong tuổi yêu đương, ai cũng từng nghe hay nói đến ít nhất một lần.

Nhiều lúc tôi chẳng biết có phải vì bộ mã của mình "trông sạch nước cản" - câu phê bình, đánh giá về tôi do người bạn gái của những thằng bạn kể lại - hoặc tại vì cái tánh lừng khừng, thường phớt lờ lời tán tỉnh của những người con gái trong buổi tiệc dạ vũ, lúc đi nghe nhạc, uống cà phê chung với nhau. Tôi càng lơ tơ mơ với họ bao nhiêu thì họ càng chú ý đến bấy nhiêu. Đối với M., tôi chỉ mến nàng như một người bạn gái tri kỷ không hơn, không kém. Nhất là tuy M. chỉ kém tôi 2, 3 tuổi - nhưng tôi thưỏ ấy đã tự coi mình già như ông cụ non; vài nàng ở Sàigòn lớn tuổi hơn tôi, và học bậc Đại Học, thế mà khi nói chuyện tôi cảm thấy họ vẫn khớp, tư tưởng nhiều ngây ngô; ý nghĩa còn thành thật về cuộc đời, huống gì M. - một cô gái tỉnh nhỏ.

Mới đó mà gần nửa thế kỷ trôi qua, gia đình dì X. đã di tản sang Hoa Kỳ từ lâu, người con gái tên M. cũng đã thoát khỏi Việt-Nam trong cùng thời gian và định cư ở Florida, nghe nói đâu là làm chủ nhà hàng rất thành công. Lần cuối cùng tôi lien lạc với M., đó là ngày tôi nhận được một cuốn băng (khi hệ thống dĩa CD chưa ra đời) thâu bản nhạc sáng tác từ một bài thơ tôi đã gửi tặng M. từ ngày còn ở Đà-Lạt. Tuy đã đoán biết trước, nhưng tôi vẫn không ngờ rằng tâm hồn của M. lãng mạn hơn tôi đã tưởng. Tôi hy vọng rằng ít ra, M. cũng đã có một kỷ niệm đẹp của một thời còn con gái, như lời nhắn nhủ trong bài Không Tên Số 2 của VTA: "đời một người con gái đến khi lấy chồng, chỉ còn mối tình mang theo". Mãi đến gần cuối thập niên 80s, khi gia đình và công việc đã tạm yên ổn, tôi mới có dịp ngồi viết lại những khoảng thời gian gây nhiều cảm xúc nhất mà tôi gọi đó là "Ngôi Thánh Đường Kỷ Niệm" khi tôi còn ở Đà Lạt. Bài "Đêm Giã Từ Phố Núi" mà tôi gửi cho tờ nguyệt san Văn - sau hơn 15 năm không cầm bút - đã được Mai Thảo cho đăng ngay; và từ đó cũng đánh dấu ngày tôi giao lưu với nhà văn mà tôi từng đã ngưỡng mộ, thưỏ còn tập tành viết lách cho tờ Tuổi Ngọc của Đinh Tiến Luyện khi mới lên Đà Lạt.

Ngược dòng quá khứ, hôm trước - thứ bẩy Dung gọi điện thoại, bảo rằng hai vợ chồng Dung muốn mời tôi với bà xã đi ăn sáng ở quán Thiên-Hương trên đường Bùi Thị Xuân nhìn ra hồ Xuân Hương. Ai ngờ cô chủ quán lại là con gái của Dung & Dũng.

Vợ chồng tôi được đãi một chầu Bún Bò Huế thật ngon do chính cô chủ nấu và thưởng thức ly cà phê đúng chuẩn, vị Đà Lạt. Dung kể lại là đầu tháng Tư năm 75, bốn chị em Dung cũng đã theo đoàn người di tản về đến Sàigòn, nhưng khi xuống đến Nha Trang thì thất lạc với tên anh họ là Hoàng Như Sơn. Nếu không có cớ sự này, biết đâu mấy chị em Dung cũng đã theo gia đình tôi xuống tầu, như bố mẹ của Sơn - sang Mỹ trong đêm 27 tháng Tư năm đó.

ăn sáng với vợ chồng Dũng & Dung Dung hỏi tôi đã liên lạc với Chi, một nhóc tì hàng xóm, cũng là bà con của Sơn. Tôi bảo rằng thứ Năm vừa rồi gọi nói chuyện thì Chi đang đi du lịch cùng với sở, cho nên tôi hứa sẽ ghé thăm thím Giảng - mẹ của Chi - ở khu Phạm Hồng Thái. Ngày xưa, ba của Chi là tài xế riêng cho Tỉnh Trưởng Nguyễn Hợp Đoàn, mà chú Giảng chỉ cần ngỏ lời xin một tiếng, thì gia đình Chi đã có thể làm chủ một miếng đất lớn có giá trị ở khu Địa Dư, nhưng giống như con người cao lớn, tánh tình chân thật và thẳng thắng của chú. Đến bây giờ thím Giảng cũng chỉ "may mắn" vẫn sở hữu được căn nhà trên miếng đất ngày xưa chú thím đã bỏ ra hơn 2 ngàn đồng tiền VNCH để mua thời đó.

Trong tấm ảnh trên, bạn cứ tưởng tượng rằng căn nhà có mái tôn cũ kỹ, rỉ sét với cánh cửa sổ mầu xanh này như thế nào thì căn nhà của Sơn với tôi đã từng sống cũng chẳng khác chi là bao. Phía sau lưng vẫn còn con đường mòn, lối đi tắt lên nha Địa Dư - có mái ngói gạch đỏ nằm phía bên trái. Rẽ phải thì đến nhà ga xe lửa, mà cách đó chỉ vài bước là quán phở Phi Thuyền - một thời đi học ngang qua trong lúc đói bụng ngửi mùi phở thì quả là một sự cám dỗ đầy mãnh lực.

Tôi nhớ mãi mấy hôm trời tối không trăng, bé Mai - em gái của Dung - ghé sang nhà Sơn rồi mải chơi quên trời quá chiều. Lúc về con bé sợ ma, sợ chó cắn nên tôi phải lội bộ đưa nó về.

Sáng hôm nay, sau hơn 41 năm không gặp, vậy mà vừa thấy tôi, cả thím Giảng và Lan - em của Chi - cũng đã nhận ra, bảo tôi tuy có già đi nhưng nét mặt vẫn không mấy đổi thay, dáng dấp vẫn còn bụi đời như cũ. Dĩ nhiên, ai lại đi nói tôi ngày xưa gầy ốm như tên hút xì-ke, nghiện ma túy - trong khi tôi mới đây đã có người nói "trông bụng chú có vẻ bự hơn năm ngoái!".

Thím Giảng - dân ở đây hay gọi là thím Ngoan, tên cúng cơm của thím trước khi lấy chồng - rất siêng đi lễ ở nhà thờ chính tòa; vì thế thím - mà ngay cả Chi cũng thế - ai cũng biết "Lão Bà Bà" Thu-Hương. thím Giảng nay đã hơn 81.

Chuyện, dân Công Giáo hay đi lễ mà không biết Thu-Hương thì chưa hẳn là dân ngoan đạo, hay đúng hơn là cực kỳ...cù lần nhất Đà Lạt. Nói chuyện không được bao lâu thì Lan phải đưa thím Giảng đi lễ, công việc mỗi ngày của thím bây giờ chỉ có thế, gần Chúa thêm một chút khi con cái ngày càng dần xa mình vì công ăn việc làm và đời sống bận rộn.

Trong lúc để vợ mình trò chuyện với thím Giảng bên trong, tôi khẽ bước ra ngoài - đứng nhìn khung cảnh xung quanh, cố gợi nhớ lại những hình ảnh xa xưa nay đã dần dần xóa đi bởi những kế hoạch, công trình dự án của nhà nước. Sát bên cạnh nhà của thím Giảng là căn nhà cũ của Sơn, nay đã được phá đi, thay vào đó là căn nhà với bốn vách tường gạch xây kiên cố. Cái thằng Sơn khỉ khô, ma mãnh; nhà vách gỗ nhiều khe hở nên đêm thường có gió lùa vào lạnh tê tái. Ít khi nó chui vào giường trước tôi - hai thằng ngủ chung trên tấm phản rộng trải tấm nệm mỏng, mà nó thường viện cớ học khuya, đợi tôi vào nằm để sưởi cho chăn nệm ấm rồi chập sau nó mới chịu chui vào ngủ.

Nhìn ngọn đồi phía trước mặt mà ngày xưa là một rừng thông, đầy bụi rậm và cỏ mọc cao gần đầu người, nay là những căn nhà xây hai, ba tầng; và nghe Lan kể, trong nay mai nơi đó sẽ là khu chung cư, những dẫy nhà liên kế nằm hai bên một con đường nhỏ ở giữa. Quả là vật đổi sao dời, đời người như gió thoảng mây bay. Ngôi thánh đường kỷ niệm trong tôi rồi cũng sẽ theo thời gian và trí nhớ nhạt nhòa trong tâm tưởng, còn lại chăng chút gì là kỷ niệm cho những ai mà tôi từng đã một thời ghé ngang qua trong cuộc đời của họ.

Khói sương mây mù làm ta nhớ những mảnh trời riêng đã trôi qua hơn sáu mươi năm mà cứ ngỡ đời thoáng như mơ quả thật là.

SVT 08/13/2015


Về đầu trang

ĐÀ LẠT - Những Hình Ảnh Đời Thường

Trần Văn Sanh

Thấy bác Nông Dân nhà mình mấy hôm nay đã vung cuốc, hồ hỡi kể chuyện gặp gỡ bạn bè vui như hội & nhiều tình tiết cảm động. Tôi gửi lại đây vài hình ảnh của Đà Lạt trong mấy ngày qua cho bạn xem chơi cho đỡ...vui.

Đà Lạt bây giờ vào mùa cưới, cho nên hôm qua ra đường thấy một đám xe hoa ở ngõ Xuân An, nhìn gia đình và chàng chú Rể đứng xếp hàng chuẩn bị lên đoạn đầu đài...à quên, vào rước dâu, tôi nghĩ đến giây phút hồi hộp của những tân lang, trong khi đó tân nương thì lại hồi hộp chuyện không biết hôm nay áo cưới mình có lộng lẫy, người ta trang điểm mình có đẹp hay không. Thôi, cứ mơ đi mấy em, mấy cháu. Mai mốt rồi sẽ thành khỉ già hết cả đám.

Úi chầu! hóa ra mình đã là khỉ già từ hồi nào vậy cà?

Hai hôm trước đi xem nhà, xem đất - tình cờ đi ngang qua con đường An Dương Vương thấy quán nhậu đông người, không biết quán tên gì và bán món ăn nào tuyệt chiêu nên đông khách như thế. Hôm qua có dịp đi lại con đường cũ, bảo thằng em dừng lại chụp một tấm là kỹ nghệ. Thực tình, bộ hết tên hay ho rồi sao mà lại đặt tên quán là "Cu Tây". Nhưng vô tình cũng cho tôi một sáng kiến, mai này nếu mở quán nhậu ở Đà Lạt, mà ở đây thì hay mưa, trời luôn khóc sướt mướt, ra đường mà không có "cu dầy" là coi như ướt mem. Lấy "Cu Dầy" làm tên quán ăn, bảo đảm thiên hạ sẽ vừa ăn vừa cười khúc khích. Chưa hết, thằng em kể một quán ở Sàigòn trong thực đơn có món "Chim Càng Lúc Càng To", tò mò gọi thử thì hóa ra, ban đầu họ bưng ra món chim Sẻ nướng, món kếp tiếp là Chim Bồ Câu, rồi đến Chim Cút và cuối cùng là gà rô ti. Nghĩa là những loại chim từ nhỏ đến lớn. Ai nghĩ ra tên cho cái món ăn quái chiêu này quả thật là...tửng hết nói. Đáng là sư phụ của tôi.

Nói chuyện quán ăn, coi bộ chuyện làm ăn buôn bán ở VN hình như nhiều người chỉ cần đủ để sống, chẳng hạn như quán Bánh Căn ở khu Xuân-An này, chỉ bắt đầu mở vào khoảng 4, 5 giờ chiều và cỡ 8 giờ tối đã dẹp bàn, dẹp ghế mất đất. Hỏi một quán bán phở ở quận Nhất, gần nhà ở Sàigòn cũng thế - 10 giờ sáng là đã cuốn gói đóng cửa. hay là quán Bún Bò Huế trong một cái hẻm ở Đà Nẵng, đến trễ cờ 9 giờ sáng là coi như tiêu tùng, bụng đói ra về. Chả bù với ở bên Mỹ, làm quần quật từ sáng cho đến tối, tuần bẩy ngày - thu tiền cho cố rồi để cúng cho ông kẹ Thuế Vụ (IRS), cuối đời cũng chổng mông trong 6 tấm ván.

Đà Lạt đi dễ khó về trai đi có vợ, gái về có con...

Câu ca dao truyền tụng này ngày xưa tôi thường nghe và coi thường, làm quái gì có chuyện đó. Ai dè, trời phạt kẻ "vô tín ngưỡng" nên mắc nợ một con dân của Đà Lạt hơn 42 năm nay & dài dài. Đã vậy còn thêm 4 thằng cục nợ, cho nên thèm đứa cháu gái. Hôm nọ ra chợ thấy một con bé, chắc biết phó nhòm khoái mình cho nên cũng làm điệu đứng chụp cho một tấm mà ui cha ơi, xinh từ mắt, mũi, miệng - nên chụp một tấm về ngắm chơi. Giá mà có đứa cháu gái như thế thì thằng LOGAN - mà cả thằng em sắp ra đờì của nó - sẽ bị xuống giá là cái chắc. Bảo đảm cô công chúa bé tí này lớn lên sẽ làm bao nhiêu con tim của Đà Lạt rung động, và biết đâu có nhiều chàng sẽ trở thành một nhà thơ, nhà văn - sau khi đã chết lên, chết xuống, lăn lóc đau thương qua bao con dốc, đỉnh đồi của ái tình...

Thôi đến giờ phải đi ăn, hơn 6 giờ sáng rồi chứ sớm gì, mà bụng đói nên chữ nghĩa cũng đi đoong cha nó rồi...

SVT


ĐÀ LẠT TRONG TÔI - Xưa và Nay

Trần Văn Sanh

Như thường lệ, sáng nay dậy sớm nằm lười lĩnh trên giường xem tin tức, biến chuyển quanh thế giới. Khi chiếc màn gió che cửa sổ có chút ánh nắng rọi chiếu, hé màn nhìn ra ngoài - tôi thấy bình minh đã lên cao phía bên kia ngọn đồi nên vội vàng lấy máy ảnh, làm vài pô để ghi lại cái khoảng khắc ánh sáng và những vần mây báo trước cho một ngày - hay ít ra một buổi sáng - thật tuyệt vời để đi dã ngoại, ngắm thắng cảnh của Đà Lạt.

Hôm qua sau bữa ăn sáng, hai anh em rủ nhau ra quán cà phê Hà Linh, nằm trên con đường Hồ Tùng Mậu - nhìn xuống hồ Xuân Hương, tháp tùng là hai phu nhân đi theo để cản đuờng, hoặc làm kỳ đà cản mũi những con "nai vàng không chính hiệu" biết đâu đến phá đám. Nói cho xôm tụ, để tưởng tượng rằng mình vẫn còn ngon, còn phông độ có vậy thôi, chứ cỡ tôi vài tháng, vài năm nữa leo dốc còn không nổi, đèo bồng thêm chi cho nặng vai.

Nhìn khung cảnh quanh hồ Xuân Hương ở phía dưới đang lúc nhâm nhi ly cà phê đen, hình ảnh và kỷ niệm của những thập niên trước đó thỉnh thoảng vẫn hiện về mỗi khi tôi trở lại Đà Lạt. Những ngày tháng đầu tiên khi mới lên Đà Lạt, sáng sớm nào tôi có cái thói quen đi dạo một vòng hồ Xuân Hương, sau khi đã làm một tô phở và ly cà phê sữa cho ấm bụng ở một quán nhỏ trên con dốc Ngọc Lan, ngồi nhìn xuống bờ hồ. Trong lúc đi dạo, không hiểu sao tôi vẫn thường hay hát khẽ cho mình hai bài mình ưa thích nhất, đó là bài "Bên Cầu Biên Giới" do Khánh Ly và bài "Cô Láng Giềng" với giọng trầm ấm và truyền cảm của Sĩ Phú, chẳng qua là vì cả hai đều gợi cho tôi cái cảm xúc của kẻ tha phương, giang hồ xa xứ một hôm bỗng dừng chân trở về chốn cũ. Lúc em tôi hỏi hồ Xuân Hương có phải thực sự là thiên nhiên hay nhân tạo. Dĩ nhiên đây là hồ tạo nên bởi thiên nhiên, nhưng tôi kể cho nó nghe chuyện ngày xưa, có một du khách từ đâu đến thấy tôi di dạo bên bờ hồ, tưởng là dân địa phương nên tò mò hỏi câu tương tự. Tôi tỉnh queo trả lời là ban đầu đó chỉ là một cái vũng nước nhỏ, nhưng có một người vì rớt vài đồng xu nên đào bới lên tìm kiếm, đào riết nó trở thành cái hồ Xuân Hương to đùng như ngày nay. Nếu bảo cái người mất tiền đào ao ấy là dân gốc Do Thái, nhiều người sẽ hiểu ngay đó chỉ là câu chuyện bịa đặt, nói dóc cho vui.

Những người tha hương như Sơn nay trở về quê cũ còn có những kỷ niệm của thuở ấu thơ, vẫn còn căn nhà từng nuôi mình lớn khôn và bao người thân, bạn bè thuở xưa để giúp họ sống iại một thời vàng son của tuổi thơ, tuổi trẻ. Riêng tôi, tôi chỉ còn nhớ lại những gì mình đã suy ngẫm về cuộc đời, toan tính cho mai sau mà nay đã hơn bốn thập niên về trước.

Ngày đó, tôi chỉ biết rằng mình chỉ mơ một giấc mộng rất bình thường, đó là nghề gõ đầu trẻ, buông bỏ những khát vọng bước chân vào con đường chính-trị mà nếu dấn thân, tôi biết mình sẽ phải dùng những chính sách, thủ đoạn phải làm - cho dù đó là vì chính nghĩa, vì dân tộc - nhưng sẽ rất tàn khốc, trái ngược với trái tim mà tôi đã dâng cho Chúa.

Ngày hôm nay, trong giây phút lặng im ngồi đây nhìn khung cảnh rất quen thuộc, thân thương, có lẽ chẳng ai biết rằng tôi đã và đang nghĩ gì, không như tình cảm của những du khách hay kẻ hồi hương nay trở về để tìm chốn yên vui ngày cũ. Tôi ngồi ở quán cà phê mà tâm tư đang sắp xếp lại những biến động xẩy ra gần đây, chẳng hạn như vụ đại tướng Phùng Quang Thanh - Tổng Tham Mưu trưởng của quân đội XNCHVN vừa mới trị bệnh trở về, một cái cớ để nhà nước thay đổi lãnh tụ, chuẩn bị cho một thế cờ mới. Đi cùng với chuyện này đó là trên mạng mấy hôm trước đăng hình ảnh xe tăng, đại bác trên bao nhiêu toa xe lửa được vận chuyển về miền Trung; tin dân Cam Bốt được một vài dân biểu QH của họ dẫn đầu gây loạn ở biên giới vùng An-Giang. Mới đây hơn, tin đồn sẽ có lệnh Tổng Động Viên (TĐV) ban hành trong nay mai. Chuyện thật hay chăng để hạ hồi phân giải, nhưng ít nhất điều này (tin TĐV) cũng có thể là cách để "nhắn tin" cho phương Bắc là Việt-Nam sẽ sẵn sàng đối đầu vì lẽ sống còn của dân tộc.

Hơn bốn năm nay, mỗi năm nhiều người trên thế giới càng thức tỉnh, họ càng nhận thấy đa số tựa như giống ếch ngồi trong nồi nước đang nấu, mà người ta từ từ tăng dần mỗi ngày cao lên 1 độ, cho đến khi chỉ cần tăng thêm một độ nữa thôi, nước ấm sẽ bốc nhiều hơi nóng khiến con ếch thức tỉnh và sẽ phải phản ứng. Chung quy, thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng - quanh quẩn cũng chỉ xoay quanh một trong ba cái viễn ảnh đen tối có thể xẩy ra sau khi người dân đã bừng tỉnh:

a) Mad Max - ai từng xem phim này năm 1979 có lẽ sẽ hiểu.

b) Civil War II giống như nội chiến lần II của Mỹ, hoặc như cuộc cách mạng Pháp 1789.

c) Thế chiến thứ III d) Tất cả ở trên.

Nghĩ về những bất trắc ở tương lai, tôi bỗng ví mình muốn được giống như "Chàng Dũng Sĩ" trong bài thơ năm xưa, chỉ muốn tìm nơi yên tĩnh để suy ngẫm trong những tháng năm còn lại, nên sực nhớ tới miếng đất năm ngoái thấy để biển rao bán, nó nằm giữa hai căn nhà trong tấm hình trên, chiều qua tôi lang thang đi dạo khu Xuân-An, tạt ghé qua xem rằng nay đã bán hay vẫn còn. Ai ngờ phía đối diện bên kia đường, năm ngoái tôi thấy đang làm một công trình xây dựng trên một mảnh đất thật lớn - có lẽ trên cả 1000 mét vuông - tưởng đó sẽ là những căn biệt thự hay dẫy nhà liên-kế (townhouse), ai dè đây lại là khu vui chơi giải trí cho con nít và tuổi trẻ, đã thế lại ong ỏng giọng hát của "mợ" Đàm Vĩnh Hưng, hát cho cả xóm nghe từ sáng đến tối. Năm ngoái mà nổi hứng bỏ tiền ra mua miếng đất này thì bây giờ có mà dở khóc, dở cười.

SVT 01 Tháng 8, 2015

Về đầu trang

Powered by SmugMug Log In